…………..o0o…………..
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Thuế quan(Thuế NK) Việt nam
trong quá trình hội nhập AFTA
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã trở thành một
xu thế khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới và đang cuốn hút toàn
thể nhân loại hoà vào dòng chảy của nó. Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển, nhưng
cũng đặt mỗi nước phải đối mặt với không ít khó kh
Các lực lượng kinh tế, chính trị và công nghệ mạnh nắm chắc hầu hết các nền
kinh tế quan trọng của thế giới đang gia tăng thúc giục sự hội nhập toàn cầu của các
nền kinh tế.
Một nền kinh tế toàn cầu, cũng đòi hỏi trật tự chính trị thế giới ứng với nó.
Kinh tế toàn cầu về mặt lô gíc biện chứng sẽ làm cho nhi
ều quyết định quốc gia về
chính sách sản xuất, tài chính, thương mại, đầu tư, viện trợ Nhà nước vv... được đặt
trong sự thoả thuận quốc tế, trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Quốc tế còn bàn
và quyết định cả những vấn đề về trốn thuế, chiếm đoạt bản quyền, tội phạm xuyên
biên giới, rửa tiền, tham nhũng.
WTO kh
ởi xướng một vòng đàm phán toàn cầu mới, vòng đàm phán thiên
niên kỷ bắt đầu với Hội nhập Bộ trưởng của các nước thành viên WTO họp vào
tháng 11/1999. Mục đích đàm phán là mở rộng thị trường một cách đáng kể trong
lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, hàng nông nghiệp, minh bạch trong mua sắm của
chính phủ, đẩy nhanh tự do hoá thuế quan.
Ngay cả trong APEC, nhiều vấn đề về kinh tế - thương m
ại quốc tế như các
vấn đề về nông nghiệp, dịch vụ, thuế quan hàng công nghiệp, thương mại điện tử,
thuận lợi hoá thương mại, đã được Hội nghị Cấp cao ở Newzealand đẩy nhanh hơn
về tự do hoá và chuyển sang để đàm phán trong khuôn khổ WTO.
Khi vòng đàn phán thiên niên kỷ mới bắt đầu, khả năng gia nhập WTO của
một nước sẽ khó khăn h
ơn; các quy định của WTO về kinh tế - thương mại quốc tế
sẽ càng chặt chẽ hơn, luật chơi mới cho thương mại thế giới trong thế kỷ 21 sẽ càng
nghiêm khắc hơn.
Toàn cầu hoá dẫn đến siêu cạnh tranh trong thương mại. Việc hạ thấp các
hàng rào bảo hộ đẩy các nền kinh tế vào cạnh tranh toàn cầu.
Trong bối cảnh này, việc cải cách thuế quan ở Việt Nam theo nh
ững quy định
CHƯƠNG I
AFTA VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẢI CÁCH THUẾ
QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA
I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
1. Từ hiệp định ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) đến CEPT - sự hình
thành AFTA.
Ngay từ thời kỳ đầu, các nước ASEAN đã thấy được tầm quan trọng to lớn, vì
thế đã chú trọng xây dựng, tăng cường liên kết kinh tế nói chung, thương mại nói
riêng giữa các nước trong khối.
Hiệp định ưu đãi thương mại là văn kiện quan trọng
đầu tiên của ASEAN
nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực. Hiệp định này không đặt ra những mục
tiêu đặc biệt như các hiệp định ưu đãi buôn bán khác của các nước đang phát triển,
mà cố gắng thiết lập một cơ chế giúp hoạt động thương mại trong phạm vi ASEAN
được tự do hoá từng bước, phù hợp với khả năng của thành viên.
Ban đầu, các nước thực hiện ư
u đãi với từng sản phẩm được lựa chọn theo
phương pháp lập bảng ma trận và phương pháp tự nguyện. Theo Hiệp định, tổng số
71 mặt hàng được ưu đãi, trong đó 21 mặt hàng được hưởng quy chế của PTA theo
phương pháp ma trận và 50 mặt hàng theo phương pháp tự nguyện.
Sau năm 1980 các nước ASEAN hướng vào tự do hoá thương mại hơn nữa,
chuyển từ phương pháp tự nguyệ
n và lựa chọn từng sản phẩm sang ưu đãi toàn bộ
với mọi thành viên, hiệu quả hơn. Mức giảm 20% thuế cho tất cả các thành viên
được thông qua đối với 6000 sản phẩm với giá trị dưới 500.000 USD. Mức giới hạn
này tăng dần từ 500.000USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu. Năm 1984 người ta
chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị
buôn bán vượt
10 triệu USD. Tới tháng 6 -1986, có tất cả 12647 sản phẩm của nước ASEAN được
hưởng ưu đãi theo PTA. Một nửa số nước này giảm thuế 20 - 25% các hàng khác
lệ buôn bán dựa trên PTA chiếm 5% tổng giá trị ngoại thương. Đó là
nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai là việc cắt giảm thuế chưa đạt tới mức độ cần thiết để
tạo ra những kích thích mạnh mẽ việc buôn bán. Các nước dường như chỉ ưu đãi các
mặt hàng với vai trò ít quan trọng trong buôn bán quốc tế và khu vực. Ví dụ, Thái
Lan dành sự ưu đãi lớn cho việc nhập khẩ
u gỗ, mặt hàng mà nước này không hề
nhập. Cũng như vậy, các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh lớn cũng không được
ưu đãi. Trong khi đó, việc giảm thuế chỉ hướng vào các ngành khá nhỏ.
Nhận thấy quan hệ hợp tác kinh tế bắt đầu rơi vào trạng kém khả quan, bó hẹp
trong những mục tiêu ngắn hạn, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ ba năm 1989 tại
6
Manila đã nhấn mạnh tới một số vấn đề gây cấn cản trở việc thực hiện PTA. Tại hội
nghị này, các vấn đề về việc hoàn thiện PTA đã được thảo luận. Các nước thành viên
cam kết thực hiện cắt giảm số lượng mặt hàng nằm trong danh mục hạn chế chỉ còn
lại 10% và giá trị của chúng không vượt quá 50% tổng giá trị buôn bán trong khu
vực. Th
ủ tục đưa các mặt hàng mới vào danh sách được ưu đãi của PTA cũng thay
đổi từ việc xem xét hàng năm sang chương trình 5 năm (từ 1988 đến 1992).
Sau một thời gian thực hiện chương trình này, đã có một số tiến bộ. Số mặt
hàng ưu đãi tăng, mức tăng thay đổi theo từng nước.
Tuy nhiên, không phải cả các nước đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời đi
ểm
đó, sự đóng góp của PTA đối với buôn bán trong khu vực, xét về giá trị tuyệt đối
cũng như tỷ trọng vẫn còn ít. Mắc tăng nhapạ khẩu và xuất khẩu giữa các nước còn
thấp. Ví dụ tỷ trọng xuất khẩu của Indonesia tới các thành viên theo PTA chỉ tăng từ
1,4% năm 1986 lên 3,5% năm 1989. Trong khi đó tỷ trọng nhập khẩu còn thấp hơn,
từ 1,2% lên 1,6%. Tuy nhiên nhịp độ tă
ng trưởng này cũng vào loại khá so với mức
nguyên tắc, Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thông qua
tháng 10 - 1991 thay thế choi PTA.
Theo hiệp định CEPT , các nước ASEAN thoả thuận giảm thuế quan trong
thương mại nội bộ ASEAN xuốn còn từ 0% đến 5%, loại bỏ các hạn chế về định
lượng và các hàng rào phi thuế quan, đồng thời tăng cường hợ
p tác trong lĩnh vực
hải quan. Chương trình thực hiện CEPT ban đầu được dự kiến kéo dài trong vòng 15
năm, bắt đầu từ 1/3/1993, hoàn thành vào 1/1/2008. Tuy nhiên, với những kết quả
khả quan theo hướng đẩy mạnh tự do hoá thương mại của các vòng đàm phán U
rugoay, trước những bước tiến nhanh của Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ
(NAFTA) và kế hoạch tự do hoá thương mại đầy tham vọng nhưng cũng rấ
t khả thi
của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), tại Hội nghị Bộ
trưởng ASEAN lần thứ 26 họp tại Thái Lan (tháng 9/1994), các nước ASEAN đã
thống nhất về nguyên tắc sẽ hoàn thành thực hiện AFTA sớm hơn, kết thúc vào năm
2003. Quyết đinh này đã được chính thức hoá tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần IV
họp vào tháng 9/1995 tại Bangkok. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN chính thức lần thứ
VI họp tại Hà Nội tháng 12/1998, các nước ASEAN đã thống nhất đẩy nhanh hơn
nữa tiến trình thực hiện AFTA.
Tổng thư ký hiệp hội các nước Đông Nam Á Rodoflo Severino đề nghị
ASEAN nên đẩy nhanh thời hạn chót đề ra đến hết năm 2010 phải xoá bỏ mọi hàng
rào thuế quan nhằm đương đầu với sự cạnh tranh ngày càng tăng vào đầu tư. Phát
biểu tại diễn đàn thông tin tại Manila, Ông Severino cho biết n
ếu đợi đến năm 2010
ASEAN mới dỡ bỏ mọi hàng rào thuế quan trong khi các nước đưa ra thời hạn chót
8
mới vì cho rằng thời hạn này sẽ do các nước thành viên ASEAN đề ra. Năm 1993,
ASEAN đã đề ra một kế hoạch giảm thuế quan để thành lập khu vực tự do thương
ng thuế quan chung trong khuôn khổ AFTA, các
quốc gia thành viên ASEAN sẽ có thể tạo ra được sự tương hợp, phát huy được lợi
9
thế so sánh của mình trong quá trình tổ chức sản xuất và phân công lao động khu
vực.
2. Các mục tiêu cơ bản của AFTA
AFTA được thiết lập nhằm vào các mục tiêu cơ bản sau đây:
Tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN
Đây là mục tiêu đầu tiên, được thực hiện bằng cách loại bỏ hàng rào thuế quan
và phí thuế quan, nhờ đó sẽ mang lại cho các quốc gia ASEAN một thị trường rộng
hơn, th
ị phần thương mại lớn hơn.
Có thể thấy rằng công nghiệp hoá đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán
giữa các nền kinh tế ASEAN. Người ta tính rằng, vào đầu những năm 90, phần xuất
khẩu nội bộ ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đã đạt
khoảng 20%. Khuynh hướng liên kết thương mại khu vực ngày càng trở nên mạnh
mẽ. Hơn nữa, do đặc tính hướng ngoại của n
ền kinh tế ASEAN, các nền kinh tế này
sẽ thuận lợi hơn trong việc tiến tới tự do hoá. Điều này mặc dù không thể giúp các
quốc gia thành viên ASEAN đạt được những thoả thuận thương mại lớn cho thị
trường khu vực như EU, AFTA, song chí ít nó cũng hỗ trợ cho các quốc gia này đẩy
nhanh tăng trưởng, thay đổi cơ cấu, bổ sung lẫn nhau theo hướng trở thành một đối
tác cạnh tranh có ưu thế so v
ới các thị trường khu vực khác.
Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Đây là mục tiêu trọng tâm của AFTA. AFTA sẽ tạo dựng một thị trường thống
nhất trong ASEAN, cho phép thúc đẩy quá trình hợp lý hoá, chuyên môn hoá sản
xuất trong nội bộ khu vực, phát huy và khai thác các thế mạnh của nền kinh tế thành
viên. Thực hiện mục tiêu này nằm giải quyết ba vấn đề:
Để thấy được vai trò của cải cách thuế quan, trước hết xét tác động của việc
duy trì hệ thống thuế quan có thuế xuất cao đối với các hoạt động kinh tế.
Thuế quan với thuế suất cao làm tăng đáng kể giá hàng nhập khẩu, tạo điều
kiện cho các nhà sản xuất nội địa tă
ng giá hàng của mình bằng mức giá sau thuế cua
hàng nhập khẩu cùng chủng loại. Giá hàng hoá trong nước tăng, người tiêu dùng
chịu thiệt. Đồng thời, dẫn tới tình trạng sử dụng không hiệu quả các nguồn lực kinh
tế, do các ngành được bảo hộ sẽ có khả năng chi trả cao hơn lao động, đất và vốn so
với các ngành không được hay được bảo hộ ở mức thấp hơn. Điều này không chỉ
làm tăng giá các nguồn tài nguyên khan hiếm mà việc phân bổ chúng cũng không
chính xác vì những dòng tài nguyên này sẽ chảy sang các lĩnh vực kém hiệu quả hơn
của nền kinh tế.
11
Như vậy, thuế quan cao tác động tới toàn bộ nền kinh tế, tới giá các mặt hàng
chịu thuế và phổ biến hơn là giá các yếu tố sản xuất. Ngoài gia các nhà sản xuất cà
cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho xuất khẩu sẽ phải chịu tác động mạnh bởi vì thuế
cao sẽ làm tăng chi phí tiêu thụ hàng hoá, trong khi đó giá xuất khẩu đựoc định bằng
mức cạnh tranh quốc tế, như v
ậy lợi nhuận sẽ giảm. Nói cách khác, thuế quan cao có
tác động hạn chế xuất khẩu.
Để hạn chế tác động tiêu cực của chế độ bảo hộ bằng hàng rào thuế quan cao,
các quốc gia đã tiến hành cải cách thuế quan và áp dụng hệ thống thuế quan “thấp và
đồng nhất”. Đây là một hệ thống thuế mà khoảng cách giữa mức thuế suất cao nhất
và thấp nhất có xu hướng thu h
ẹp và thuế xuất trung bình giảm dần xuống tưới mức
hợp lý. Cải cách thuế quan theo hướng này đã được áp dụng trong suốt những năm
80 tại Châu Mỹ - La Tinh, Châu Á, Châu Phi và gần đây là ở Đông Âu.
Vòng đàm phán Urugoay và cá thoả thuận thương mại khu vực như
CEPT/AFTA đã tạo thêm động lực cho quá trình cải cách này.
Các sản phẩm được chia thành 3 nhóm: giảm nhanh, giảm thông thường và
nhóm loại trừ tạm thời. Trong số 44095 mặt hàng đượ
c trình cho ban thư ký ASEAN
vào tháng 12 năm 1993, có 14855 mặt hàng thuộc nhóm giảm nhanh, 25918 mặt
hàng thuộc nhóm giảm thông thường và 3322 mặt hàng thuộc nhóm còn lại. Các sản
phẩm nông nghiệp chưa chế biến không được đưa vào Hiệp định CEPT -1992.
Tháng 12 năm 1995, Hiệp định CEPT đã có những sửa đổi lớn bao gồm:
- Xây dựng lại danh mục các hàng hoá loại trừ tạm thời.
- Mở rộng phạm vi hàng hoá tham gia CEPT, gồm cả các sản phẩm nông
nghiệp chư
a chế biến.
- Thành lập nhóm các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm. Các mặt
hàng này được áp dụng một cơ chế tự do hoá riêng.
- Rút ngắn thời gian hoàn thành AFTA trước 5 năm, tức là kết thúc vào năm
2003.
Đến tháng 12 năm 1995, có khoảng 89% toàn bộ các sản phẩm xuất nhập
khẩu thuộc Danh mục giảm thuế nhanh và giảm thông thường 7,1% thuộc Danh mục
loại trừ tạm thời và 2,9% là các sản phẩm nông ngh
ệp chưa chế biến ( gồm cả các
loại sản phẩm nhạy cảm). 1% còn lại thuộc Danh mục loại trừ hoàn toàn, không
tham gia CEPT. Dự tính đến năm 2003 sẽ có 99% các sản phẩm xuất nhập khẩu
được đưa vào CEPT.
13
Như vậy, những quy định về cải cách thuế quan trong Hiệp định CEPT sửa
đổi sẽ được áp dụng đối với mọi sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả các hàng
hoá cơ bản và các sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến. Tuy nhiên, trong khung
hiệp định đó, CEPT được nhấn mạnh cho các mặt hàng công nghiệp chế biến. Các
sản phẩm công nghiệp chế biến là đố
i tượng chủ yếu được thụ hưởng các ưu đãi của
14
thuế nhanh và giảm thuế bình thường nếu được thực hện, về căn bản, gần như đã
hoàn thành tỷ suất tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN.
Điều đáng lưu ý ở đây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nước thành
viên ASEAN đã đề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là không nhất
thiết phải tuân thủ theo hai kênh đồ
ng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế
suất cần cắt giảm qua từng thời kỳ. Mà tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của từng nước,
có thể xây dựng lịch trình cắt giảm thích hợp, miễn sao giảm nhanh thuế suất còn 0
- 5% trước năm 2003, sớm hơn càng tốt.
Năm 1999, Hội đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó như một sáng kiến nh
ằm
đáp ứng các yêu cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thương mại ASEAN
trước thời hạn. Ngày 8/3/1999 Hội đồng AFTA quyết định các nước ASEAN cũ sẽ
hoàn thành cắt giảm thuế quan xuống mức cơ sở 0% vào 2001. Tính tới tháng
4/1999, 73% tổng số các mặt hàng chịu thuế của ASEAN đã đựoc giảm thuế suát
xuống còn từ 0 - 5%. Tính trung bình thuế suất ASEAN là 4,5% và năm 2000 giảm
xuống m
ức 3,7%.
- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (danh mục loại
trừ tạm thời). Xuất phát từ hoàn cảnh của từng quốc gia thành viên và để tạo điều
kiện thuận lợi cho các nước naỳ có thời gian ổn định trong một số lĩnh vực cụ thể
như : Tiếp tục các chương trình đầu tư đã được đưa ra trước khi tham gia k
ế hoạch
CEPT hoặc có thời gian để hỗ trợ cho sự ổn dịnh thương mại, hoặc để chuyển hướng
sản xuất đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu. Hiệp định CEPT đã được
phép các nước ASEAN được đưa ra một số sản phẩm tạm thời chưa thực hiện tiến
trình giảm thuế theo kế hoạ
ch CEPT. Các sản phẩm trong Danh mục này sẽ không
được hưởng ưu đãi. Sau 5 năm, hàng hoá loại trừ tạm thời phải được chuyển sang
công nghiệp chế tạo và các sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội
dung của sản phẩm có ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ n
ước thành viên ASEAN nào
đều nằm trong Danh mục sản phẩm trong kế hoạch CEPT vào một cách tự động
được đưa vào kế hoạch giảm thuế CEPT. Tuy nhiên, một nước thành viên cũng có
thể loại trừ một số sản phẩm không tham gia Hiệp định CEPT và xếp vào Danh mục
loại trừ hoàn toàn.
Các sản phẩm là những sản phẩm được xem là cần thiết để bảo vệ an ninh
quốc gia, bảo vệ đạo đứ
c cộng đồng, sức khoẻ, sự sống của con người và động thực
vật, ảnh hưởng đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử
hay khảo cộ. Theo Chương trình CEPT, việc cắt giảm thuế cũng như xoá bỏ các biện
16
pháp phi thuế quan đối với những mặt hàng này sẽ không được xem xét đến. Quy
định này giống điều XX của hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT).
Để đơn giản hoá, tháng 9/1996 ASEAN trao quyền cho các nước tự thiết lập
lịch trình giảm thuế của mình cho đến naưm 2003. ASEAN ước tích rằng, khi thực
hiện AFTA từng nước sẽ có thuế suất ưu đãi trung bình có hiệu lực chung ( thuế suất
CEPT) vào năm 2003 như bảng sau:
Bảng 1: Thuế suất CEPT trung bình của từng nước
Nước Năm 1996 Năm 2003
Brunei 1.57 0.84
Indonesia 9.05 3.72
Malaysia 4.62 1.97
Philippines 9.22 3.72
Singapore 0.00 0.00
Thái Lan 14.41 4.63
Việt Nam 12.7 9.3
ASEAN 5.68 2.25
ASEAN:
- Máy móc, các thiết bị điện tử (HS 84 - 85)
- Khoáng sản (HS 25 - 27)
- Các sản phẩm sắ
t thép (HS 72 - 83)
- Dệt may (HS 50 - 63)
- Hoá chất (HS 28 - 38).
Các mặt hàng trên đều có tỷ lệ thuế suất CEPT trung bình từ 0 - 5 % vào
năm 2000. Chỉ có 5 mặt hàng không có thuế suất nằm trong khoảng 0 - 5% vào năm
2000 là:
- Lương thực (HS 16 / 24)
- Gỗ (HS 44 - 64)
- Giầy dép (HS 63 - 67)
- Vũ khí (HS 93)
- Các sản phẩm chế biến hỗn hợp (HS 94 - 96)
Xét về tỷ lệ % các sản phẩm tham gia CEPT, các nước ASEAN 6 đều có tỷ lệ
của các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế ngay chi
ếm khá cao, từ 85,7%
(Philippine) tới 98,4% ( Thái Lan). Thái Lan quy định 8996 mặt hằng chịu thuế
thuộc Danh mục giảm thuế ngay, cao nhất trong các thành viên ASEAN6 và có mức
thuế CEPT trung bình ban đầu (năm 1993) cao nhất là 14,41%. Tiếp đó là
18
Philippine, thuế suất CEPT trung bình của Philipine theo lịch trình sẽ giảm từ mức
9.22% trong năm 1966 xuống còn 3.72% vào năm 2003. Singaopore và Brunei có
mức thuế suất trung bình của nhóm các mặt hàng trong Danh mục giảm thuế ngay là
thấp nhất, tiếp sau đó là Malaysia.
Danh mục loại trừ tạm thời: Ban đầu một số nước ASEAN 6 phải chịu sức ép
mạnh từ một số tập đoàn kinh doanh lớn. Họ cản trở việc tham gia AFTA c
ủa các
nhạy cảm cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết: thuế suất khởi
điểm và thuế suất cuối cùng cho các mặt hàng thuộc nhóm nhạy cảm cao liên quan
đến vấn đề loại bỏ các hạn chế định lượng và các rào cản phi thuế quan khác, và sẽ
cần phải làm gì đối với các mặt hàng này trước năm 2001 và 2003.
20
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG GIA NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM
QUAN HỆ TM HOÁ VIỆT NAM – ASEAN:
1. Tình hình chung ASEAN
Tổng thư ký ASEAN, Rodolfo C. Severino nhận xét: nhờ cải cách sâu sắc
trong nội bộ để hội nhập, Đông Nam Á đã được củng cố vững chắc với viễn cảnh
tăng trưởng ổn định. Giờ đây Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang là một thị
trường rộng mở đối với Đông Nam Á và Thái Bình Dương.
Ngày nay, điều mà chúng ta nhìn th
ấy ở ASEAN là một khu vực an toàn và ổn
định. Điểm nổi bật của nền kinh tế là sự hội nhập trong khu vực với một viễn cảnh
tăng trưởng ổn định do trong khu vực này đang diễn ra sự cải cách và hội nhập một
cách sâu sắc. Một nhà đầu tư nào đó mong muốn có một tài năng trong lĩnh vực kỹ
thuật cao, tính hiệu quả trong các loại hình dịch v
ụ, nhiều loại vật liệu thô hay giá
nhân công rẻ có thể tìm thấy ở một hay nhiều quốc gia khác trong ASEAN. Có sự
đầu tư thì toàn bộ Đông Nam Á là thị trường, bởi vì thị trường đó ngày càng hội
nhập. Đó là lý do tại sao khi nói thị trường ASEAN cũng là nói đến nền kinh tế
ASEAN. Khu vực thương mại tự do ASEAN (còn gọi là AFTA) về cơ bản đã trở
thành hiện thực với hơn 85% loại thuế
nhập khẩu trong hệ thống AFTA đã nằm
trong danh mục loại thuế nhập khẩu tối thiểu. Số lượng hàng hoá nằm trong danh
ập thị trường quốc tế, tạo lập môi trường pháp lý ổn định để
phát triển kinh tế, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Về tình hình phát triển kinh tế:
Từ ổn định về thị trường, Việt Nam ta sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng
những kế hoạch đầu tư, sản xuất, giải quyết việc làm, phát triể
n kinh tế. Hoạt động
xuất nhập khẩu đạt được mục tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng (kim ngạch xuất
nhập khẩu thời kỳ 1991 -1995 tăng gấp 2-2,5 lần so với 5 năm trước;năm 2000 kim
ngạch xuất khẩu đạt 14,45% tỷ USD, tăng 6 lần so với năm 1990 – 2,4 tỷ USD. Nhịp
độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 18,4% /năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưở
ng GDP
khoảng 2,6 lần). Cơ cấu xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các mặt
hàng chế biến (tăng từ 8% năm 1991 lêm 40% vào năm 2000). Nhập khẩu đã góp
phần phục vụ sản xuất và đổi mới công nghệ (tư liệu sản xuất hiện nay chiếm
khoảng 95% kim ngạch nhập khẩu trong đó máy móc thiết bị 26-27%, nguyên nhiên
vật liệu khoảng 60% , khoả
ng 4% còn lại là hàng tiêu dùng), thúc đẩy nâng cao chất
22
lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá. Tình trạng nhập siêu đã giảm cả về giá trị
tuyệt đối lẫn tương đối. Chủ trương đa dạng hoá thị trường và đa phương hoá quan
hệ kinh tế được thực hiện tương đối thành công.
Có được những thành tựu trên là do công cuộc đổi mới thúc đẩy, lực lượng
sản xuất phát triển , cơ cấu sản xuất
được chuyển dịch dần tạo điều kiện đẩy mạnh
xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu.Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại. Cụ
thể là quy mô xuất khẩu còn nhỏ so với các nước trong khu vực . Cơ cấu hàng hoá
còn lạc hậu, tỷ trọng hàng thô, hàng sơ chế và hàng gia công còn cao. Khả năng cạnh
tranh hàng hoá còn thấp. Nhập khẩu chưa thay đổi được mộ
t cách cơ bản tình trạng
ASEAN có nền kinh tế phát triển, điều đó cũng chính là thách thức đối với Việt nam
khi gia nhập AFTA.
II. NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH THUẾ QUAN
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN AFTA Ở VIỆT NAM.
Hệ thống thuế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi và có nhiều cải
cách, đặc biệt bắt đầu thực hiện AFTA.
1. Hệ thống thuế Việt Nam trước khi thực hiện AFTA
Từ năm 1995, khi Việt Nam gia nhập ASEAN cam kết thực hiện chương trình
CEPT.AFTA, Nhà nước đặc biệt quan tâm điề
u chỉnh thuế nội địa, ban hành và sửa
đổi các sắc thuế nhằm hỗ trợ cải cách thuế xuất nhập khẩu theo cam kết thực hiện
CEPT/AFTA.
Các đặc điểm chủ yếu của hệ thống thuế Việt Nam trước khi thực hiện AFTA
Hệ thống thuế Việt Nam có 4 nét nổi bật sau:
- Các loại thế doanh thu và thuế lợi tức còn quá phức tạp, có nhiều chế độ
miễn, giảm thuế và quá nhiều mức thuế.
- Thuế tu từ các doanh nghiệp Nhà nước chiếm một tỷ trọng lớn.
- Tính hệ thống giữa các chính sách thuế chưa chặt chẽ, vừa không bao quát
hết được các nguồn thu, thậm chí thất thu nghiêm trọng, chưa bảo đảm thuế là nguồn
thu chủ yếu, vừa có những điểm bất hợp lý, trùng lặp, thuế đánh trên thuế nhưng
doanh thu.
- Nhi
ều vấn đề còn chưa được công khai trong công tác hành chính và thu
thuế. Điều này cộng với tính quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại đôi chút của các cấp
và các cơ quan khác dẫn tới thuế có tính chất “khoản đóng góp mang tính thương
lượng”. Chứ không mang tính khách quan.
24
tính trên gia bán hàng hoá dịch vụ chưa có GTGT. Như vậy, thuế GTGT khắc phục
đượ
c nhược điểm thu trùng lắp của thuế Doanh thu.
- Đối với hàng sản xuất để xuất khẩu không những không phải nộp thuế
GTGT mà còn được khấu trừ hay hoàn toàn GTGT đầu vào nên tạo điều kiện hạ giá