1
= 1 =
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường là một bước ngoặt lớn có tinh chất cơ bản để nền kinh tế nước ta có thể đứng
vững và phát triển kịp với kinh tế khu vực và thế giới. Sự chuyển đổi này đã kéo theo
sự chuyển hướng trong việc lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Cơ chế mới này đã mở ra một thời kỳ mới đầy cơ hội phát triển nhưng cũng
không ít thách thức lớn đối với nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Hoạt động trong cơ chế thị trường, đòi hỏi bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự
mình vận động, tự quyết định mọi vấn đề về kinh doanh của mình, không có sự phân
công, chỉ đạo trực tiếp như trong cơ chế cũ. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải có chiến
lược kinh doanh linh hoạt và phù hợp. Chính vì sự sống còn và phát triển của mỗi
doanh nghiệp mà đã có sự cạnh tranh với nhau.
Khi nền kinh tế càng phát triển, các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng, số
lượng các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều thì cạnh tranh lại càng gay gắt hơn.
Nên để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, mỗi doanh nghiệp đã đưa ra những chiến lược
cạnh tranh riêng, nhằm không ngừng tăng cường khả năng cạnh tranh cho chính mình.
Đặc biệt là khi nước ta đã là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới
(WTO), cũng như là thành viên của tổ chức ASIAN thì áp lực cạnh tranh lại càng gay
gắt và khắc nghiệt hơn nhiều.
Vả lại, trong thời gian vừa qua, nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với những
“di chứng” của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu để lại. Các quốc gia đang cố gắng
khắc phục để vươn lên về mọi mặt. Hoạt động sản xuất kinh doanh khoáng sản cũng
không ngoại lệ là phải gánh chịu tác động từ cuộc khủng hoảng này. Có thể nói rằng
đây là một trong những lĩnh vực kinh doanh thuận lợi nhưng cũng không kém phần
khó khăn và rủi ro, đặc biệt là sự cạnh tranh của các đổi thủ cũng như những sản phẩm
1
2
2
3
= 3 =
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung của đề tài, em đã sử dụng một số các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống hoá
- Phương pháp so sánh số chênh lệch
• So sánh bằng số tuyệt đối
• So sánh bằng số tương đối
- Phương pháp phân tích chi tiết
• Phân tích theo các bộ phận cấu thành
• Phân tích theo thời gian
1. Phân tích theo các nhân tố ảnh hưởng
2. Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu tại công ty thông qua các báo
cáo tài chính, các sổ sách chứng từ khác tại công ty. Ngoài ra, còn cập nhật thông tin từ
bên ngoài trên các phương tiện thông tin như: sách báo, tạp chí, internet,…
5. Nội dung và kết cấu đề tài
Đề tài gồm hai phần:
Phần I: Báo cáo tổng hợp
Chương I : Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Khoáng sản và Đầu Tư Khánh
Hòa
Chương II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Khoáng sản và Đầu Tư Khánh Hòa
Phần II: Báo cáo chuyên đề
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng sức cạnh tranh sản phẩm đá Granite của Công ty Cổ
Phần Khoáng Sản và Đầu Tư Khánh Hòa
Chương III: Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm đá Granite cho Công
ty Cổ Phần Khoáng Sản và Đầu Tư Khánh Hòa
Ranh trực thuộc Tổng Công ty Xuất Nhập Khẩu Dịch Vụ Đầu Tư Và Vận Tải Biển
(ISEI CORP).
Ngày 04/04/1985, Tỉnh ủy Phú Khánh ra quyết định số 510/QĐ-TV thành lập Xí
Nghiệp Sa Khoáng và Chế Biến Men Gốm Sứ lấy tên là Xí Nghiệp SK 85 trực thuộc
Ban Tài Chính Tỉnh ủy, nhiệm vụ của Xí Nghiệp là chế biến men gốm sứ từ nguồn tài
nguyên địa phương và tổ chức khai thác tuyển chọn các thành phần có trong sa khoáng
nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ.
Ngày 21/07/1988, UBND Tỉnh Phú Khánh ra quyết định số 1159/QĐUB chuyển
giao xí nghiệp SK 85 cho Sở Công Nghiệp quản lý. Sau đó, ngày 02/11/1988, Xí
5
6
= 6 =
Nghiệp được đổi tên thành Xí Nghiệp Khai Thác Và Chế Biến Khoáng Sản thông qua
quyết định số 1757/UB của UBND Tỉnh Phú Khánh. Nhiệm vụ của xí nghiệp là tổ
chức quản lý các vùng có khoáng sản trong tỉnh, khai thác tuyển chọn và chế biến
khoáng sản nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.
Ngày 01/07/1989, Tổng Công ty Xuất Nhập Khẩu Dịch Vụ Đầu Tư Và Vận Tải
Biển (ISEI CORP) được thành lập sau khi Phú Khánh được tách làm hai tỉnh Khánh
Hòa và Phú Yên. Nhiệm vụ chính của công ty vẫn là khai thác và xuất khẩu cát Cam
Ranh. Giữa tháng 07, ban xuất khẩu cát ra đời, đến tháng 01/1990, Xí Nghiệp Cát Cam
Ranh thành lập trên cơ sở Ban Xuất Khẩu Cát trực thuộc Tổng Công ty ISEI CORP.
Ngày 11/05/1990, tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số 556/UB chuyển giao Xí
Nghiệp Khai Thác Và Xuất Khẩu Khoáng Sản trực Thuộc Sở Công Nghiệp Khánh Hòa
sang Tổng Công ty Xuất Nhập Khẩu Dịch Vụ Đầu Tư và Vận Tải Biển Khánh Hòa.
Ngày 28/05/1990, UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định số 646/QĐUB V/v sát
nhập Xí Nghiệp Khai Thác Chế Biến Khoáng Sản vào Xí Nghiệp cát Cam Ranh rồi lấy
tên là Công ty Khai Thác Chế Biến Khoáng Sản Xuất Khẩu trực thuộc Tổng Công ty
ISEI CORP. Nhiệm vụ của Công ty là khai thác cát Cam Ranh theo hợp đồng mà Tổng
Công ty ISEI CORP đã ký với đối tác nước ngoài. Trong khoảng thời gian này Công ty
hoàn toàn phụ thuộc vào Tổng Công ty, không được quyền chủ động trong mọi hoạt
ty TNHH một thành viên, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Nhà nước nắm giữ 100%
vốn điều lệ và do UBND tỉnh Khánh Hòa làm đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước. Đến
tháng 06/2006, quyền đại diện sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp được
chuyển giao về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Ngày
14/07/2009, Công ty chính thức cổ phần hóa và đổi tên là Công ty Cổ phần Khoáng sản
và Đầu tư Khánh Hòa.
1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty
1.2.1 Chức năng hoạt động
MINEXCO là một trong những doanh nghiệp lớn của tỉnh Khánh Hòa, hạch toán
kinh tế độc lập với chức năng chủ yếu là khai thác – chế biến – xuất khẩu các loại
khoáng sản trong tỉnh thuộc sự quản lý của Công ty, đặc biệt là khoáng sản cát ở Cam
Ranh và cát vàng ở Đầm Môn.
Công ty được quyền xuất khẩu trực tiếp các loại khoáng sản thô cũng như các loại
7
8
= 8 =
đã qua sơ chế hay chế biến. Được quyền nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu
chuyên dùng,… nhằm phục vụ cho nhu cầu hoạt động động sản xuất và tiêu dùng. Tạo
công ăn việc làm ổn định cho cán bộ công nhân viên và không ngừng nâng cao đời
sống của họ.
Công ty còn khai thác một số mặt hàng khác ngoài khoáng sản. Tổ chức dịch vụ
xuất khẩu, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài
nước, nhằm tạo nguồn vốn, vật tư cũng như học hỏi kinh nghiệm quản lý để phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành. Ngoài khai thác cát phục vụ cho xuất
khẩu Công ty còn đồng thời sản xuất vật liệu xây dựng như gạch Terrazzo, các sản
phẩm từ đá Granite phục vụ cho nhu cầu trong nước và quốc tế.
1.2.2 Nhiệm vụ
Kinh doanh đúng mặt hàng đã đăng ký và đúng mục đích kinh doanh.
Thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp theo quy định của pháp luật
Việt Nam, các thông lệ cũng như quy ước quốc tế.
Được liên doanh liên kết với mọi hình thức sở hữu, quyền lựa chọn khách hàng
trong mua bán và giao dịch với nhiều Ngân hàng cùng lúc.
Tự chọn hình thức trả lương, tự xác định quỹ lương, thưởng theo năng suất lao
động và trình độ các bộ công nhân viên.
1.3 Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
Sau gần 20 năm hình thành và phát triển, cùng với định hướng tập trung nghiên cứu thị hiếu khách hàng và đầu tư
đổi mới công nghệ chế biến, sản phẩm và dịch vụ của Công ty đã đáp ứng những yêu cầu hết sức khắt khe về chất lượng của
các nhà sử dụng có tên tuổi đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Malaysia, Thái Lan Đến nay,
MINEXCO đã dành được sự tín nhiệm và trở thành một trong những nhà cung cấp cát silic lớn nhất của Việt Nam và Châu Á.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ xuất khẩu cát silic, đồng thời đã thúc đẩy Công ty mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực khác. Bắt
đầu từ năm 2000, MINEXCO đi sâu nghiên cứu các dự án cát nghiền, thủy tinh thạch anh, vật liệu xây dựng, bất động sản, du
lịch Vịnh Vân Phong, du lịch Bãi Dài - Cam Ranh, … và tiếp tục phát triển các dự án khoáng sản khác như Diatomit, đá
Granite,… kể cả đầu tư tài chính vào các Công ty cổ phần khác.
Ngành nghề kinh doanh
- Khai thác, chế biến khoáng sản.
- Dịch vụ tư vấn địa chất và khai thác mỏ Lộ Thiên.
- Dịch vụ khách sạn, du lịch và các dịch vụ phục vụ khách du lịch.
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng.
- Kinh doanh bất động sản.
- Xây dựng dân dụng.
9
10
= 10 =
1.4 Vai trò, vị trí của Công ty đối với địa phương và nền kinh tế
1.4.1 Đối với nền kinh tế
Khai thác chế, biến khoáng sản ngoài việc tận dụng được sự ưu đãi của thiên
nhiên, đặc biệt là loại nguyên vật liệu cát có thể sản xuất, chế biến ra nhiều mạt hàng
cao cấp như thủy tinh, pha lê, gốm sứ,… phục vụ cho xuất khẩu. Việc đầu tư cho ngành
còn nhằm phát triển công nghệ khai thác, giảm hao phí, giảm giá thành sản phẩm, tăng
tích lũy, nâng cao khả năng cạnh tranh, giữ vững và phát triển thị trường tiêu thụ khoán
hoạt động.
Đại hội đồng cổ đông
Gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyền lực cao nhất của Công
ty, quyết định vấn đề được Luật pháp và điều lệ Công ty quy định. Đặc biệt các cổ
đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và ngân sách tài chính
cho năm tiếp theo. Đại hội đồng cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
của Công ty.
Hội đồng quản trị
11
CÁC ĐV
TRỰC
THUỘC
X.
TUYỂN
RỬA
CÁT
CAM
RANH
P. KD
P. ĐT-
PT
ĐỘI
KHAI
THÁC
P.KẾ
TOÁN
TÀI
VỤ
P. CƠ
ĐIỆN
GRANIT
TÂN DÂN
12
= 12 =
Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi
vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có trách nhiệm giám sát Tổng giàm đốc điều
hành và những người quản lý khác. Quyền và nghĩa vụ của HĐQT do Luật pháp và
điều lệ Công ty, các quy chế nội bộ của Công ty và nghị quyết ĐHĐCĐ quy định
Ban kiểm soát
Là cơ quan trực thuộc ĐHĐCĐ, do ĐHĐCĐ bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ
tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài
chính của Công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Tổng
giám đốc.
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc
Chủ tịch HĐQT là người điều hành và có quyền quyết định cao nhất về tất cả các
vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội
đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Phó Tổng Giám đốc
là người giúp việc cho chủ tịc HĐQT và chịu trách nhiệm trước chủ tịch HĐQT về
phần việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đã được chủ tịch
HĐQT ủy quyền và phân công theo đúng chế độc chính sách của Nhà nước và điều lệ
Công ty.
Văn phòng Công ty
Phòng sản xuất: Gồm 04 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở kế thừa và tổ
chức lại của Phòng sản xuất thuộc Công ty TNHH một Thành Viên khai thác chế biến
xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Chức năng, nhiệm vụ của phòng: Giúp việc cho tổng Giám đốc Công ty quản lý và
điều hành sản xuất cát, nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Xây dựng kế hoạch tách nghiệp và tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất cát.
- Quản lý chất lượng, số lượng, công nghệ chế biến tuyển rửa cát, công tác phân tích thí
như sau:
- Nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đầu tư và các dự án đầu tư và
phát triển sản phẩm mới của Công ty.
- Xây dựng và theo dõi quy trình, quy phạm kỷ thuật sản xuất của các dự án đầu tư mới
ngoài cát.
13
14
= 14 =
- Giám sát xây dựng cơ bản.
- Theo dõi công tác sáng kiến, cải tiến kỹ thuật ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới trong sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Trực tiếp quản lý, chỉ đạo về mặt kỹ thuật chuyên môn đối với đội Khảo sát mỏ.
- Quản lý môi trường, công nghệ thông tin.
Biên chế của phòng: Gồm Trưởng phòng, Phó phòng và một số nhân viên nghiệp vụ
hiện có. Trưởng phòng, Phó phòng do tổng Giám đốc quyết định bổ nhiệm.
Phòng kế toán tài vụ: có 05 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở kế thừa và
tổ chức lại của Phòng kế toán - tài vụ thuộc Công ty TNHH một Thành Viên khai thác
chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Chức năng, nhiệm vụ: Giúp việc cho tổng Giám đốc Công ty về thực hiện nhiệm vụ:
- Thực hiện đúng quy định Luật kế toán, Luật thống kê và quy định củ Điều lệ Công ty
về công tác kế toán – tài chính.
- Kiểm tra, chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ về công tác kế toán – tài chính đối với các
đơn vị trực thuộc Công ty và các Công ty con của Công ty.
Biên chế của phòng: Ngoại trừ Kế Toán trưởng do HĐQT bổ nhiệm, biên chế phòng
còn có Phó phòng và một số nhân viên nghiệp vụ hiện có. Phó phòng do tổng Giám
đốc quyết định bổ nhiệm.
Phòng nhân sự hành chính: gồm 11 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở
sáp nhập 02 Phòng Tổ chức_lao động tiền lương và Phòng Hành chính thuộc Công ty
TNHH một Thành Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước
đây.
- Quản lý theo dõi kỷ thuật, giám sát toàn bộ công tác sữa chữa, bảo dưỡng máy móc
thiết bị, hệ thống điện.
- Trực tiếp quản lý, chỉ đạo về mặt kỷ thuật chuyên môm của Tổ sữa chữa.
Biên chế của phòng: Gồm Trưởng phòng, Phó phòng và một số nhân viên nghiệp vụ
hiện có. Trưởng phòng, Phó phòng do tổng Giám đốc quyết định bổ nhiệm.
Khu vực sản xuất Cam Ranh
Xưởng tuyển rửa cát Cam Ranh: gồm 59 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ
sở kế thừa và tổ chức lại của Xưởng tuyển rửa cát Cam Ranh thuộc Công ty TNHH
một Thành Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
15
16
= 16 =
Chức năng, nhiệm vụ:
- Quản lý, vận hành hệ thống dây chuyền tuyển rửa cát theo kế hoạch sản xuất của Công
ty giao. Đảm bảo đạt năng suất, chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008.
- Quản lý vận hành máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.
Biên chế của Xưởng: gồm Quản đốc, Phó quản đốc, nhân viên kỹ thuật, nhân viên
thanh toán và một số công nhân hiện có. Quản đốc, Phó quản đốc do tổng Giám đốc
quyết định bổ nhiệm.
Xưởng tuyển rửa cát Đầm môn: gồm 22 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ
sở kế thừa và tổ chức lại của Xưởng tuyển rửa cát Đầm Môn thuộc Công ty TNHH một
Thành Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Chức năng nhiệm vụ:
- Quản lý, vận hành hệ thống dây chuyền tuyển rửa cát theo kế hoạch sản xuất của Công
ty giao. Đảm bảo đạt năng suất, chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008.
- Quản lý, vận hành hệ thống băng tải rót cát xuống tàu và phục vụ sản xuất.
- Biên chế của Xưởng: gồm Quản đốc, Phó Quản đốc, nhân viên kỹ thuật, nhân viên
kiểm toán, thanh toán và một số công nhân hiện có. Quản đốc, Phó quản đốc do tổng
Giám đốc quyết định bổ nhiệm.
Đội khai thác: gồm 29 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở kế thừa và tổ
trên cơ sở kế thừa và tổ chức lại của Tổ sữa chữa thuộc Công ty TNHH một Thành
Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Các đơn vị hạch toán phụ thuộc (chi nhánh)
Nhà máy Terrazzo Nha Trang: gồm 35 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở
kế thừa và tổ chức lại của Nhà máy Terrazzo Nha Trang thuộc Công ty TNHH một
Thành Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Nhiệm vụ chính:
- Tổ chức sản xuất gạch ốp lát nền và ngói màu cung cấp cho thị trường xây dựng nội
địa và để xuất khẩu, đảm bảo đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Quản lý chất lượng
- Tổ chức tiếp thị khai thác thị trường tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy trong và ngoài
tỉnh.
Xí nghiệp đá Tân Dân: gồm 46 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở kế thừa
và tổ chức lại của Xí nghiệp đá Tân Dân thuộc Công ty TNHH một Thành Viên khai
17
18
= 18 =
thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Nhiệm vụ chính:
- Tổ chức khai thác đá khối, đá chẻ xây dựng cung cấp cho Nhà máy chế biến đá trong
nước, đảm bảo đạt năng suất, tiêu chuẩn, quy cách theo quy định. Quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008.
- Tổ chức tiếp thị tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp và của Công ty.
Nhà máy chế biến đá Tân Dân: gồm 42 nhân viên, được thành lập dựa trên cơ sở
kế thừa và tổ chức lại của Nhà máy chế biến đá Granite Tân Dân thuộc Công ty TNHH
một Thành Viên khai thác chế biến xuất khẩu Khoáng sản Khánh Hòa trước đây.
Nhiệm vụ chính:
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ chế biến đá ốp lát theo quy cách, tiêu chuẩn quy định.
Đảm bảo đạt năng suất, chất lượng. Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2008.
- Tổ chức tiếp thị, khai thác thị trường tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy trong và ngoài
Ngành nghề kinh doanh:
- Khai thác chế biến Khoáng sản
- Dịch vụ tư vấn địa chất và khai thác mỏ Lộ Thiên
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng
- Xây dựng dân dụng, giao thông thủy lợi
- Dịch vụ khách sạn du lịch và các dịch vụ phục vụ khách sạn du lịch.
Ngành nghề kinh doanh được quy định cụ thể tại ban Điều lệ tổ chức và hoạt
động của Công ty.
1.6 Thuận lợi, khó khăn, mục tiêu định hướng phát triển trong thời gian tới
1.6.1 Thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi
- Kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và ổn định, ngày càng tăng cường hội nhập với
nền kinh tế thế giới.
- Công ty nằm tại khu vực có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho phát triển du lịch. Thành
phố Nha Trang có đường bờ biển cát trắng đẹp nhất nước, biển lặng và sâu trong vịnh
nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão.
- Khoáng sản khu vực miền trung còn tiềm năng khai thác lớn.
19
20
= 20 =
- Nhu cầu thị trường thế giời về cát Silic cũng như đá Granite rất lớn và lâu dài.
- Với bề dày gần 20 năm kinh nghiệm khai thác, chế biến cát Silic xuất khẩu cũng như
khai thác các khoáng sản khác, MINEXCO đã thiết lập được vị trí vững chắc trên thị
trường xuất khẩu.
- Trữ lượng mỏ khai thác và năng lực sản xuất của Công ty lớn.
- Công ty có tiềm lực về tài chính: vốn chủ sở hữu được tích lũy lớn dần qua thời gian,
tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu cao.
- Nội bộ đoàn kết thành một khối thống nhất và mục tiêu phát triển của Công ty. Đội ngũ
lao động lành nghề, có kinh nghiệm.
- Công ty luôn quan tâm đến hiệu quả quản lý: hiện Công ty đã triển khai hệ thống quản
nước, gây dựng hình ảnh tốt trong tâm trí khách hàng.
1.6.2 Mục tiêu định hướng phát triển trong thời gian tới
Công ty khi chuyển sang hoạt động đa ngành. Nhằm phát huy thế mạnh vị trí địa
lý của Khánh Hòa là tiềm năng du lịch và khoáng sản, Công ty xác định chiến lược
kinh doanh như sau:
Trong lĩnh vực khai thác chế biến khoáng sản, Công ty sẽ phải chú trọng vào việc
đầu tư chế biến sâu khoáng sản, trên cơ sở chủ động áp dụng các tiến bộ của Khoa học
kỹ thuật và kinh nghiệm sẵn có. Mặt khác tìm kiếm mở rộng khu vực khai thác khoáng
sản và đa dạng hóa các lọai khóang sản không những trong tỉnh mà còn trên phạm vi
cả nước theo quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản, nhằm phát huy thương
hiệu và uy tín của MINEXCO trên thị trường quốc tế.
Trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, Công ty tập trung các nguồn lực để đẩy mạnh
họat động khai thác dịch vụ du lịch nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch (khách sạn,
nhà hàng, các dịch vụ vui chơi giải trí v.v ), nâng cao chất lượng phục vụ phấn đấu đạt
tiêu chuẩn xếp hạng các cơ sở từ hai sao trở lên. Xây dựng và phát triển thương hiệu
MINEXCO bảo đảm trên cơ sở chất lượng và tin cậy của khách hàng. Triển khai
chương trình quản lý chất lượng và môi trường theo tiêu chuẩn ISO, đưa công ty trở
thành một trong những doanh nghiệp kinh doanh du lịch lớn tại Khánh Hòa.
2. Môi trường kinh doanh của công ty
2.1 Môi trường vĩ mô
2.1.1 Các yếu tố về kinh tế
21
22
= 22 =
Đây là yếu tố có tác động rất lớn và khá nhạy cảm đối với bất kì một Công ty nào
trong tiến trình sản xuất kinh doanh. Mỗi nội dung, mỗi sự thay đổi, mỗi sự điều chỉnh
của yếu tố này đều có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho chính doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển biến tích
cực, tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2005 đến 2008 lần lượt là: 8.44%; 8.23%; 8.46%;
6.23%. Đời sống nhân dân được cải thiện hơn trước, thu nhập bình quân đầu người
đang dần hoàn thiện hơn nữa nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đã đẩy mạnh xây dựng, đổi mới Hiến pháp,
hoàn thiện các bộ luật (luật kinh tế, luật môi trường, luật bản quyền, pháp lệnh vệ sinh
an toàn thực phẩm).
Đồng thời với quá trình xây dựng, sửa đổi các bộ luật cho phù hợp, Chính phủ
cũng đẩy mạnh cải tiến thể chế hành chính. Sau khi thực hiện luật doanh nghiệp năm
1999, Chính phủ đã bãi bỏ hơn 150 giấy phép không cần thiết và nhiều loại phí, lệ phí
không hợp lý, đơn giản thủ tục giấy phép thành lập doanh nghiệp, đã tạo ra môi
trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp.
2.1.3 Các yếu tố văn hóa, xã hội
Đồ dùng nội thất từ đá Granite tuy không phải là nhu cầu thiết yếu của con người
nhưng nó là một trong những sản phẩm sang trọng của người tiêu dùng nói chung và
của giới thượng lưu nói riêng. Do đó, nhu cầu thể hiện mình của con người đã đẩy thị
trường nội thất chuyển biến tích cực hơn trong thời buổi kinh tế khó khăn.
Người miền bắc và miền trung chủ yếu thường làm nhà vào tháng 4, 5, 6, 7 trong
năm. Đặc biệt họ rất quan tâm đến các đồ dùng trang trí nội thất trong nhà. Người miền
nam họ quan tâm tới nội thất trong nhà ít hơn miền bắc. Nhưng cũng không phải là
không có. Do vậy, các Doanh nghiệp cần hiểu rõ để có chiến lược kinh doanh phù hợp
và hiệu quả.
Bên cạnh những người tin tưởng vào hàng hoá trong nước thì vẫn còn những
người chuộng hàng ngoại, họ cho rằng hàng ngoại có chất lượng cao hơn hàng trong
nước. Đây là một cản trở lớn đối với Công ty khi thâm nhập và mở rộng thị trường
2.1.4 Các yếu tố kỷ thuật công nghệ
23
24
= 24 =
So với một số nước trong khu vực và trên thế giới, năng lực nghiên cứu, triển
khai, chuyển giao công nghệ của nước ta còn yếu thế hơn. Đặc biệt công nghệ sinh
học, công nghệ cơ khí, công nghệ chế biến và tự động hoá. Trình độ công nghệ nói
đây là những thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng và ngày càng phát triển. Tuy nhiên,
cũng tiềm ẩn những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp: vừa phải cạnh tranh với
các đối thủ trong nước, đồng thời phải đối mặt với các doanh ngiệp nước ngoài trên thị
trường xuất khẩu và cũng như những mặt hàng ngoại trên thị trường nội địa của mình.
Nếu các Công ty, doanh nghiệp nói chung và MINEXCO nói riêng không chịu theo sát
tiến trình thực hiện AFTA hay WTO cũng như nắm bắt tình hình biến đổi của thị
trường thì có thể đối đầu với những khó khăn, bất lợi không nhỏ.
2.2 Môi trường vi mô
2.2.1 Khách hàng
Khách hàng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược sản
phẩm, là người có ảnh hưởng sâu sắc đến công ty. Họ là người tiêu thụ sản phẩm của
công ty. Không có khách hàng công ty sẽ gặp khó khăn và tệ hại hơn có thể dẫn đến
phá sản. Nếu như sản phẩm của Công ty đưa ra thị trường mà không có nhu cầu hoặc ít
có nhu cầu thì giá có thấp tới đâu mà quảng cáo có hấp dẫn tới mức nào thì cũng không
có ý nghĩa gì hết. Cũng như vậy nếu sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tuyệt hảo nhưng
giá lại quá cao không phù hợp với túi tiền người tiêu dùng thì nó sẽ không được thị
trường chấp nhận. Vì thế khi hoạch định chiến lược sản phẩm, Công ty cần nghiên cứu
phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, sở thích cũng như động cơ mua hàng của từng
khu vực thị trường để có những phương thức bán hàng phù hợp, lôi cuốn người mua và
nếu làm cho người tiêu dùng mua hàng ngay lần đầu tiên thì coi như là một thành công
rất lớn. Có thể phân chia khách hàng của Công ty thành hai loại đối tượng: khách hàng
trung gian (các đại lý) và người tiêu dùng cuối cùng.
Sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp là một tải sản có giá trị nhất
của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó đạt được do nhà doanh nghiệp biết thoả mãn tốt
hơn nhu cầu thị hiếu của khách hàng so với các doanh nghiệp khác.
2.2.2 Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là những người cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ: nhà cung ứng nguyên vật liệu, sức lao động, cung
25