Tài liệu Bằng cấp MBA quan trọng hay không? Xu hướng MBA thế kỷ 21 (Phần đầu) - Pdf 10

Bằng cấp MBA quan trọng hay không? Xu
hướng MBA thế kỷ 21 (Phần đầu)

Trong một thế giới đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xác định được
những mối quan tâm của tất cả các cổ đông thì chúng ta phải định hình lại việc đào
tạo quản lý trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết. Thế giới doanh nghiệp cần đào tạo và phát
triển kiểu nhà lãnh đạo nào? Trong một thời đại của việc đánh giá cá nhân xuất sắc
ngang nhau cùng sự cạnh tranh toàn cầu đang tăng lên thì họ có nên là những người
liều lĩnh được đền đáp hoàn toàn xứng đáng trong việc tập trung vào vấn đề quan
trọng không? Hoặc, trong sự khuấy động của những vụ scandal đòi hỏi có sự công
bằng cá nhân để vượt qua những cạm bẫy trước mắt thì thế hệ mới của các nhà lãnh
đạo có nên tập trung vào việc phát triển tinh thần đồng đội và tổ chức nội bộ nhằm gia
tăng thêm lợi nhuận cho các cổ đông không? Những câu hỏi này là một mối quan tâm
cho bất kỳ nhà lãnh đạo doanh nghiệp có suy nghĩ chín chắn đồng thời trở thành
những câu hỏi thiết yếu cho các nhà đào tạo kinh doanh.

Những trường kinh doanh trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với nhiều
vấn đề phức tạp. Những lời chỉ trích về chất lượng giảng dạy đang càng ngày càng gia
tăng. Người ta lên án gay gắt cả về triết lý và phương pháp giảng dạy. Nhiều người
than phiền rằng, các trường kinh doanh đều tập trung một cách thái quá vào một khái
niệm hẹp về doanh nghiệp hoàn toàn được định hướng bằng sự tối đa hóa lợi nhuận cổ
đông ngắn hạn. Họ phàn nàn rằng nghiên cứu ngày càng bị định hướng theo những
yêu cầu xem lại những bài giảng lý thuyết suông hơn là theo những yêu cầu của các
nhà quản lý; các nhà nghiên cứu thì lại tránh việc tìm hiểu sự lộn xộn của rất nhiều đối
tượng ở thế giới thực để thay cho sự hư cấu thật đẹp của những chiến lược nhằm tối ưu
một giá trị riêng hoặc một quan điểm. Các phê bình cho biết: Cuối cùng là một thế hệ
các nhà quản trị doanh nghiệp (MBA) thiếu mất một khả năng phán đoán về cách quản
lý các tập thể trong môi trường đa văn hóa đầy phức tạp của các doanh nghiệp toàn cầu
hiện nay, và họ cũng không nhận ra được hướng đi cho doanh nghiệp phù hợp với cơ
cấu xã hội ngày càng mở rộng hơn. Được xác định để thể hiện được cả ngôn ngữ của
tiếp thị lẫn ngôn ngữ của những môn học lý thuyết, tất thảy các trường kinh doanh

Gốc rễ của vấn đề

Các trường kinh doanh thường vẫn công bố rằng chính họ đang chủ yếu đào tạo
nền tảng cho những người cạnh tranh chiến thắng, những người có thể trụ vững dưới
áp lực lớn và làm được điều để tồn tại trong một hoàn cảnh kinh doanh khắc nghiệt.
Họ vừa thể hiện đáng kể khả năng của mình để đưa ra những người tốt nghiệp có thể
làm việc dưới những điều kiện cạnh tranh liên tục cao cùng áp lực thời gian khắc
nghiệt, được trang bị bằng một khả năng về hành động và niềm tin dứt khoát trong
phân tích từng điểm một của mình đối với bất cứ vấn đề nào.

Các nhà lãnh đạo thiên về lý thuyết đều ủng hộ hệ thống tuyển chọn vòng cung
thông dụng, điều đó chắc chắn rằng chỉ một tỷ lệ phần trăm rất ít các sinh viên trong
mỗi lớp đạt mức A, còn lại hầu hết đạt mức C, và một số thì bị loại, điều này cũng
giống như việc đào tạo dành riêng cho các hệ thống xếp hạng và loại bỏ đang chờ họ ở
nhiều công ty. Các trường kinh doanh đều cố tình đẩy các sinh viên của mình vào
những tình huống mà có nhiều thứ để làm hơn là họ có thể hoàn thành một cách tự tin
nhằm mô phỏng những kiểu áp lức mà họ sẽ phải đối mặt trong sự nghiệp kinh doanh
của mình; nhằm dạy cho họ làm việc khôn ngoan, để biết được khi nào thì “tốt đủ” thì
lại tốt hơn “hoàn hảo”, để biết dành ưu tiên, để biết đại diện và để biết tập trung vào
cái họ thực hiện hoặc họ có thể biết hơn là đi sâu vào cái mà họ có thể cần để hiểu.
Kim Clark, hiệu trưởng chính thức của trường kinh doanh Harvard, đã miêu tả điều
này như một mô hình “mô phỏng chuyến bay” của giáo dục kinh doanh. Chắc chắn
rằng những nét tiêu biểu mà mô hình này cổ vũ là có giá trị, thậm chí là cần thiết trong
nhiều tình huống, nhưng một sự nhấn mạnh quá sức đối với chúng vẫn thường bị coi là
một sự đào tạo MBA tồi.

Một số những lợi ích lớn nhất về kinh nghiệm của các trường đào tạo kinh
doanh trên thực tế đều được bắt nguồn từ những cách mà theo đó nó không giống với
môi trường các sinh viên sẽ tham gia sau khi được đào tạo. Do không đủ mô phỏng
những thực tế của những thách thức kinh doanh chỉ thông qua những tình huống mô

mô hình “các nguyên tắc cộng thêm các phân tích” của việc đào tạo quản lý tới một
tiêu điểm “các nguyên lý cộng thêm sự thực thi”.

Mô hình các nguyên tắc cộng thêm các phân tích dạy rằng các nguyên tắc bao
trùm hành vi tập thể - dù bị áp đặt bằng luật lệ, bằng các đối thủ cạnh tranh, hoặc bằng
sự quản lý sở hữu của ai đó đi chăng nữa – thì đơn giản vẫn là những đè nén cần phải
vượt qua; các công cụ phân tích thể hiện những cách để làm việc trong phạm vi hoặc
liên quan tới bất kỳ những nguyên tắc nào theo cách của bạn để đạt được mục đích
chiến thắng cuộc chơi đầy cạnh tranh nhanh nhất nhất. Mô hình này nhấn mạnh tính
cạnh tranh không thuộc về con người mà theo đó các nhà quản lý sẽ phải chỉ liên quan
mật thiết với ranh giới về pháp luật và đạo đức trong phạm vi có thể - thậm chí phải
vượt qua nó khi họ mong chờ họ sẽ không bị bắt. Điều này khích lệ các sinh viên thể
hiện được học thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith (học thuyết nói rằng những
hành động được thúc đẩy hoàn toàn cá nhân kết hợp theo những cách bất ngờ để nâng
cao chất lượng cộng đồng được nhiều hơn so với những cách giải quyết theo bài bản
đã từng được áp dụng), có nghĩa rằng trong bất kỳ tình huống nào được đưa ra thì họ
không phải xem xét những hàm ý lớn hơn về các lựa chọn của mình bởi vì thị trường
sẽ làm điều đó.

Mô hình các nguyên lý cộng thêm sự thực thi về đào tạo quản lý thì lại ngược
lại, nó bắt đầu bằng những câu hỏi cơ bản về việc tại sao một doanh nghiệp tồn tại
được và nó xây dựng và triển khai được khả năng của mình ra sao. Mô hình này dạy
về những lý do dành cho các nguyên tắc – các nguyên lý cơ bản của chúng và quá
trình phát triển đằng sau sự tạo nên chúng – đồng thời cũng đưa ra thách thức và cơ
hội để thực hành việc ra quyết định trong việc đáp ứng được mục đích mà các nguyên
tắc được tạo ra để đạt được nó. Mô hình này tập trung vào sự chấp nhận về trách
nhiệm nghề nghiệp của cá nhân đối với một sự giao phó lớn hơn đối với sự tốt đẹp của
cộng đồng. Trong mô hình này, như giáo sư Khurana giải thích thì sự lãnh đạo thành
công là một vấn đề thuộc về sự hiểu biết tập thể và cá nhân, sự đánh giá cùng sự tin
tưởng được hun đúc bằng một sự nhận thức mà chính bàn tay vô hình thực hiện chỉ

phương pháp quay chậm. Nó giống như một người tập bơi phải khởi động cơ thể trước
khi lao xuống nước và đạt được tốc độ của mình, vì thế mà các nhà quản lý theo đào
tạo có thể thực hành lĩnh vực của mình trong một lớp học để phát triển được khả năng
ghi nhớ cần thiết cho sự đánh giá được tốt hơn.

Ví dụ, cơ hội sử dụng thời gian một cách có sắp xếp và thực hành những kỹ
năng quản lý với những cơ hội cho “làm lại” chính là nền tảng của một phương pháp
giảng dạy đổi mới đối với việc ra quyết định dựa trên giá trị được gọi là “đưa lại tiếng
nói cho các giá trị”. Được Học viện Aspen và Trường quản lý Yale tài trợ, phương
pháp này đang trở nên thành công trên hơn hai mươi tư học viện toàn cầu. Phương
pháp này liên kết sự thực thi với sự cam kết và sự tự nhận thức cá nhân. Được rút ra
dựa trên những kinh nghiệm thực tế về cả những thực tiễn trong kinh doanh lẫn những
kỹ thuật xã hội về nghiên cứu quản lý, phương pháp đưa lại tiếng nói cho các giá trị đã
lấp đầy được khoảng trống quan trọng và lâu đời trong việc đào tạo kinh doanh bằng
việc mở rộng định nghĩa về những gì có ý nghĩa để dạy về những giá trị và các đạo
đức kinh doanh. Hơn nữa, việc tập trung vào phân tích nguyên tắc theo phương pháp
giảng dạy mới này đáp ứng được những câu hỏi như: Nếu bạn là một nhà lãnh đạo
doanh nghiệp thì bạn sẽ thực hiện điều gì dựa trên các giá trị của mình? Bạn sẽ nói và
làm điều gì? Làm thế nào bạn có thể đạt được hiệu quả tốt nhất? Và chính phương
pháp mới này cung cấp những cơ hội để xây dựng được sự lãnh đạo dựa trên các giá trị
bằng cách đưa ra cho các sinh viên những cơ hội để thực hành khớp với các ý tưởng và
những kế hoạch hành động của họ trước các bạn của mình.

Cổ đông và tính bền vững

Trong suốt thời gian tôi từng được tham gia giáo dục quản lý, các tiêu chuẩn
từng bị bôi xấu là “chỉ mang tính sách vở” về kiến thức quản lý; có nghĩa là sự phân
tách giả tạo và thiếu hiệu quả về kế toán, điều hành, tiếp thị và cả tài chính. Cũng như
thế trong hàng chục năm, có một cách gọi dành được sự chú ý lớn hơn đối với triển
vọng cổ đông đa dạng, cả trong lẫn ngoài doanh nghiệp, trong việc ra quyết định kinh

chức chương trình giảng dạy theo cách này mà Yale vừa thách thức các khoa của mình
vượt qua các rào cản trong những lĩnh vực nghiên cứu của nó. Chính hiệu trưởng
trường, Joel Podolny đã từng giải thích rằng: “Chúng tôi không hoàn toàn bỏ các môn
học, mà chúng tôi đang đặt lại chúng vào một hoàn cảnh mới. Nếu bạn nói chuyện với
các nhà đầu tư, họ sẽ kể cho bạn thấy rằng để trở thành một đầu tư thì bạn phải biết về
tài chính. Nhưng họ cũng sẽ kể cho bạn biết rằng đầu tư còn có nghĩa rằng bạn bắt đầu
có đủ khả năng phân tích được xem tương lai lợi nhuận sẽ từ đâu tới. Vâng, và để hiểu
được lợi nhuận tương lai, bạn buộc phải hiểu được chiến lược và các tổ chức cũng như
phải có khả năng phân tích được sự lãnh đạo. Cuối cùng, khi bạn nhận ra được triển
vọng của nhà đầu tư thì chúng tôi cũng phải có được chương trình giảng dạy mới mà
có thể giải đáp được cho bạn những câu hỏi như: ‘Các nhóm nhà đầu tư khác nhau là
gì? Họ đang tối ưu điều gì? Họ cần thông tin nào? Một nhà quản lý cần biết những
điều gì để thống nhất được những ý kiến đóng góp khác nhau?’. Và khi bạn tham gia
khóa học theo môn học chuyên ngành tài chính, bạn có thể bao quát được những câu
hỏi đó một cách dễ dàng, mặc dù chúng hoàn toàn không liên quan tới tài chính, mà
thực tế chúng lại nảy sinh trong hoàn cảnh một nhà quản lý đang cố gắng để dàn xếp
được với một nhà đầu tư.”

Việc nắm bắt được triển vọng của nhà đầu tư theo cách bằng sắc thái này khiến
nó có thể xác định được những câu hỏi về việc làm tối đa hóa được giá trị cổ đông mà
có thể bị mất đi trong chương trình giảng dạy cũ: những câu hỏi về sự đa dạng hóa các
mục tiêu của các cổ đông; yêu cầu thông tin minh bạch và chính xác của thị trường;
các vấn đề về thông tin không phù hợp; các yếu tố bên ngoài; và cả những cơ cấu tổ
chức dẫn tới việc xung đột về thời gian; v.v Những câu hỏi này có những hàm ý
quan trọng đối với doanh nghiệp, và các trường bây giờ đều có một bối cảnh, ngôn
ngữ, cùng những cách nhìn thực tế đối với việc phát sinh các vấn đề trong chương
trình giảng dạy chính của mình.

Một trong những khía cạnh có ích lợi nhất của cấu trúc mới này đó là nó buộc
các khoa của mình phải liên hệ được với môn học khi đưa ra một vấn đề trước lớp, thể


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status