Luận văn tốt nghiệp
"Rủi Ro Tín Dụng & Những Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại
Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Việt Nam"
MỤC LỤC
Luận văn tốt nghiệp 1
"Rủi Ro Tín Dụng & Những Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Nông
Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Việt Nam" 1
MỤC LỤC 2
NỘI DUNG LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm về Tín dụng và TDNH:
1.1.1.1. Khái niệm vế Tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự
phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là sự
vay mượn, trong đó hai chủ thể là người đi vay và người cho vay sẽ thoả thuận
một mức lãi suất và một thời hạn nợ nhất định. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tín
dụng là sự vận động các nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn sản xuất.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quan về tín dụng như sau: tín
dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả vốn và lãi) sau
một khoản thời gian nhất định.
Ban đầu quan hệ tín dụng chủ yếu thể hiện bằng hiện vật và tồn tại dưới
tên gọi là tín dụng nặng lãi. Cho đến khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
ra đời, các quan hệ tín dụng mới có điều kiện phát triển. Tín dụng bằng hiện vật
đã nhường chổ cho tín dụng bằng hiện kim, tín dụng nặng lãi phi kinh tế đã
nhường chổ cho hình thức tín dụng khác như: tín dụng Ngân hàng, tín dụng Nhà
nước…
Mặc dù tín dụng có quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình
thái kinh tế xã hội, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có 3 đặc điểm sau:
Tín dụng trước hết là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền
được đặt ra. Bởi lẽ, đẩy mạnh tiến độ sản xuất không chỉ trông chờ vào nguồn
vốn tự có mà doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn
trong xã hội. Từ đó, tín dụng với với chức năng là nơi tập trung đại bộ phận vốn
nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển. Như
vậy, vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn, nhanh
chóng cho đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung
vốn và tích lũy vốn cho nền kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay cùng với sự phân phối và hợp tác quốc tế ngày
một sâu rộng thì quá trình điều tiết vốn không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc
gia mà hình thành các quan hệ trên cả thế giới.
1.1.2.2. Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả:
Khi thực hiện chức năng trên, tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong
xã hội, tín dụng đã làm giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trông lưu thông. Do
đó tín dụng được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm
giảm lạm phát và ổn định tiền tệ. Mặt khác do cung cấp vốn tín dụng cho nền
kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh
doanh, làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa làm ra ngày
càng nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Chính nhờ đó mà tín
dụng góp phần ổn định thị trường giá cả trong nước.
Bên cạnh đó tín dụng đã tạo điều kiện mở rộng thanh toán không dùng
tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực làm giảm việc sử dụng tiền
mặt trong nền kinh tế, là bộ phận lưu thông tiền mà Nhà nước rất khó quản lý và
nhạy cảm với biến động của nền kinh tế.
Trong những thập niên gần đây, ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát
triển, trong công tác quản lí vĩ mô của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu chính
sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhất định, lãi suất tín dụng đã trở thành một trong
những công cụ điều tiết nhạy bén và linh hoạt để đưa thêm tiền vào lưu thông
hay rút tiền ra khỏi lưu thông. Từ đó tạo ra sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ
với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế.
Như vậy tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định tiền tệ tạo
1.1.3.2.Dựa vào thời hạn tín dụng: theo tiêu thức này tín dụng có thể phân
chia thành các loại sau:
• Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục
đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu
động.
• Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là thường là nhằm tài trợ đầu tư vào tài sản cố
định.
• Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của
loại cho vay này là thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các danh mục đầu tư.
1.1.3.3. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: theo tiêu thức này
tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
• Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng vay vốn để quyết định cho vay.
• Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở có tài sản đảm
bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào
khác.
1.1.3.4. Dựa vào phương thức cho vay: theo tiêu thức này tín dụng có thể
chia thành các loại sau:
• Cho vay theo món hay còn gọi là cho vay từng lần.
• Cho vay theo hạn mức tín dụng.
1.1.3.5. Dựa vào phương thức hoàn trả nợ gốc: theo tiêu thức này tín
dụng có thể được chia thành các loại sau:
• Cho vay chỉ có một kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi
đáo hạn.
• Cho vay có nhiều kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
• Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy
khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất kỳ lúc nào.
1.1.4. Nguyên tắc của TDNH
• Hai là: sử dụng tiền vay đúng mục đích, phù hợp với khối lượng và chi
phí đầu tư theo luận chứng kinh tế kỹ thuật sẽ cho phép đảm bảo tiến độ thi công
và hoàn thành từng hạn mục công trình hay toàn bộ công trình, vừa là nhân tố để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
1.1.4.3. Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn:
Đây là nguyên tắc không thể thiếu của của tín dụng ngân hàng nó được
đặc trên các cơ sở sau:
• Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng ngân hàng thực hiện đi vay
để cho vay nhằm đảm bảo khả năng thanh toán đồng thời tạo thêm nguồn thu để
duy trì sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thì việc thực hiện nguyên tắc hoàn
trả là rất cần thiết đối với mỗi NHTM.
• Trong nền kinh tế thị trường tín dụng hoạt động trên cơ sở kinh doanh,
cho nên ngoài việc hoàn trả vốn vay đơn vị vay phải trả một số tiền ứng với lãi
suất vay.
Tuy nhiên, trên thực tế do tác động của nhiều nguyên nhân khiến cho
đơn vị vay vốn không trả được nợ vay. Để đảm bảo nguyên tắc này, tổ chức tín
dụng buộc đơn vị phải thế chấp tài sản và tiến hành phát mãi tài sản thế chấp để
thu hồi vốn trong trường hợp đơn vị vay không trả được nợ vay. Đối với Ngân
hàng Nông nghiệp tài sản thế chấp thường là quyền sủ dụng đất mà hộ sản xuất
đang canh tác.
1.2. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
Về nhận thức thực tiễn cũng như về lí luận, nếu như nâng cao chất lượng
tín dụng là mục tiêu quan trọng trong hoạt động tín dụng, thì phòng ngừa rủi ro
có thể coi như một giải pháp quan trọng có tính chất quyết định để nâng cao chất
lượng tín dụng. Hai nội dung này tất nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Đây là vấn đề luôn luôn thời sự đối với hoạt động Ngân Hàng ở nước ta, nhất là
trong bối cảnh hiện nay ở nước ta khi tín dụng có xu hướng tăng trưởng nhanh,
lãi suất cho vay cao, doanh nghiệp thành lập nhiều, thị trường diễn biến phức
tạp, nhiều vụ việc xảy ra đối với doanh nghiệp có liên quan đến pháp luật,… thì
lại càng phải quan tâm đồng thời đến mở rộng tín dụng, gắn với nâng cao chất
khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và đúng hạn cả gốc và
lãi thì ngân hàng không bị rủi ro tín dụng. Ngược lại, nếu người vay tiền không
có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ thì rủi ro nảy sinh.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm
nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo
lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính…
1.2.1.2. Rủi ro Lãi suất:
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động của lãi suất hoặc những yếu
tố liên quan đến lãi suất làm tổn thất về tài sản và thu nhập của ngân hàng.
Loại rủi ro này phát sinh trong quan hệ tín dụng của tổ chức tín dụng có
những khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường
tăng khiến chi phí trả lãi của ngân hàng tăng theo. Ngược lại, nếu ngân hàng cho
vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường xuống thấp khiến thu nhập lãi
cho vay của ngân hàng giảm. Rủi ro lãi suất đặc biệt quan trọng khi ngân hàng
huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, hoặc đầu tư tài chính khá lớn và
theo lãi suất thị trường.
Mặt khác, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi
suất thị trường thay đổi. Như chúng ta đã biết, giá thị trường của tài sản Có hay
tài sản Nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị
trường tăng lên thì mức chiếc khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị
hiện tại của tài sản Có và tài sản Nợ giảm xuống. Ngược lại, nếu lãi suất thị
trường giảm thì giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ
hạn của tài sản Có và tài sản Nợ không cân xứng với nhau. Ví dụ tài sản Có có
kỳ hạn dài hơn tài sản Nợ, thì lãi suất thị trường tăng, giá trị tài sản Có sẽ giảm
nhanh hơn nhiếu so với sự giảm của giá trị tài sản Nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản
khi lãi suất thị trường thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất có thể dẫn đến thiệt
hại về tài sản cho ngân hàng.
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như:
Do bất lợi trong cạnh tranh buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động và hạ lãi
suất cho vay để thu hút khách hàng do đó đã làm tăng chi phí và giảm thu nhập
thể dẫn đến những rủi ro về tài sản Nợ cho ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập
của ngân hàng , hoặc làm tăng rủi ro về tài sản Nợ cho ngân hàng.
• Ngoài ra còn có thể do kẻ gian cố ý làm chứng từ giả, truy cập vào
mạng của ngân hàng để ăn cắp tiền nếu không được phát hiện kịp thời thì rủi ro
thanh toán nảy sinh.
1.2.1.4.Rủi ro hối đoái:
Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên.
Những rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến
ngoại ngoại tệ của ngân hàng như: cho vay , huy động vốn bằng ngoại tệ, mua
bán ngoại tệ, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…
Trong các giao dịch ngoại hối và trong cân đối tài sản bằng ngoại tệ của
ngân hàng, bất cứ một trạng thái ngoại hối “trường” hay “đoản” đều có thể gặp
rủi ro hối đoái khi tỷ giá ngoại tệ thay đổi. Nếu ngân hàng ở trạng thái ngoại tệ
trường thì khi ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ có lãi, ngược lại ngân hàng sẽ bị lỗ
khi ngoại tệ đó xuống giá. Nếu ngân hàng ở trạng thái đoản về một loại ngoại tệ
nào đó, khi ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ bị lỗ và ngược lại.
Như vậy việc tạo ra các trạng thái ngoại tệ “trường” hay “đoản” chính là
nguyên nhân gây rủi ro hối đoái cho ngân hàng. Đây chính là kết quả của việc
ngân hàng thực hiện các giao dịch ngoại tệ phục vụ cho khách hàng và cho
chính bản thân mình hoặc ngân hàng huy động vốn bàng ngoại tệ và đầu tư vào
các tài sản Có bằng ngoại tệ.
1.2.1.5. Rủi ro khác:
Ngoài những rủi ro cơ bản trên trong hoạt động của ngân hàng còn chịu
những rủi ro khác như:
• Rủi ro môi trường: là rủi ro do môi trường hoạt động của ngân hàng gây
nên, bao gồm: rủi ro do sự biến động của thiên nhiên ( lũ lụt, động đất ), rủi ro
về kinh tế ( khủng hoảng, suy thoái kinh tế ), rủi ro do sự thay đổi chính sách
pháp luật của Nhà nước gây bất lợi cho ngân hàng. Rủi ro môi trường là những
rủi ro mà ngân hàng khó liểm soát được, chúng có thể làm suy yếu khả năng
chịu đựng rủi ro của ngân hàng hoặc gây cho ngân hàng những thiệt hại về tài
Chính vì lẽ đó mà rủi ro luôn được quan tâm xem xét và quản lý một cách đặc
biệt để nhằm khắc phục hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra trong
hoạt động kinh doanh của mình nhằm nâng cao hiệu quả và lợi nhuận. Đặc biệt,
hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay đã phát sinh nhiều rủi
ro. Bởi vì, Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, luôn
phụ thuộc vào khách hàng, rủi ro của khách hàng vay vốn cũng kéo theo rủi ro
của ngân hàng.
1.2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng:
Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát nó. Rủi ro tín dụng
có những đặc điểm sau:
• Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động
của NHTM. Tính tất yếu có ý nghĩa là ngân hàng có thể phòng ngừa tốt để hạn
chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng chứ không thể loại bỏ nó được.
• Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp. Bởi vì ngân nàng là một định chế tài
chính trung gian, có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nó là một
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền
gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay.
Bởi vậy, khi người vay gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh như: hỏa hoạn, lũ
lụt, chiến tranh, sự đổ vỡ của đối tác, khách hàng tẩy chay sản phẩm của công
ty…dẫn đến thua lỗ, phá sản thì sẽ tác động gián tiếp rủi ro đó cho NHTM, cho
nên nói rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp.
• Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng và phức
tạp của rủi ro tín dụng có thể chia làm nhiều loại như: rủi ro về đạo đức; rủi ro
cơ chế; rủi ro công tác kiểm tra, kiểm soát…
1.2.4. Nguyên nhân phát sinh rủi ro Tín dụng.
1.2.4.1. Nguyên nhân chủ quan:
a. Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Ngân hàng là một ngành kinh
doanh đặc biệt đi vay với lãi suất thấp và sau đó cho vay lại với lãi suất cao hơn
để hưởng chênh lệch lãi suất. Dó đó, ngân hàng luôn xem xét rất cẩn thận trước
Việc phòng tránh rất khó khăn và phức tạp nó do thường những nguyên nhân
sau:
* Đối với khách hàng là cá nhân:
Thiếu năng lực tài chính: khách hàng vay vốn không đủ khả năng tài
chính để trả nợ, dẫn đến việc thu hồi nợ của Ngân Hàng gặp khó khăn.
Thiếu năng lực pháp lý: Khi khách hàng thiếu năng lực pháp lý thì
việc thu hồi nợ của ngân hàng cũng gặp khó khăn do cản trở về thủ tục và thời
gian.
Sử dụng vốn sai mục đích: Đó là việc khách hàng dùng vốn vay của
mình không đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Từ đó dẫn
đến khách hàng có thể làm ăn thua lỗ và không có khả năng trả nợ cho ngân
hàng.
Do ý muốn chủ quan của người đi vay cố tình không trả nợ: Đây là
trường hợp xấu nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng.
Loại nguyên nhân này được xếp vào nguyên nhân rủi ro về đạo đức của người đi
vay. Trên thực tế cho thấy yếu tố đạo đức là nguyên nhân rất quan trọng trong
việc trả nợ vay, người đi vay có thể có khả năng nhưng cố tình không trả nợ, lừa
đảo chiếm đoạt tiền vay của bên cho vay.
Do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn như: bị sa thải, thất nghiệp, tai
nạn lao động…dẫn đến mất đi nguồn thu nhập để trả nợ ngân hàng.
* Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Doanh nghiệp bị mất năng lực pháp lý: Do trong quá trình hoạt động
kinh doanh doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh, dẫn đến sản xuất kinh
doanh không được và không có khả năng trả nợ ngân hàng.
Năng lực chuyên môn và uy tín lãnh đạo của doanh nghiệp bị giảm
thấp, đạo đức nghề nghiệp yếu kém, thiếu quan tâm để thực hiện tốt các khâu
của quá trình tổ chức, điều hành sản xuất kinh doanh hay do sự hạn chế về nghề
nghiệp chuyên môn của nhân viên doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp làm ăn
yếu kém thua lỗ.
Do doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích.
nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng
không trã được nợ. Tuy nhiên, việc phân tích và phân định rỏ ràng nguyên nhân
sẽ giúp ngân hàng có biện pháp xử lý thích hợp để đạt được kết quả tốt hơn.
1.2.5. Hậu quả của rủi ro Tín dụng:
1.2.5.1. Đối với Ngân hàng:
• Về mặt tài chính: do không thu được nợ (gốc và lãi), Ngân hàng bị
giảm doanh thu trong khi vẫn trả tiền lãi (lãi đầu vào) gây mất cân đối trong thu
chi nghiệp vụ. Nợ quá hạn chính là hậu quả Ngân hàng gánh chịu, không thu
được nợ vòng quay vốn tín dụng không thực hiện được, Ngân hàng không có
khả năng đảm bảo vốn lưu động, hạn chế cả vai trò phục vụ lẫn khả năng kinh
doanh của Ngân hàng.
• Về mặt xã hội: từ rủi ro tín dụng dẫn đến rủi ro thanh khoản làm mất
lòng tin trong nhân dân gây ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng gửi tiền. Một khi
xảy ra trường hợp này khách hàng sẽ đồng loạt đến rút tiền một cách ồ ạt tại
Ngân hàng và làm xáo trộn hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nếu Ngân
hàng không có biện pháp đối ứng kịp thời thì sẽ làm cho toàn bộ hệ thống của
Ngân hàng sụp đỗ. Đối với cơ quan quản lý cấp trên, Ngân hàng sẽ bị mất lòng
tin, không tin tưởng vào hoạt động của Ngân hàng cơ sở.
• Do tâm lý làm ăn thua lỗ, tâm lý của cán bộ, công nhân viên chán
nản, không tin tưởng vào khả năng hoạt động của chính mình làm cho thu nhập
của họ ngày một giảm sút, mất công ăn việc làm …có thể dẫn đến phá sản của
Ngân hàng.
1.2.5.2. Đối với nền kinh tế:
Hoạt động của Ngân Hàng có liên quan trực tiếp đến nền kinh tế, các xí
nghiệp và dân cư. Vì vậy khi rủi ro làm phá sản một số ngân hàng từ đó lan sang
các ngân hàng khác làm cho dân chúng mang một tâm lý sợ hãi nên dẫn đến tính
trạng rút tiền trước thời hạn. Như thế hệ thống ngân hàng bị rung chuyển và sẽ
tác động xấu đến nền kinh tế. Giá cả biến động, việc sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp bị đình đốn, khả năng trả nợ gặp khó khăn dẫn đến tình trạng đóng
cửa làm cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, tệ nạn xã hội bùng phát, đồng
càng tốt cho hoạt động ngân hàng, khi đó ngân hàng sử dụng một cách hiệu quả
nguồn vốn huy động.
1.2.6.4. Hệ thu nợ: (%)
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ = x 100
Doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng hay khả năng trả
nợ vay của khách hàng, cho biết số tiền mà ngân hàng thu được trong một thời
kỳ kinh doanh nhất định từ một đồng doanh số cho vay. Hệ số thu nợ càng lớn
thì càng được đánh giá tốt, cho thấy công tác thu hồi vốn của ngân hàng càng
hiệu quả và ngược lại.
1.2.6.5. Vòng vay vốn tín dụng: ( vòng )
Doanh số thu nợ
Vàng vay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đồng vốn tín dụng thông qua tính
luân chuyển của nó, đồng vốn được vay vòng càng nhanh thì càng hiệu quả và
đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
1.2.6.6. Hệ số rủi ro: ( % )
Tổng dư nợ
Hệ số rủi ro = x 100
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng đầu tư vào cho vay của ngân hàng so với tổng
nguồn vốn, hay là dư nợ cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn
vốn sử dụng của ngân hàng. Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một
đồng tài sản. Tỷ lệ này quá cao hoặc quá thấp đều không tốt. Nếu quá cao, ngân
hàng gặp rủi ro sẽ ảnh hưởng đến doanh thu còn quá thấp thì ngân hàng chưa thể
hiện tốt vai trò của mình. Ngoài ra chỉ số này còn giúp xác định quy mô hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
1.2.6.7. Tỷ lệ nợ quá hạn: ( % )
2.1.1. Vị trí địa lý và Điều kiện tự nhiên.
2.1.1.1.Vị trí địa lý:
Huyện Lai Vung thuộc 12 huyện thị của Tỉnh Đồng Tháp thuộc khu vực
Đồng Bằng Sông Cửu Long, với hệ thống sông ngòi chằn chịt, nằm ở vị trí rất
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của huyện. Trong những năm gần đây
huyện có những bước phát triển đáng kể về giao thông nông thôn được sữa chữa
xây dựng mới, các tuyến đường nhựa được khởi công từ huyện đến các xã mạng
lưới điện cũng được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
của vùng.
Phía Đông giáp với Thị Xã Sa Đéc và huyện Châu Thành
Đồng Tháp.
Phía Bắc giáp với huyện Lấp Vò Đồng Tháp.
Phía Tây giáp với Thành Phố Cần Thơ.
Phía Nam giáp với huyện Bình Minh Vĩnh Long.
2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên, dân số & diện tích:
Huyện thuộc vùng Đồng Bằng có địa hình tương dối bằng phẳng nên rất
thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, có hơn 70% dân số sống bằng
nghề nông nên kinh tế của vùng hầu hết là kinh tế nông nghiệp nông thôn. Khí
hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Với lợi
thế nằm ven sông Hậu có hệ thống sông ngòi dày đặc được phù sa bồi đắp hàng
năm nên đất đai rất màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thuỷ sản.
Huyện Lai Vung có diện tích 219,77km
2
. Đất sản xuất nông nghiệp là
18.180ha với dân số 259.948 người, mật độ dân số trung bình là 726người/ km
2
.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội:
Lai Vung là một huyện nông thôn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, diện
huyện Lai Vung.
Đến ngày 23 tháng 05 năm 1990 pháp lệnh, hợp tác xã tín dụng, công ty tài
chính ra đời, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp huyện Lai Vung được xem là
thương mại ngoài quốc doanh và được đổi tên thành chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lai Vung.
Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lai Vung
là NHTM hoạt động theo pháp luật với phương châm “ kinh doanh để phục vụ,