LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã trở thành một
xu thế khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới và đang cuốn hút toàn
thể nhân loại hoà vào dòng chảy của nó. Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển, nhưng
cũng đặt mỗi nước phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó vấn đề xoá bỏ hàng
rào thuế quan nhằm thực hiện tự do hoá thương mại toàn cầu đang là một thách thức
to lớn. Việc cắt giảm thuế quan không chỉ ảnh hưởng đến tính hệ thống của chính
sách thuế nói chung mà điều quan trọng hơn, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và sự thay đổi của chính sách kinh tế xã hội của đất nước.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các
Đông Nam Á (ASEAN) và cam kết bắt đầu thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có
hiệu lực (CEPT) do khối Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996,
hoàn thành vào năm 2006.
Tham gia AFTA và hoạt động trong ASEAN, Việt Nam đồng thời là thành
viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), đã gia nhập diễn dàn kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC), ký kết Hiệp định Thương mại Hoa kỳ tại Washington
có hiệu lực kể từ ngày 13/7/2000 và đang đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO)
Việt Nam hội nhập các tổ chức kinh tế quốc tế trong một bối cảnh mới, trước
những thách thức mới.Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế phát triển
còn ở mức thấp, đang trong quá trình chuyển đổi.
Hội nhập mang lại sự tăng trưởng, phát triển, nhưng phải đối đầu với những
vấn đề phát sinh do hội nhập, cạnh tranh, thậm chí do khủng hoảng kinh tế - tài
chính gây ra đối với nền kinh tế của đất nước. Ảnh hưởng của sự hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế là quan trọng, nhưng nói chung thì nó không thâu tóm được
những ảnh hưởng đối với từng ngành, đặc biệt đối với ngoại thương.
Toàn cầu hoá với quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, không ngừng.
Nó không đơn thuần là xu hướng, mà là xu hướng hối thúc các nước hội nhập
mạnh hơn cả về kinh tế, sản xuất, buôn bán, công nghệ, bảo vệ môi trường…
1
2
cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn không chỉ đối với việc Việt Nam tham gia ASEAN,
mà đối với việc nước ta tham gia APEC, gia nhập WTO.
Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong khoá luận này gồm duy vật
biện chứng, so sánh, tổng hợp và phân tích, kết luận những kết quả thống kê với sự
vận dụng lý luận. Khoá luận tốt nghiệp cũng vận dụng các quan điểm, đường lối
phát triển chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước để khái quát, hệ thống và khẳng
định các kết quả nghiên cứu.
Bố cục khoá luận tốt nghiệp
Nội dung chính của khoá luận tốt nghiệp được chia làm 3 chương:
- Chương I: AFTA và những quy định chung về cải cách thuế quan trong khuôn
khổ AFTA
- Chương II. Thực trạng gia nhập AFTA của Việt nam
- Chương III. Xu hướng cải cách thuế quan của Việt nam
Ngoài ra, còn có Lời nói đầu và kết luận.
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo TS. Nguyễn
Hữu Khải, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ em. Em cũng xin
cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa kinh tế ngoại thương và những người đã ủng hộ,
nhiệt tình góp ý kiến để em hoàn thành luận văn này.
3
CHƯƠNG I
AFTA VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẢI CÁCH THUẾ
QUAN TRONG KHUÔN KHỔ AFTA
I. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
1. Từ hiệp định ưu đãi thương mại ASEAN (PTA) đến CEPT - sự hình
thành AFTA.
Ngay từ thời kỳ đầu, các nước ASEAN đã thấy được tầm quan trọng to lớn, vì
thế đã chú trọng xây dựng, tăng cường liên kết kinh tế nói chung, thương mại nói
riêng giữa các nước trong khối.
Hiệp định ưu đãi thương mại là văn kiện quan trọng đầu tiên của ASEAN
PTA chỉ có 322 mặt hàng hàng (2,6%) thực sự được bảo đảm bằng ưu đãi về thuế.
Tương ứng với số lượng mặt hàng này là 19% tổng giá trị buôn bán nội bộ ASEAN.
Hơn nữa, những mặt hàng có giá trị buôn bán nội bộ ASEAN. Hơn nữa, những mặt
hàng có giá trị buôn bán lớn chiếm một tỷ lệ cao trong danh sách những mặt hàng bị
hạn chế (ở Malaysia tỷ lệ này là 60 - 80%)
Mặc dù quan hệ buôn bán nội bộ ASEAN tăng nhanh xét về tỷ trọng của nó
trong tổng số thương mại thời kỳ đầu những năm 80, nhưng điều đó không phải là
kết quả thực hiện PTA. Buôn bán trong nội bộ ASEAN tăng chủ yếu là do tăng buôn
bán dầu lửa. Dầu lửa chiếm tới 50% giá trị buôn bán giữa các nước này, nên dầu là
yếu tố chính trong tăng buôn bán khu vực. Còn trên thực tế, tác động của PTA ở đây
rất hạn chế. Tỷ lệ buôn bán dựa trên PTA chiếm 5% tổng giá trị ngoại thương. Đó là
nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên nhân thứ hai là việc cắt giảm thuế chưa đạt tới mức độ cần thiết để
tạo ra những kích thích mạnh mẽ việc buôn bán. Các nước dường như chỉ ưu đãi các
mặt hàng với vai trò ít quan trọng trong buôn bán quốc tế và khu vực. Ví dụ, Thái
Lan dành sự ưu đãi lớn cho việc nhập khẩu gỗ, mặt hàng mà nước này không hề
nhập. Cũng như vậy, các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh lớn cũng không được
ưu đãi. Trong khi đó, việc giảm thuế chỉ hướng vào các ngành khá nhỏ.
Nhận thấy quan hệ hợp tác kinh tế bắt đầu rơi vào trạng kém khả quan, bó hẹp
trong những mục tiêu ngắn hạn, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ ba năm 1989 tại
5
Manila đã nhấn mạnh tới một số vấn đề gây cấn cản trở việc thực hiện PTA. Tại hội
nghị này, các vấn đề về việc hoàn thiện PTA đã được thảo luận. Các nước thành viên
cam kết thực hiện cắt giảm số lượng mặt hàng nằm trong danh mục hạn chế chỉ còn
lại 10% và giá trị của chúng không vượt quá 50% tổng giá trị buôn bán trong khu
vực. Thủ tục đưa các mặt hàng mới vào danh sách được ưu đãi của PTA cũng thay
đổi từ việc xem xét hàng năm sang chương trình 5 năm (từ 1988 đến 1992).
Sau một thời gian thực hiện chương trình này, đã có một số tiến bộ. Số mặt
hàng ưu đãi tăng, mức tăng thay đổi theo từng nước.
Tuy nhiên, không phải cả các nước đều thực hiện đầy đủ và cho đến thời điểm
nguyên tắc, Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thông qua
tháng 10 - 1991 thay thế choi PTA.
Theo hiệp định CEPT , các nước ASEAN thoả thuận giảm thuế quan trong
thương mại nội bộ ASEAN xuốn còn từ 0% đến 5%, loại bỏ các hạn chế về định
lượng và các hàng rào phi thuế quan, đồng thời tăng cường hợp tác trong lĩnh vực
hải quan. Chương trình thực hiện CEPT ban đầu được dự kiến kéo dài trong vòng 15
năm, bắt đầu từ 1/3/1993, hoàn thành vào 1/1/2008. Tuy nhiên, với những kết quả
khả quan theo hướng đẩy mạnh tự do hoá thương mại của các vòng đàm phán U
rugoay, trước những bước tiến nhanh của Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ
(NAFTA) và kế hoạch tự do hoá thương mại đầy tham vọng nhưng cũng rất khả thi
của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), tại Hội nghị Bộ
trưởng ASEAN lần thứ 26 họp tại Thái Lan (tháng 9/1994), các nước ASEAN đã
thống nhất về nguyên tắc sẽ hoàn thành thực hiện AFTA sớm hơn, kết thúc vào năm
2003. Quyết đinh này đã được chính thức hoá tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần IV
họp vào tháng 9/1995 tại Bangkok. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN chính thức lần thứ
VI họp tại Hà Nội tháng 12/1998, các nước ASEAN đã thống nhất đẩy nhanh hơn
nữa tiến trình thực hiện AFTA.
Tổng thư ký hiệp hội các nước Đông Nam Á Rodoflo Severino đề nghị
ASEAN nên đẩy nhanh thời hạn chót đề ra đến hết năm 2010 phải xoá bỏ mọi hàng
rào thuế quan nhằm đương đầu với sự cạnh tranh ngày càng tăng vào đầu tư. Phát
biểu tại diễn đàn thông tin tại Manila, Ông Severino cho biết nếu đợi đến năm 2010
ASEAN mới dỡ bỏ mọi hàng rào thuế quan trong khi các nước đưa ra thời hạn chót
7
mới vì cho rằng thời hạn này sẽ do các nước thành viên ASEAN đề ra. Năm 1993,
ASEAN đã đề ra một kế hoạch giảm thuế quan để thành lập khu vực tự do thương
mại ASEAN (AFTA), kế hoặch AFTA đã đạt một bước lớn hồi tháng 1/2002 khi 6
nước thành viên cũ ASEAN và cũng là 6 nước ký AFTA đầu tiên là Brunây,
Inđonêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan đã giảm thuế quan ở mỗi nước
xuống từ 0-5%. Sáu nước này chiếm hơn 96% kim ngạch thương mại trong khu vực.
Mục tiêu giảm thuế xuống từ 0-5% đã được các nước ASEAN đẩy nhanh gấp
hơn, thị phần thương mại lớn hơn.
Có thể thấy rằng công nghiệp hoá đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán
giữa các nền kinh tế ASEAN. Người ta tính rằng, vào đầu những năm 90, phần xuất
khẩu nội bộ ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đã đạt
khoảng 20%. Khuynh hướng liên kết thương mại khu vực ngày càng trở nên mạnh
mẽ. Hơn nữa, do đặc tính hướng ngoại của nền kinh tế ASEAN, các nền kinh tế này
sẽ thuận lợi hơn trong việc tiến tới tự do hoá. Điều này mặc dù không thể giúp các
quốc gia thành viên ASEAN đạt được những thoả thuận thương mại lớn cho thị
trường khu vực như EU, AFTA, song chí ít nó cũng hỗ trợ cho các quốc gia này đẩy
nhanh tăng trưởng, thay đổi cơ cấu, bổ sung lẫn nhau theo hướng trở thành một đối
tác cạnh tranh có ưu thế so với các thị trường khu vực khác.
Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Đây là mục tiêu trọng tâm của AFTA. AFTA sẽ tạo dựng một thị trường
thống nhất trong ASEAN, cho phép thúc đẩy quá trình hợp lý hoá, chuyên môn hoá
sản xuất trong nội bộ khu vực, phát huy và khai thác các thế mạnh của nền kinh tế
thành viên. Thực hiện mục tiêu này nằm giải quyết ba vấn đề:
- Phân công lao động quốc tế trong toàn bộ nền kinh tế ASEAN nói chung,
trong từng ngành sản xuất nói riêng, thúc đẩy các công ty đa quốc gia đầu tư trực
tiếp vào ASEAN. Thông qua AFTA, các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quy
chế ưu đãi đầu tư ở tất cả các thành viên.
- Tăng đầu tư trực tiếp vào các nước ASEAN. Đó là nhờ kết quả mậu dịch
giữa các nước thành viên tăng lên theo AFTA và do đó kích thích các công ty Nhật ,
9
Mỹ, EU và NICs đầu tư trực tiếp nhiều hơn nữa để giữ thị trường này thay vì trước
đây họ thường cung ứng từ các cơ sở sản xuất ngoài ASEAN.
- Tăng sự lớn mạnh của chính thị trường nội địa khu vực nhờ sự tăng lên của
sức mua thị trường khu vực ASEAN.
Với định hướng phát triển ra ngoài khu vực trên cơ sở liên kết thị trường bên
trong AFTA, ASEAN hoàn toàn có thể kỳ vọng ở khả năng đẩy mạnh thế thương
lượng cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
các quốc gia đã tiến hành cải cách thuế quan và áp dụng hệ thống thuế quan “thấp và
đồng nhất”. Đây là một hệ thống thuế mà khoảng cách giữa mức thuế suất cao nhất
và thấp nhất có xu hướng thu hẹp và thuế xuất trung bình giảm dần xuống tưới mức
hợp lý. Cải cách thuế quan theo hướng này đã được áp dụng trong suốt những năm
80 tại Châu Mỹ - La Tinh, Châu Á, Châu Phi và gần đây là ở Đông Âu.
Vòng đàm phán Urugoay và cá thoả thuận thương mại khu vực như
CEPT/AFTA đã tạo thêm động lực cho quá trình cải cách này.
Cải cách thuế quan theo cơ chế “ thấp và đồng nhất” đem lại nhiều lợi ích
khách nhau:
- Tăng cường buôn bán và hợp tác kinh tế quốc tế.
- Khuyến khích các nước tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế.
- Xoá bỏ chinh xác bảo hộ các ngành kinh tế kém hiệu quả.
- Ngoài ra thuế quan thấp còn hạn chế tình trạng nhập khẩu bất hợp pháp trốn
thuế. Thực vậy, nếu thuế suất cao, các thương gia có thể trốn thuế bằng cách buôn
lậu hay những phương thức bất hợp pháp khác nhau như khai gian, khai giảm ( gian
lận thương mại). Nếu thuế suất giảm, lượng hàng nhập khẩu hợp pháp có thể tăng vì
mắc độ rủi do cao trong buôn lậu lớn hơn việc nhập khẩu hợp pháp. Đồng thời qua
giảm thuế, chúng ta có thể hạn chế các hoạt động thương mại bất hơp pháp mà
không cần thực hiện qua các hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá, chứng từ và các
quy định hành chính khác; do đó giảm bớt được tình trạng nhũng nhiễu, gây lãng phí
thời gian và tiền của các thương gia cũng như các nhà chức trách.
11
Tóm lại, việc cắt giảm thuế quan hiện nay trong nền kinh tế thế giới có vai trò
hết sức quan trọng, góp phần khắc phục những hạn chế của hàng rào thuế quan cao
và tăng cường các tác động tích cực của hệ thống thế quan ‘ thấp và đông nhất”.
2. Nội dung cải cách thuế quan trong quá trình thực hiện AFTA.
Cơ chế chủ yếu thực hiện AFTA là tham gia Hiệp định ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung (CEPT). Phần này sẽ tập trung nghiên cứu nội dung cải cách thuế
quan theo CEPT.
2.1. Những quy định chung của CEPT về cải cách thuế quan
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay: Danh mục này bao gồm những sản
phẩm được cắt giảm thuế quan với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường.
Lịch trình giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế tăng tốc) sẽ được
áp dụng cho 15 nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến của ASEAN như: xi măng,
hoá chất, phân bón, chất dẻo hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản
phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng gỗ và song mây, dược phẩm
khoảng 3200 mặt hàng, chiếm tới 34% tổng số Danh mục giảm thuế của toàn
ASEAN.
Lịch trình giảm thuế nhanh được phân định thành hai nấc: một là, các sản
phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 0 - 5% vào 1/1/2000 và các sản
phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống còn 0 - 5% và
1/1/1998.
Lịch trình giảm thuế bình thường: sẽ được áp dụng đối với các sản phẩm công
nghiệp còn lại. Đối với những sản phẩm có mức thuế hiện hành trên 20% sẽ được
thực hiện theo hai bước.Bước một, thuế từ mức hiện hành giảm xuống mức 20% vào
năm 1998. Bước hai, giảm từ mức thuế 20% xuống mức cuối cùng 0 - 5% kết thúc
vào ngày 1/1/2003. Đối với mức thuế hiện hành 20% hoặc thấp hơn sẽ được giảm
xuống mức cuối cùng 0 - 5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000. Các
danh mục giảm thuế theo kênh thông thường hiện chiếm tỷ lệ là 55%, lớn nhất trong
tổng số các Danh mục hàng hoá tham gia CEPT.
Như vậy, Danh mục giảm thuế ngay chiếm một tỷ lệ lớn, khoảng 89% tổng số
Danh mục giảm thuế của Chương trình thực hiện CEPT. Do đó, các lịch trình giảm
13
thuế nhanh và giảm thuế bình thường nếu được thực hện, về căn bản, gần như đã
hoàn thành tỷ suất tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN.
Điều đáng lưu ý ở đây là sau một số năm thực hiện CEPT, các nước thành
viên ASEAN đã đề xuất về một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là không nhất
thiết phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế
suất cần cắt giảm qua từng thời kỳ. Mà tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của từng nước,
có thể xây dựng lịch trình cắt giảm thích hợp, miễn sao giảm nhanh thuế suất còn 0
- Các sản phẩm trong Danh mục loại trừ tạm thời của hàng nông sản chưa chế
biến sẽ được chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 1/1/1998
đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%.
- Các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm được phân định vào hai
Danh mục tuỳ theo mức độ nhạy cảm là Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế
biến nhạy cảm và Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế cảm cao. đến nay,
theo đề xuất của các quốc gia thành viên, những mặt hàng thuộc Danh mục các sản
phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm sẽ bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế xuống
còn 0 - 5% từ 1/1/2001 và kết thúc lịch trình giảm thuế vào ngày 1/1/2010. Trong
khi đó, các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến nhạy cảm cao sẽ bắt đầu từ
1/1/2003 và kết thúc vào 2010.
- Danh mục loại trừ hoàn toàn. Theo kế hoạch CEPT, tất cả các sản phẩm
công nghiệp chế tạo và các sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội
dung của sản phẩm có ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ nước thành viên ASEAN nào
đều nằm trong Danh mục sản phẩm trong kế hoạch CEPT vào một cách tự động
được đưa vào kế hoạch giảm thuế CEPT. Tuy nhiên, một nước thành viên cũng có
thể loại trừ một số sản phẩm không tham gia Hiệp định CEPT và xếp vào Danh mục
loại trừ hoàn toàn.
Các sản phẩm là những sản phẩm được xem là cần thiết để bảo vệ an ninh
quốc gia, bảo vệ đạo đức cộng đồng, sức khoẻ, sự sống của con người và động thực
vật, ảnh hưởng đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử
hay khảo cộ. Theo Chương trình CEPT, việc cắt giảm thuế cũng như xoá bỏ các biện
15
pháp phi thuế quan đối với những mặt hàng này sẽ không được xem xét đến. Quy
định này giống điều XX của hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT).
Để đơn giản hoá, tháng 9/1996 ASEAN trao quyền cho các nước tự thiết lập
lịch trình giảm thuế của mình cho đến naưm 2003. ASEAN ước tích rằng, khi thực
hiện AFTA từng nước sẽ có thuế suất ưu đãi trung bình có hiệu lực chung ( thuế suất
CEPT) vào năm 2003 như bảng sau:
Bảng 1: Thuế suất CEPT trung bình của từng nước
Cho đến năm 2003 tất cả các quốc gia ASEAn 6 đều có thuế suất CEPT trung
bình từ 0 - 5%. Thực hiện, vào năm 2000 sẽ có khoảng 87% mặt hàng chịu thuế
trong Danh mục giảm thuế ngay có thuế suất từ 0,5% và toàn bộ các quốc gia
ASEAN6, ngoại trừ Thái lan, sẽ có tỷ lệ thuế suất trung bình trong khoảng 0 , 5%.
5 nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thương mại giữa các quốc gia
ASEAN:
- Máy móc, các thiết bị điện tử (HS 84 - 85)
- Khoáng sản (HS 25 - 27)
- Các sản phẩm sắt thép (HS 72 - 83)
- Dệt may (HS 50 - 63)
- Hoá chất (HS 28 - 38).
Các mặt hàng trên đều có tỷ lệ thuế suất CEPT trung bình từ 0 - 5 % vào
năm 2000. Chỉ có 5 mặt hàng không có thuế suất nằm trong khoảng 0 - 5% vào năm
2000 là:
- Lương thực (HS 16 / 24)
- Gỗ (HS 44 - 64)
- Giầy dép (HS 63 - 67)
- Vũ khí (HS 93)
- Các sản phẩm chế biến hỗn hợp (HS 94 - 96)
Xét về tỷ lệ % các sản phẩm tham gia CEPT, các nước ASEAN 6 đều có tỷ lệ
của các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế ngay chiếm khá cao, từ 85,7%
(Philippine) tới 98,4% ( Thái Lan). Thái Lan quy định 8996 mặt hằng chịu thuế
thuộc Danh mục giảm thuế ngay, cao nhất trong các thành viên ASEAN6 và có mức
thuế CEPT trung bình ban đầu (năm 1993) cao nhất là 14,41%. Tiếp đó là
Philippine, thuế suất CEPT trung bình của Philipine theo lịch trình sẽ giảm từ mức
9.22% trong năm 1966 xuống còn 3.72% vào năm 2003. Singaopore và Brunei có
17
mức thuế suất trung bình của nhóm các mặt hàng trong Danh mục giảm thuế ngay là
thấp nhất, tiếp sau đó là Malaysia.
Danh mục loại trừ tạm thời: Ban đầu một số nước ASEAN 6 phải chịu sức ép
cần phải làm gì đối với các mặt hàng này trước năm 2001 và 2003.
19
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG GIA NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM
QUAN HỆ TM HOÁ VIỆT NAM – ASEAN:
1. Tình hình chung ASEAN
Tổng thư ký ASEAN, Rodolfo C. Severino nhận xét: nhờ cải cách sâu sắc
trong nội bộ để hội nhập, Đông Nam Á đã được củng cố vững chắc với viễn cảnh
tăng trưởng ổn định. Giờ đây Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đang là một thị
trường rộng mở đối với Đông Nam Á và Thái Bình Dương.
Ngày nay, điều mà chúng ta nhìn thấy ở ASEAN là một khu vực an toàn và ổn
định. Điểm nổi bật của nền kinh tế là sự hội nhập trong khu vực với một viễn cảnh
tăng trưởng ổn định do trong khu vực này đang diễn ra sự cải cách và hội nhập một
cách sâu sắc. Một nhà đầu tư nào đó mong muốn có một tài năng trong lĩnh vực kỹ
thuật cao, tính hiệu quả trong các loại hình dịch vụ, nhiều loại vật liệu thô hay giá
nhân công rẻ có thể tìm thấy ở một hay nhiều quốc gia khác trong ASEAN. Có sự
đầu tư thì toàn bộ Đông Nam Á là thị trường, bởi vì thị trường đó ngày càng hội
nhập. Đó là lý do tại sao khi nói thị trường ASEAN cũng là nói đến nền kinh tế
ASEAN. Khu vực thương mại tự do ASEAN (còn gọi là AFTA) về cơ bản đã trở
thành hiện thực với hơn 85% loại thuế nhập khẩu trong hệ thống AFTA đã nằm
trong danh mục loại thuế nhập khẩu tối thiểu. Số lượng hàng hoá nằm trong danh
mục tối thiểu này chiếm hơn 90% số hàng hoá được giao dịch trong các nước
ASEAN. Vào đầu năm 2002, phần lớn hàng hoá buôn bán trong ASEAN sẽ chịu
thuế nhập khẩu 5% hoặc được miễn thuế hoàn toàn. Cũng vào năm 2002 thuế nhập
khẩu trung bình áp dụng cho các mặt hàng buôn bán thuộc AFTA sẽ giảm từ 4,43%
hiện tại xuống còn ít hơn 4%. 6 nước đối tác đầu tiên của hiệp hội AFTA dự định bỏ
hết các loại thuế nhập khẩu trong mậu dịch với nhau vaò năm 2010. Việc bỏ hẳn
hàng rào thuế quan đang được tháo gỡ dần dần Sự hội nhập của nền kinh tế ASEAN
đang tạo ra một thị trường với nửa tỉ dân gần bằng nửa số dân của Trung Quốc và
20
lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá. Tình trạng nhập siêu đã giảm cả về giá trị
tuyệt đối lẫn tương đối. Chủ trương đa dạng hoá thị trường và đa phương hoá quan
hệ kinh tế được thực hiện tương đối thành công.
Có được những thành tựu trên là do công cuộc đổi mới thúc đẩy, lực lượng
sản xuất phát triển , cơ cấu sản xuất được chuyển dịch dần tạo điều kiện đẩy mạnh
xuất khẩu và cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu.Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại. Cụ
thể là quy mô xuất khẩu còn nhỏ so với các nước trong khu vực . Cơ cấu hàng hoá
còn lạc hậu, tỷ trọng hàng thô, hàng sơ chế và hàng gia công còn cao. Khả năng cạnh
tranh hàng hoá còn thấp. Nhập khẩu chưa thay đổi được một cách cơ bản tình trạng
lạc hậu về công nghệ ở một số ngành . Tình trạng nhập lậu vẫn khá nghiêm trọng.
Những tồn tại trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân khách quan, chủ quan nhưng
chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp , cơ cấu chuyển dịch
chậm.
Do vậy, cải cách thuế quan, tự do hoá thương mại là tất yếu và đã từng bước
phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nước ta càng sớm càng tốt để tranh
thủ các cơ hội kinh doanh, tham gia vào quá trình hình thành luật kinh tế, thương
mại quốc tế có lợi cho mình. Nếu tham gia muộn sẽ phải chấp nhận nhiều quy định
đã rồi, các nghĩa vụ phải thực hiện sẽ lớn hơn và thời gian chuyển tiếp cũng ngắn
hơn và Việt nam phải vượt qua nhiều thách thức hơn.
Thực hiện chủ trương trên, từ 1/1/1996 Việt Nam bắt đầu thi hành nghĩa vụ
theo thành viên AFTA, thực hiện cải cách thuế quan theo CEPT, mở đầu có tính chất
đột phá trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng tự do hoá thương mại
của Việt Nam: Tạo thị trường láng giềng ổn định, tăng sự hấp dẫn đối với đầu tư
nước ngoài, tạo vị thế quốc tế mới, thúc đẩy thêm quan hệ của nước ta với các nước
khác, kể cả các nước lớn.
Các nước ASEAN đánh giá việc Việt Nam thực hiện cải cách thuế quan theo
CEPT/AFTA có ý nghĩa rất quan trọng, mở đầu cho một giai đoạn mới đưa ASEAN
nhanh chóng trở thành tổ chức kinh tế chung . Sự thật về AFTA chứng minh rằng
các nước ASEAN đều đã mở cửa nền kinh tế, tiến tới mức độ tự do hoá thương mại
trên nền tảng như nhau của chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung.
Do đó, cần cải cách những mặt hạn chế của hệ thống thuế Việt Nam, Tránh
đánh giá thuế trùng lặp, giảm khả năng trốn thuế, lậu thế nằm thực hiện
CEPT/AFTA.. Sau đó dần dần hoàn thiện, làm hài hoà hệ thống thuế nước ta với hệ
thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
2. Cải cách thuế nội địa ở Việt Nam
Để phù hợp với cách đánh thuế của các nước trên thế giới và các nước
ASEAN, Chính phủ Việt Nam đang thực hiện cải cách thuế quan và đã vạch ra một
chương trình bao gồm những thay đổi về thuế sẽ được thực hiện trong 5 năm 1999
đến 2004 và những năm tiếp theo. Một trong những thay đổi này là việc cải cách
thuế nội địa: thay thuế doanh thu bằng thuế GTGT và thực hiện luật thuế thu nhập
thay thuế lợi tức từ 1/1/1999. Cùng với quyết định sửa đổi luật thuế TTĐB lần 3
ngày 20/5/1998 (có hiệu lực từ 1/1/1999) nhằm tách thuế TTĐB ra khỏi thuế nhập
khẩu để giảm thuế nhập khẩu theo cam kết thực hiện chương trình CEPT, điều này
đã tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia AFTA mà không bị thiệt thòi về kinh tế
trong quan hệ buôn bán với các nước cùng tham gia ký kết hiệp định CEPT/AFTA.
.2.1. Thay thế thuế doanh thu bằng GTGT
Theo luật số 02/1997/QH9, được Quốc hội khoá IX, thông qua trong kỳ họp
thứ 11, thuế GTGT sẽ được thực hiện bắt đầu từ 1/1/1999 thay thế thuế doanh thu.
Đặc điểm của thuế GTGT.
- Thuế GTGT đánh vào từng khâu sản xuất kinh doanh. Thuế suất đánh vào
các khâu đều bằng nhau và chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm. Thuế tính ở khâu
sau được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước nhưng phải căn cứ vào chứng từ hoá
đơn hợp lệ.
Sở dĩ phải thay thế thuế Doanh thu bằng thuế GTGT do:
- Thuế Doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế doanh thu, còn thuế GTGT
tính trên gia bán hàng hoá dịch vụ chưa có GTGT. Như vậy, thuế GTGT khắc phục
được nhược điểm thu trùng lắp của thuế Doanh thu.
- Đối với hàng sản xuất để xuất khẩu không những không phải nộp thuế
GTGT mà còn được khấu trừ hay hoàn toàn GTGT đầu vào nên tạo điều kiện hạ giá
các cơ sở kinh doanh trong nước mới thành lập hoặc di chuyển đến các vùng khó
25