-1-
Tăng cường thu hút khách du
lịch vào Việt Nam tới
năm 2015Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-2-
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 2 45
THỰC TRẠNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ VÀO VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2008 45
Hệ thống đường hàng không 59
Hệ thống các cảng biển 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-3-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến và
là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng
trung bình hàng năm theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO). Du
lịch không chỉ đem lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo nhiều việc làm,
phát triển các ngành dịch vụ, cơ sở hạ tầng mà còn là phương tiện thúc đẩy hòa
bình, giao lưu văn hóa và tạo ra những giá trị vô hình nhưng bền chặt. Nhờ
những đóng góp to lớn về mặt kinh tế xã hội du lịch đã trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới như UAE, Ai Cập, Hy Lạp, Thái
Lan… và ở Việt Nam trước những tác động to lớn đó của du lịch thì Đại hội
luận giải sự cần thiết phải tăng cường thu hút khách du lịch đối với một quôc
gia.
• Trình bày tổng quan về thị trường du lịch quốc tế trong giai đoạn 2001 –
2008, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch quốc tế
của Việt nam và thực trạng thu hút khách du lịch của nước ta trong khoảng
thời gian 2001 – 2008, đánh giá các ưu điểm cũng như tồn tại mà ngành du
lịch nước ta gặp phải giai đoạn 2001 – 2008 (giai đoạn mà nền kinh tế Việt
Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào WTO và cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu bắt đầu diến ra vào năm 2008).
• Nêu định hướng cho sự phát triển của ngành du lịch của nước ta trong
những năm tới và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-5-
lịch quốc tế vào Việt Nam trong điều kiện cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu đang lan rộng và hội nhập ngày càng sâu vào WTO.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút khách du lịch quốc
tế. Tuy thu hút khách du lịch có thể được nghiên cứu trên giác độ vĩ mô (quốc
gia) và vi mô (các công ty trong ngành du lịch) nhưng bài viết này chủ yếu đề
cập đến hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế ở tầm vĩ mô (đứng trên giác độ
của một quốc gia) để trình bày và luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm có thời gian và không gian nghiên
cứu.
- Về mặt thời gian nghiên cứu: các số liệu phân tích được lấy từ năm 2001
– 2008 và đề xuất các định hướng, giải pháp đến năm 2015.
- Về mặt không gian: không gian nghiên cứu được trải rộng, đề tài không
chỉ nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn trên toàn thế
giới.
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được viết dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
cứu nhưng chúng em đã gặp phải một số khó khăn sau:
Thứ nhất, do đây là lần đầu tiên thực hiện nghiên cứu khoa học nên các
thành viên trong nhóm đã có không ít những bỡ ngỡ từ những việc như cách
nghiên cứu, bố cục bài nghiên cứu cũng như cách trình bày bài nghiên cứu sao
cho chặt chẽ.
Thứ hai, do thời gian nghiên cứu có hạn, lại còn đang bận rộn bởi việc
học chuyên ngành nên bài nghiên cứu có thể còn nhiều thiếu sót mà chúng em
chưa kịp chỉnh sửa.
Thứ ba, do không gian nghiên cứu là toàn bộ quốc gia nên chúng em đã
gặp phải khó khăn trong việc đi điều tra thực tế, do vậy bài viết chỉ đơn thuần
dựa vào những thông tin thứ cấp mà các thành viên thu thập được.
Cuối cùng nhóm em cũng gặp phải nhiều khó khăn trong việc thu thập
các số liệu phục vụ cho việc phân tích trong bài viết. Mộ số số liệu cần cho bài
việt nhưng chúng em không thu thấp được.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này, chúng em xin chân
thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Hường – người đã tận tình chỉ dẫn chúng
em để chúng em hoàn thành được bài nghiên cứu của mình.
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-8-
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH
QUỐC TẾ
Mục tiêu của chương 1 là xây dựng khung lý thuyết cho việc phân tích và
đánh giá hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế trong thời kỳ khủng hoảng tài
chính toàn cầu. Để thực hiện mục tiêu trên, chương này sẽ xem xét từ những
khía cạnh tổng quan về du lịch, du lịch quốc tế, khách du lịch quốc tế và thu hút
khách du lịch quốc tế. Với cách tiếp cận từ rộng đến hẹp, toàn bộ nội dung
chính của chương 1 được trình bày thành bốn vấn đề sau đây: (1) Du lịch quốc
tế; (2) Những vấn đề chung về khách du lịch quốc tế; (3) Lý luận về thu hút
khách du lịch quốc tế; (4) Sự cần thiết phải tăng cường thu hút khách du lịch
chức phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc và các chuyến đi phường hội khác
có tổ chức thưỡng xuyên hàng ngày).
- Mục đích của chuyến đi: “Không phải để làm ăn, tức không phải để làm
một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…” - có nghĩa là loại trừ việc hành
nghề lâu dài hoặc tạm thời.
Michael Coltman (Mỹ) đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về du lịch:
“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục
vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và
chính quyền nơi đón khách du lịch”.
Có thể thể hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau:
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-10-
Hình 1.1: Sơ đồ thể hiện sự kết hợp và tương tác giữa bốn nhóm nhân tố trong dịch
vụ du lịch.
Từ góc độ thay đổi về không gian của du khách, có thể đưa ra định nghĩa
về du lịch: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng
này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay
đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.
Nhìn từ một góc độ khác, góc độ kinh tế, người ta lại định nghĩa về du
lịch như sau: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho
nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động
chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Trong Luật du lịch Việt Nam 2005, thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như
sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
1
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nội dung của du lịch
không ngừng được mở rộng và ngày càng phong phú.
cầu du lịch tăng.
Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của du lịch thể hiện ở hai phương diện sau:
Tính tổng hợp và đồng bộ trong nhu cầu du lịch: Nhu cầu du lịch là tổng
hợp của nhiều nhu cầu: nhu cầu đi lại, ăn nghỉ, vui chơi, giải trí và các nhu cầu
bổ sung khác. Các nhu cầu trên xuất phát đồng bộ trong một khoảng thời gian
nhất định (thời gian đi du lịch).
Tính tổng hợp trong hoạt động kinh doanh du lịch: Một sản phẩm du lịch
tổng hợp không thể do một đơn vị kinh doanh tạo ra mà do tổng hợp các hoạt
động kinh doanh đa dạng tạo ra. Trong một chuyến đi du lịch, khách du lịch
không chỉ sử dụng một sản phẩm du lịch đơn thuần, mà phải sử dụng một sản
phẩm du lịch tổng hợp.
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-12-
Tính không lưu kho cất trữ được của sản phẩm du lịch
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về
không gian và thời gian nên sản phẩm du lịch không thể lưu kho cất trữ như các
hàng hóa thông thường khác. Ví dụ như trong một khách sạn, nếu không có
khách đến thuê phòng thì khách sạn đó vẫn phải bỏ ra các chi phí để dọn dẹp
phòng, người ta không thể “cất trữ” các phòng đó được. Do đó, để tạo ra sự ăn
khớp giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch là một việc khó khăn.
Tính phụ thuộc vào tài nguyên du lịch
Du lịch chỉ có thể phát triển ở những nơi có tài nguyên du lịch. Tài
nguyên du lịch của một điểm đến là mọi thứ tạo nên sức hấp dẫn, thu hút người
dân sống ở ngoài nơi đó đến tham quan, du lịch và được sử dụng vào mục đích
kinh doanh du lịch. Thông thường, du lịch phát triển ở những nơi có tài nguyên
thiên nhiên đẹp, độc đáo hay các tài nguyên nhân tạo như kiến trúc cổ, đền
chùa…Việc phát triển du lịch ở những nơi không có tài nguyên du lịch là vô
cùng khó khăn.
Tính không thể dịch chuyển của các sản phẩm du lịch
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch. Theo tiêu thức này, du
lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
• Du lịch chữa bệnh
Ở hình thức này, khách đi du lịch theo nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc
sức khỏe cho bản thân họ. Có nhiều hình thức chữa bệnh như : chữa bệnh bằng
khí hậu (khí hậu núi, khí hậu biển…), chữa bệnh bằng nước khoáng (tắm nước
khoáng, uống nước khoáng), chữa bệnh bằng bùn, chữa bệnh bằng hoa quả,
chữa bệnh bằng sữa…
• Du lịch để nghỉ ngơi, giải trí
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-14-
Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi
để phục hồi thể lực và tinh thần của mỗi người. Đây là loại hình du lịch có tác
dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng, giúp tinh thần con người sảng khoái
hơn.
• Du lịch thể thao
Đây là một hình thức khá phổ biến, dành cho những người ham mê hoạt
động thể thao. Hình thức này lại phân ra thành du lịch thể thao chủ động và du
lịch thể thao bị động.
Du lịch thể thao chủ động là hình thức khách đi du lịch để tham gia trực
tiếp vào hoạt động thể thao như : leo núi, săn bắn, câu cá, trượt tuyết, đá bóng…
Du lịch thể thao bị động là những cuộc hành trình của du khách để xem
các cuộc thi thể thao quốc tế, các thế vận hội Olympic…
• Du lịch văn hóa
Mục đích chính của du lịch văn hóa là nhằm nâng cao hiểu biết cho cá
nhân về các lĩnh vực như lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, cuộc sống của
người dân đất nước khác cùng các phong tục tập quán nơi đó.
Có hai hình thức du lịch văn hóa:
Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: Khách du lịch có thể đi du lịch với
các mục đích đã định sẵn.
Hình thức này cũng có hai loại là du cá nhân thông qua tổ chức du lịch và
du lịch cá nhân không thông qua tổ chức du lịch. Du lịch cá nhân thông qua tổ
chức du lịch là hình thức cá nhân đi du lịch theo kế hoạch định trước của tổ chức
du lịch, tổ chức công đoàn hay tổ chức xã hội khác. Khách du lịch có thể không
cần phải đi cùng đoàn mà chỉ cần tuân theo những điều kiện đã được thông báo
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-16-
và chuẩn bị trước. Du lịch cá nhân không thông qua tổ chức là hình thức đi du
lịch tự do.
Căn cứ vào phương tiện giao thông. Theo tiêu thức này, du lịch được phân
thành: (1) Du lịch bằng xe đạp; (2) Du lịch bằng xe máy; (3) Du lịch bằng xe ô
tô; (4) Du lịch bằng tàu hỏa; (5) Du lịch bằng tàu thủy; (6) Du lịch bằng máy
bay.
Căn cứ vào phương tiện lưu trú được sử dụng. Theo tiêu thức này, du lịch
được phân thành những loại hình sau:
- Du lịch ở khách sạn;
- Du lịch ở khách sạn ven đường;
- Du lịch ở lều, trại;
- Du lịch ở làng du lịch.
Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được
phân thành những loại hình sau:
- Du lịch nghỉ núi;
- Du lịch nghỉ biển, sông, hồ;
- Du lịch thành phố;
- Du lịch đồng quê.
Căn cứ vào thời gian du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành:
Du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày (thường được gọi là du lịch cuối tuần –
weekend holiday).
Trong một chuyến đi du lịch, thường du khách có nhiều nhu cầu nảy sinh
khác nhau, do đó ta thường gặp sự kết hợp của nhiều loại hình du lịch cùng một
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-18-
Du lịch quốc tế thụ động: Là hình thức du lịch của công dân một quốc gia
nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó đi
ra nước khác du lịch và trong chuyến di ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước
họ đang cư trú.
Ví dụ: Công dân Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài, sử dụng các dịch vụ
được do nước đó cung cấp. Trong trường hợp này, Việt Nam kinh doanh du lịch
thụ động.
Du lịch quốc tế thụ động tương đương với nhập khẩu vì có hiện tượng
xuất ngoại tệ từ một quốc gia ra nước ngoài. Du lịch quốc tế thụ động thường
tạo ra lợi ích cho quốc gia đó về mặt xã hội.
Một bộ phận rất quan trọng cấu thành nên du lịch quốc tế là khách du lịch
nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng. Đây là những người có nhu cầu du
lịch, tạo ra lượng cầu về du lịch và có khả năng thanh toán để thỏa mãn nhu cầu
của mình. Trên cơ sở đó, các quốc gia, các nhà cung ứng du lịch tạo ra các sản
phẩm và dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng đó.
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về khách du lịch quốc tế.
1.2 Những vấn đề chung về khách du lịch quốc tế
1.2.1 Tổng quan về khách du lịch
1.2.1.1. Khái niệm về khách du lịch
Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIII
tại Pháp. Cũng giống như khái niệm về du lịch, từ trước tới nay đã có rất nhiều
định nghĩa về khách du lịch được đưa ra. Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có
cơ sở đáng tin cậy, chúng ta cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về
“khách du lịch” được đưa ra từ các hội nghị quốc tế hay các tổ chức quốc tế về
du lịch như sau:
Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia- League of Nations đưa ra định nghĩa
về khách du lịch: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
1963):
Trong các chuẩn mực thống kê quốc tế của Tổ chức Du lịch Thế giới
(WTO), khái niệm khách viếng thăm quốc tế (visitor) đóng vai trò quan trọng
chính. Theo định nghĩa của Hội nghị tại Rôma (Ý) do Liên hợp quốc tổ chức về
các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (năm 1963), khách viếng thăm quốc
tế được hiểu là người đến một nước khác, khác nước cư trú thường xuyên của
họ, bởi mọi nguyên nhân, trừ nguyên nhân đến lao động để kiếm sống.
Theo Luật du lịch Việt Nam 2005: “Khách du lịch là người đi du lịch
hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận
thu nhập ở nơi đến”.
2
Như vậy, các định nghĩa đã nêu ở trên về khách du lịch có các điểm khác
nhau, song nhìn chung đều đề cập đến các khía cạnh sau:
Thứ nhất, đề cập đến động cơ khởi hành (đi tham quan, nghỉ dưỡng, kết
hợp kinh doanh…trừ động cơ lao động kiếm tiền);
Thứ hai, đề cập đến yếu tố thời gian đi du lịch;
Thứ ba, đề cập đến những đối tượng được thống kê là khách du lịch và
những đối tượng không được thống kê là khách du lịch như: dân di cư, quá
cảnh…
1.2.1.2. Đặc điểm của khách du lịch
Khách du lịch đến từ các nơi khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng khác
nhau, nhưng có thể tổng hợp thành các đặc điểm chủ yếu sau:
- Hầu hết các du khách đều thích một môi trường du lịch trong lành. Môi
trường du lịch trong lành tức là môi trường có không khí trong lành, an toàn về
tính mạng, vệ sinh thực phẩm, môi trường văn hóa lành mạnh…đối với khách
2
Khoản 2, Điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam 2005
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-21-
du lịch.
Cũng theo Luật du lịch Việt Nam 2005, khách du lịch nội địa được định
nghĩa: “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
4
Như vậy, xem xét với cách phân loại của WTO, ở Việt Nam vẫn chưa có
sự thống nhất trong việc dùng từ khách du lịch nội địa hay khách du lịch trong
nước.
1.2.2 Khách du lịch quốc tế
1.2.2.1. Khái niệm khách du lịch quốc tế
Theo định nghĩa của Hội nghị tại Rôma (Ý) do Liên hợp quốc tổ chức về
các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (năm 1963), khách du lịch quốc tế
(international tourist) là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi
cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ít
nhất một tối trọ). Động cơ khởi hành của họ được phân nhóm như sau:
- Thời gian rỗi (đi du lịch để giải trí, chữa bệnh, học tập, mục đích thể thao hoặc
tôn giáo).
- Đi du lịch liên quan đến công việc làm ăn (ký kết giao kèo); thăm gia đình, bạn
bè, họ hàng, đi du lịch để tham gia vào các cuộc hội nghị, đại hội, các cuộc đua
thể thao…
Theo khái niệm trên, khách du lịch quốc tế bao gồm những người sau đây:
- Người nước ngoài, không sống ở nước đến thăm và đi theo các động cơ đã nêu
trên.
- Công dân của một nước, sống cư trú thường xuyên ở nước ngoài về thăm quê
hương.
- Nhân viên của các tổ lái (máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, ô tô) đến thăm, nghỉ ở
nước khác và sử dụng phương tiện cư trú. Ở đây kể cả những người không phải
là nhân viên của các hãng giao thông vận tải mà là những lái xe tải, xe ca tư
4
Khoản 2, Điều 34, chương V, Luật du lịch Việt Nam 2005
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
Có nhiều cách tiếp cận trong việc trình bày vai trò của thu hút khách du
lịch quốc tế. Bài viết này sẽ trình bày vai trò của thu hút khách du lịch quốc tế
đối với nền kinh tế, đối với xã hội và doanh nghiệp du lịch.
1.3.2.1 Vai trò của việc thu hút khách du lịch quốc tế đối với nền kinh tế
Tăng thu nhập quốc dân
Du lịch được coi là ngành “xuất khẩu tại chỗ”. Các hàng hóa công nghiệp,
hàng tiêu dùng, thủ công, mỹ nghệ…được xuất khẩu trực tiếp tại các điểm đến
trên lãnh thổ một quốc gia mà không phải chịu hàng rào thuế quan.
Khách du lịch quốc tế đến là những người đi du lịch ở nước ngoài và sử
dụng đồng ngoại tệ của nước đến du lịch thông qua việc sử dụng các dịch vụ,
mua sắm hàng tiêu dùng, các đồ thủ công mỹ nghệ Đối với quốc gia làm du
lịch, đây là hình thức du lịch chủ động, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, góp phần
cân bằng cán cân thương mại quốc tế.
Do vậy thu hút khách du lịch quốc tế đóng vai trò quan trọng, góp phần
làm tăng thu nhập quốc dân.
Góp phần phân phối lại thu nhập giữa các vùng
Đa số các vùng phát triển du lịch là những vùng kém về sản xuất của cải
vật chất. Do đó thu nhập của người dân ở những vùng này từ sản xuất là thấp.
Thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến sẽ làm cho du lịch phát triển, tác
động tích cực vào việc cân đối thu nhập của dân cư các vùng.
Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành. Yêu cầu về sự
hỗ trợ liên ngành này là cơ sở cho các ngành như: giao thông vận tải, tài chính,
bưu điện, sản xuất đồ lưu niệm…phát triển. Lượng khách du lịch quốc tế đến
với quốc gia càng nhiều thì giao thông quốc tế và hệ thống cơ sở hạ tầng của
quốc gia như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các
Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đến năm 2015
-25-
phương tiện truyền thông… càng được mở rộng và hoàn thiện. Lượng khách du
lịch quốc tế nhiều còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa cho nền sản xuất xã