Một số đề xuất nhằm nâng cao công tác hạch toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương - Pdf 10

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG.
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN
TRÍCH THEO LƯƠNG.
1.1. Tiền lương và ý nghĩa của tiền lương .
1.1.1. Khái niệm và bản chất kinh tế của tiền lương :
Tiền lương (tiền công) chính là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng
tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng
và chất lượng công việc của họ. Tiền lương không chỉ là phạm trù kinh tế mà
còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan trực tiếp tới đời sống
của người lao động. Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng
tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động. Cũng như các thị trường khác,
thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu. Mọi công dân có
quyền thuê mướn, sử dụng sức lao động và trả công phù hợp với giá trị sức lao
động theo đúng quy định của nhà nước.
Từ khái niệm trên cho thấy, bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động
được hình thành trên cơ sở sức lao động. Thông qua sự thoả thuận giữa người có
sức lao động và người thuê mướn, sử dụng sức lao động đồng thời chịu sự chi
phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu.
Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc
quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y trong các trường hợp ốm đau, thai ản, tai nạn
lao động, khám chữa bệnh… Như vậy, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế là thu nhập chủ yếu của người lao động. đồng thời các khoản đó còn là những
yếu tố chi phí sản xuất quan trọng, là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản
phẩm, dịch vụ.
1 1
Về phương diện hạch toán, tiền lương trả cho công nhân trong doanh
nghiệp được chia làm hai loại : Tiền lương chính và tiền lương phụ.
Tiền lương chính là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian
thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và khoản

khi giá cả biến động. Là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động,
là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm.
+ Tiền lương có chức năng tái sản xuất sức lao động nhằm duy trì năng lực
làm việc lâu dài và có hiệu quả cho các quá trình sau và phần còn lại đảm bảo
cho các nhu cầu thiết yếu của cac thành viên gia đình người lao động. Vì vậy,
tiền lương trả cho người lao động phải bù đắp những hao phí sức lao động cả
trước, trong và sau quá trình lao động, cũng như những biến động về giá cả
trong sinh hoạt, những rủi ro hoặc các chi phí khác phục vụ cho việc nâng cao
trình độ ngành nghề…
+ Chức năng kích thích: để đảm bảo cho người lao động làm việc có năng
suất cao, hiệu quả rõ rệt thì người sử dụng lao động cần quan tâm tới tiền lương
để kích thích người lao động. Ngoài ra người sử dụng lao động cần áp dụng biện
pháp thưởng. Số tiền này bổ sung cho tiền lương, mang tính chất nhất thời,
không ổn định nhưng lại có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và hiệu
quả lao động.
+ Chức năng tích luỹ: nhằm đảm bảo tiền lương của người lao động không
những duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc mà còn để lại
dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc
rủi ro.
1.2. Các hình thức trả lương.
Việc tính và trả chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình thức
khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình
độ quản lý của doanh nghiệp. Mục đích của chế độ tiền lương là nhằm quán triệt
nguyên tắc phân phối theo lao động. Trên thực tế, thường áp dụng các hình thức
(chế độ) tiền lương theo thời gian, tiền lương theo sản phẩm và tiền lương
5 5
khoán. Hiện nay các doanh nghiệp thường kết hợp cả hai hình thức thanh toán
tiền lương cho cán bộ công nhân viên (Hình thức thanh toán tiền lương theo thời
gian và hình thức thanh toán tiền lương theo sản phẩm).
1.2.1. Hình thức trả lương theo thời gian :

phụ cấp
=
22(26)
-Tiền lưong giờ : là tiền lương trả cho một giờ làm việc và được xác định
bằng cách lấy tiền lương ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo qui định của Luật
lao động (Không quá 8 giờ/ngày hoặc không quá 40 giờ /1 tuần).
Đơn giá tiền lương
một giờ
Đơn giá tiền lương một ngày
=
8
7 7
Đơn giá tiền lương 1 ngày, 1 giờ đối với từng người là căn cứ để tính ra
tiền lương làm thêm giờ của công nhân.
Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lương theo thời gian (mang
tính bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất) nên để khắc phục phần
nào hạn chế đó, trả lương theo thời gian có thể được kết hợp chế độ tiền thưởng
để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc.
1.2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm :
Tiền lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động căn
cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra. Việc trả lương theo sản phẩm
có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau như trả theo sản phẩm trực tiếp
không hạn chế, trả theo sản phẩm gián tiếp, trả theo sản phẩm có thưởng, theo
sản phẩm luỹ tiến.
Theo hình thức này căn cứ vào khối lượng sản phẩm của công nhân sản
xuất đã được nghiệm thu và đánh giá tiền lương của một sản phẩm để tính ra
tiền lương phải thanh toán cho từng người.
Mức lương
phải thanh toán
cho một người

nghiệp và sửa chữa cơ khí. Giống như thanh toán tiền lương theo sản phẩm có
thưởng khi hoàn thành xuất sắc công việc, việc chia tiền lương thưởng cho các
thành viên trong tổ (nhóm) thường căn cứ vào mức lương của từng cá nhân đó
đối với việc hoàn thành công việc chung của tổ (nhóm).
Cách trả tiền lương này kích thích nhân viên không chỉ nỗ lực bản thân
tích cực làm việc mà còn quan tâm nhắc nhở đến nhân viên khác cùng làm tốt,
khuyến khích người lao động hoàn thành nhanh chóng khối lượng công việc và
đảm bảo chất lượng công việc thông qua hợp đồng khoán. Bên cạnh chế độ tiền
lương, tiền thưởng được hưởng trong quá trình sản xuất kinh doanh, người lao
động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế trong trường hợp ốm đau, thai sản… Các quỹ này được hình thành một phần
do người lao động đóng góp, phần còn lại được tính vào chi phí kinh doanh của
doanh nghiệp.
Với các hình thức lương áp dụng trả cho tập thể ngưòi lao động, lương
khoán trả lương theo sản phẩm nhóm. Trước hết căn cứ vào khối lượng công
11 11
việc (sản phẩm) hoàn thành của nhóm tính tiền lương trả cho cả nhóm. Sau đó
dựa trên cơ sở thời gian lao động và sự khuyến khích của từng cá nhân tập thể
để áp dụng phương pháp chia lương cho từng người lao động.
PHƯƠNG PHÁP I : Chia lương theo cấp bậc và thời gian làm việc.
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp cấp bậc công việc phù hợp với cấp
bậc kĩ thuật của người lao động.
ST
T
Tên người
Lao động
Cấp
bậc kỹ
thuật
Thời

bậc công việc được giao.
Lấy phần này chia cho từng thành viên trong nhóm dựa trên cơ sở tổng
bình quân điểm cả nhóm. Bình quân công điểm mỗi cá nhân tương ứng với thời
gian làm việc và cấp bậc lao động = phần 1+ phần 2.
PHƯƠNG PHÁP III: chia lương theo công điểm áp dụng trong trường
hợp người lao động làm việc không ổn định, kỹ thuật đơn giản. Cấp bậc công
13
.
13
nhân không phản ánh rõ kết quả lao động mà sự chênh lệch năng suất lao động
chủ yếu là do sức khoẻ và thái độ lao động. Do đó phải bình công điểm cho từng
cá nhân – hàng ngày và cuối tháng tính tổng số, bình công điểm cho từng người
và cả nhóm. Tiến hành chia lương theo điểm:
Tiền lương
từng người =
Tiền lương cả nhóm
*
Bình công điểm
từng người
Tổng số bình công điểm
1.2.4. Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất:
Theo chế độ hiện hành, khi người lao động nghỉ phép thì được trả 100%
lương theo cấp bậc. Tiền lương nghỉ phép là tiền lương phụ của người lao động.
Hiện nay, một năm một người được nghỉ 12 ngày, nếu làm việc 5 năm liên tục
thì được tính thêm 1 ngày vào thời gian nghỉ phép, từ 30 năm trở nên chỉ được
nghỉ thêm 6 ngày. Tiền lương nghỉ phép được đưa vào chi phí từng tháng. Nếu
doanh nghiệp không thể bố trí cho người lao động nghỉ phép ổn định đều đặn
giữa các tháng trong năm, doanh nghiệp phải trích trước tiền lương nghỉ phép để
đảm bảo chi phí ổn định giữa các tháng trong năm.
Tỷ lệ trích trước tiền

kế hoạch
năm của
công nhân
TTSX
Tổng số
lương chính
kế hoạch
năm của
công nhân
TTSX
= * 100
Cũng có thể trên kinh nghiệm nhiều năm, doanh nghiệp tự xác định một
tỷ lệ trích trước tiền lương phép kế hoạch của công nhân trực tiếp sản xuất một
cách hợp lý.
1.3. Quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương.
1.3.1. Quỹ tiền lương:
* Quỹ tiền lương: còn gọi là tổng mức tiền lương, là tổng số tiền mà
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức dùng để trả lương và các khoản phụ cấp có tính
chất lương cho toàn bộ công nhân viên (thường xuyên và tạm thời) trong một
thời kỳ nhất định.
Quỹ tiền lương bao gồm các khoản sau :
+ Tiền lương tính theo thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm, tiền lương
khoán.
17 17
+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác, làm nghĩa vụ
theo chế độ quy định,thời gian nghỉ phép, thời gian đi học,…
1.3.2. Các khoản trích theo lương
* Quỹ bảo hiểm xã hội:
Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) là tập hợp những phương tiện nhằm thoả mãn

khác, quỹ BHXH phải được bảo toàn về giá trị và không có rủi ro về tài chính.
+ Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng: những nhu cầu về BHXH sẽ chỉ được
thoả mãn thông qua tiêu dùng cá nhân của những người được BHXH. Quỹ
BHXH là một hệ thống cấu thành của hệ thống phân phối thu nhập quốc dân,
làm nhiệm vụ phân phối và phân phối lại thu nhập cho người lao động. Do đó,
quỹ BHXH là một quỹ tích luỹ, đồng thời là một quỹ tiêu dùng trên cơ sở tuân
theo quy luật phân phối theo lao động, ở mức độ nhất định theo nguyên tắc
tương đương, đồng thời phải tham gia điều chỉnh cần thiết giữa các nhu cầu và
các lợi ích.
* Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)
Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám, chữa bệnh,
viện phí, thuốc thang … cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ.
Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
lương của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích BHYT
hiện hành là 3 %, trong đó 2% tính vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu
nhập của người lao động. Quỹ này được dùng để nộp cho quỹ BHYT quốc gia
và để tài trợ một phần tài chính cho cán bộ công nhân viên chức khi khám chữa
bệnh ở các đơn vị y tế có bảo hiểm.
*Kinh phí công đoàn
Ngoài ra, để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn, hàng tháng
doanh nghiệp còn phải trích theo một tỷ lệ quy định so với tổng số quỹ tiền
lương, tiền lương và phụ cấp ( phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp
khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại,
21 21
nguy hiểm, phụ cấp lưu động, phụ cấp thân niên, phụ cấp phục vụ quốc phòng,
an ninh) thực tế phải trả cho người lao động. Kể cả lao động hợp đồng tính vào
chi phí kinh doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ kinh phí công đoàn
theo chế độ hiện hành là 2% của thu nhập ổn định các bộ công nhân viên trong
đó được tính hoàn toàn vào chi phí.
23 23

- Thưởng tiết kiệm vật tư : áp dụng trong các trường hợp cần khuyến khích
CNV tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng trong sản xuất, hạ
giá thành sản phẩm, tăng mức lợi nhuân cho doanh nghiệp. Mức tiền thưởng tối
đa không quá 50% số tiết kiệm được.
- Thưởng do nâng cao chất lượng sản phẩm: tiền thưởng do giảm tỷ lệ
hàng hỏng, mức thưởng tối đa bằng 50% số tiền tiết kiệm được do giảm tỷ lệ
hàng hỏng với mức quy định; tiền thưởng nâng cao hàng có chất lượng cao
(hàng loại 1) áp dụng đối với doanh nghiệp mà sản phẩm làm ra kém phẩm chất
nhưng vẫn sử dụng được. Mức thưởng căn cứ vào giá trị chênh lệch giữa sản
phẩm các loại cao so với tỷ lệ từng loại đã quy định.
- Thưởng do tăng năng suất lao động : khuyến khích người lao động sản
xuất sản phẩm phục vụ kịp thời cho việc tiêu thụ trong thời gian nhất định, cần
thiết theo mùa, theo thời vụ như tăng năng suất lao động để có nhiều hàng phục
vụ nhu cầu thị trường trong dịp tết.
1.4.2. Thưởng định kỳ:
- Thưởng thi đua vào dịp cuối năm được xác định thông qua việc xếp hạng
A,B,C: người lao động chấp hành kỉ luật lao động như thế nào? Thời gian làm
việc trong năm bao nhiêu ngày?…tất cả các tiêu thức quyết định người lao động
thuộc loại nào. Mỗi loại thì tiền thưởng khác nhau. Doanh nghiệp quyết định
tổng tiền thưởng, căn cứ vào số người được thưởng từng loại và hệ số khen
thưởng giữa các loại (A,B,C) quy đổi số người các loại thành một loại nào đó
làm tiêu chuẩn. Căn cứ vào tổng tiền thưởng mà doanh nghiệp quyết định chi và
số người được thưởng đã quy đổi ra loại tiêu chuẩn để tính ra mức thưởng của
một người tiêu chuẩn. Số tiền thưởng của mỗi người được tính bằng cách lấy
mức tiền thưởng loại tiêu chuẩn nhân với hệ số thưởng loại (A,B,C) mà người
đó được xếp khen thưởng.
27 27
- Thưởng sáng kiến, thưởng chế tạo sản phẩm mới: với mục đích phát huy
tính sáng tạo của người lao động như sáng kiến sử dụng máy móc thiết bị có
hiệu quả , tạo ra sản phẩm có tính năng mới đáp ứng nhu cầu thị trường.

ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất,
diễn ra trong điều kiện lao động bình thường. Số tiền đó đảm bảo nhu cầu tiêu
dùng các tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu cần thiết để tái sản xuất sức lao động
của bản thân người lao động. Từ khái niệm trên cho thấy tiền lương tối thiểu có
những đặc điểm sau:
Được xác định ứng với trình độ lao động giản đơn nhất. Tương ứng với
cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện làm việc bình thường.
Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức tối thiểu cần thiết. Tương ứng với giá tư
liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình .
- Như vậy, tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn
mà còn là khung pháp lý quan trọng, là nền để trả công cho người lao động toàn
xã hội, là mức lương mang tính chất bắt buộc người sử dụng lao động phải trả ít
nhất là bằng chứ không được thấp hơn. Vì vậy các các mức lương khác trong
thang bảng lương hoặc thoả thuận trong hợp đồng không được thấp hơn mức
lương tối thiểu mà nhà nước quy định. Việc quy định mức lương tối thiểu có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với nhà nước, các đơn vị sử dụng lao
động trong lĩnh vực quản lý và sử dụng lao động mà cả đối với đời sống của
người lao động:
+ Thứ nhất: lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của nhà nước
đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại lao động. Bảo
đảm đời sống tối thiểu cho phù hợp với khả năng của nền kinh tế.
+ Thứ hai: là công cụ điều tiết của nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và
trong từng cơ sở kinh tế.
Xuất phát từ khái niệm và vai trò nêu trên của tiền lương tối thiểu, mục
tiêu của việc xác định mức lương tối thiểu là phải bảo hộ cho toàn thể người lao
31 31
động làm công ăn lương. Chính vì vậy mà việc xác định tiền lương tối thiểu phải
dựa trên căn cứ sau:
Hệ thống các nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Các
nhu cầu này bao gồm: các nhu cầu về mặt sinh học đối với một số mặt hàng thiết

của từng khu vực cũng khác nhau và được xây dựng như sau:
+ Hệ thống bảng lương của viên, công chức hành chính sự nghiệp.
+ Hệ thống bảng lương của chức vụ dân cử.
+ Hệ thống bảng lương của lực lượng vũ trang.
+ Hệ thống thang, bảng lương của công nhân trong doanh nghiệp. Xuất
phát từ quan điểm tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp phụ thuộc
vào sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, do đó tiền
lương của công nhân được qui định riêng và có khác so với lương của nhân viên,
công chức hành chính sự nghiệp. Căn cứ xác định mức trả công cho công nhân
trong các doanh ngiệp cũng dựa trên hai yếu tố: mức độ phức tạp của công việc
thể hiện qua trình độ cần thiết của công nhân để thực hiện công việc và mức tiêu
hao lao động.
Hệ thống thang, bảng lương doanh nghiệp gồm: Hệ thống thang lương
của công nhân được xác định theo ngành (hoặc một nhóm ngành) kinh tế kĩ
thuật. Bảng lương công nhân trực tiếp sản xuất; Bảng lương chuyên gia, nghệ
nhân; Bảng lương chức vụ quản lý doanh nghiệp chỉ quy định cho ba chức danh:
Giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng, và được xác định theo hạng doanh
nghiệp; Bảng lương viên chức chuyên môn, nghiệp vụ và thừa hành phục vụ
trong các doanh nghiệp được xác định theo cấp trình độ tương ứng ngạch
chuyên môn, nghiệp vụ hành chính sự nghiệp.
35 35
Phần 2: KẾ TOÁN HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG .
Để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý, đòi hỏi hạch toán lao
động và tiền lương phải quán triệt các nguyên tắc:
- Phải phân loại lao động hợp lý: do lao động trong doanh nghiệp có nhiều
loại khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán cần thiết phải
phân loại lao động.
- Phải phân loại tiền lương một cách phù hợp: do tiền lương có nhiều loại với
tính chất khác nhau, chi trả cho các đối tượng khác nhau nên cần phân loại tiền
lương theo tiêu thức phù hợp. Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại tiền lương

bảng kê khối lượng hoàn thành kèm theo phiếu kiểm tra chất lượng sản phẩm,
phiếu nhập kho sản phẩm và phiếu giao việc. Mỗi bảng kê khối lượng công việc
phải được kê chi tiết cho từng người lao động để tính trả lương theo sản phẩm có
xác nhận của người kiểm tra và nghiệm thu.
Trên cơ sở các chứng từ trên, bộ phận tiền lương lập bảng thanh toán lương
39 39
Đơn vị............................. Mẫu số 02-LĐTL
Bộ phận........................... Ban hành theo quyết định số: 1141-TC/QĐ/CĐKT
ngày 1 tháng 11 năm 1995
của Bộ Tài Chính
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG
S

Tt
Họ và
tên
Bâc,
lươn
g
Lương
sản phẩm
Lương thời
gian và
nghỉ việc
ngừng việc
hưởng
100%
lương
Nghỉ việc
ngừng việc

P
Tiền
côn
g
Số
côn
g
Tiền
côn
g
Số
côn
g
Tiền
côn
g
Số
côn
g
Tiền
côn
g
Số
tiề
n

nhậ
n
… … Cộng Số
tiền

khoản
khác
Cộng
có TK
334
3382-
KHCĐ
3383
BHXH
3384
BHYT
1.TK 622
CPNCTT
2.TK 627
CPSXC
3.CPBH
4.CPQLDN
5.
6.
Cộng
Kế toán trưởng Người lập
Ký Ký
Bảng 2: Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội
Các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các hình thức tổ chức sổ sách
sao cho phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp:
- Hình thức sổ nhật ký chung
- Hình thức nhật ký - chứng từ
- Hình thức nhật ký - sổ cái
- Hình thức chứng từ ghi sổ.
2.2. Tài khoản sử dụng.

Nợ TK641 - Chi phí bán hàng
Nợ TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 335 - Khoản trích trước tiền lương nghỉ phép
42
42
2.3.3.Tiền lương nghỉ phép khi trả cho người lao động:
Nợ TK 335 - Chi phí phải trả
Có TK 334 - Phải trả CNV
2.3.4. Nếu tiền lương nghỉ phép trong kì cao thì ta được đưa vào TK 142
Nợ TK 142 - Chi phí trả trước
Có TK 334 - Phải trả CNV
2.3.5. Phân bổ dần vào các kỳ
Nợ TK 622,641,642
Có TK 142 - Chi phí trả trước
2.3.6. Các khoản khấu trừ vào lương của CNV
Nợ TK 334 - Phải trả CNV
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
Có TK 336 - Phải trả nội bộ
Có TK 338 - Phải trả phải nộp khác(5% BHXH, 1%
BHYT mà CNV phải nộp)
Có TK 141 - Tiền tạm ứng.
2.3.7. Đến kỳ trả lương nhưng CNV đi vắng chưa nhận lương
Nợ TK 334 - Phải trả CNV
Có TK 3388 - Phải trả, phải nộp khác
2.3.8.Thực hiện trả lương cho CNV
Nợ TK 334 - Phải trả CNV
Có TK 111 - Tiền mặt
Có TK 112 - Tiền gửi ngân hàng
Có TK 512 - Doanh thu nội bộ
Có TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status