BÀI TẬP 1
Hãy sao chép từ mạng bản đồ khuôn viên trường ĐHBK và nhận xét về điều
kiện môi trường, về điều kiện vệ sinh lao động của khu vực trường.
Bản đồ trường ĐH Bách Khoa :
1
Khuôn viên trường ĐH Bách Khoa TP HCM.
- Về nhiệt độ , độ ẩm :
+ Nhiệt độ : Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh nằm
trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như các tỉnh ở Nam bộ,
đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao đều trong năm
và có hai mùa mưa - nắng rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh
2
quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất,
qua các yếu tố khí tượng chủ yếu cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành
Phố Hồ Chí Minh(ĐH Bách Khoa TPHCM) như sau:
Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng
trung bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27
0
C. Nhiệt độ
cao tuyệt đối 40
0
C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8
0
C. Tháng có nhiệt độ trung
bình cao nhất là tháng 1 (31
0
C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là
khoảng giữa tháng 9 và tháng 10 (25,7
0
3
lành. Tuy nhiên còn một một số dãy phòng học ở gần đường Tô Hiến Thành
cũng khá ồn ào vào giờ cao điểm.
- Về rác, chất thải: đội ngũ lao công của trường tương đối nhiều nên
công tác đảm bảo vệ sinh cho khuôn viên trường và ở các phòng học rất tốt.
Sọt rác được bố trí khắp nơi trong trường nên việc xả rác bừa bãi ít xảy ra.
Bên cạnh đó, việc thu gom rác được thực hiện hàng ngày nên không có hiện
tượng rác bốc mùi gây khó chịu, ô nhiễm.
- Về cảnh quan trong trường:
Số lượng cây xanh nhiều được bố trí khá hợp lý dọc theo các lối đi giúp
cho việc đi lại được mát mẻ. Thêm vào đó, ghế đá được bố trí dọc theo các
hàng cây thích hợp cho việc nghĩ ngơi cũng như trao đổi học tập của sinh
viên trường. Các dãy nhà được bố trí khá hợp lý, các phòng ban gồm: phòng
hành chính, phòng đào tạo, hội trường … đều được bố trí ở khu trung tâm
còn các khoa được bố trí xung quanh thuận lợi cho việc liên lạc. Các nhà
xưởng được đặt cách xa phòng học nên không ảnh hưởng đến việc học tập
của sinh viên trường.
Tuy nhiên, một số dãy nhà chưa liên thông với nhau để tiện cho việc đi lại
mỗi khi trời mưa.
Qua việc phân tích và tìm hiểu ở trên cho thấy cảnh quan môi trường
và điều kiện vệ sinh lao động của trường cũng chỉ ở mức trung bình.
BÀI TẬP 2
Tìm hiểu về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
I.Tai nạn lao động
I.1 Khái niệm
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của
sự tác động đột ngột từ bên ngoài, làm chết hoặc tổn thương hay phá huỷ
chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể con
người.
I.2 Thống kê tai nạn lao động trong năm năm gần đây
tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động và những nguyên nhân khách
quan khó tránh.v.v
Về phía người lao động
- Nhiều người lao động xuất phát từ các vùng nông thôn đi làm thuê
không được đào tạo cơ bản qua trường lớp, khi vào làm việc lại chỉ
được hướng dẫn về các thao tác trong công việc vì vậy không hiểu
biết luật pháp an toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm cần
phải đề phòng trong môi trường lao động của mình.Vì vậy người lao
động vi phạm các quy định về an toàn lao động cũng khá phổ biến.
- Một số người lao động mặc dù đã được đào tạo cơ bản, được huấn
luyện kỹ về an toàn lao động nhưng do chủ quan, chạy theo năng suất,
ý thức chấp hành kỷ luật kém nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc
cho bản thân và những người làm việc bên cạnh.
- Không sử dụng các trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao
động mặc dù đã được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng
dẫn cách sử dụng.
Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước
- Công tác chỉ đạo chưa thường xuyên, thiếu nhạy bén.
- Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động với các
doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng thanh
5
tra viên chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều địa phương do thiếu
thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tiến hành các cuộc kiểm tra
liên ngành mà không tiến hành được các cuộc thanh tra lao động. Do
đó không kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật Lao động, dẫn
đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra.
- Một số lĩnh vực quản lý còn lỏng lẻo như: các doanh nghiệp tư nhân,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp,
các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề.
- Việc xử lý các vụ TNLĐ chết người đề nghị truy tố trước pháp luật
- Vật đổ, đè có 21 vụ làm chết 24 người;
6
- Vật văng bắn có 10 vụ làm chết 10 người.
Các nguyên nhân gây nhiều tai nạn lao động chết người nhất
- Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động: 69 vụ
làm 72 người chết;
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp an
toàn lao động có 52 vụ làm 58 người chết;
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động có 34 vụ làm 36 người
chết;
- Chưa huấn luyện an toàn lao động có 24 vụ làm 24 người chết.
c)Tình hình tai nạn lao động năm 2006
Theo số liệu thống kê, báo cáo của 64 tỉnh, thành phố, tình hình tai
nạn lao động trong năm 2006 như sau:
- Tổng số vụ tai nạn lao động: 5.881 vụ, trong đó có 505 vụ tai nạn
lao động chết người, 147 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên.
- Tổng số người bị nạn: 6.088 người, trong đó có 536 người chết và
1.142 người bị thương nặng.
Các loại yếu tố, thiết bị gây nhiều tai nạn lao động chết người.
- Liên quan đến mặt bằng sản xuất chiếm 21,72% tổng số vụ và
20,38% tổng số người chết.
- Liên quan đến Thiết bị nâng, thang máy chiếm 7,8% tổng số vụ và
7,55% tổng số người chết.
- Liên quan đến đường dây tải điện chiếm 6,15% tổng số vụ và
5,66% tổng số người chết.
- Liên quan đến máy hàn điện chiếm 4,92% tổng số vụ và 4,53%
tổng số người chết.
- Liên quan đến giàn giáo, sàn thao tác chiếm 4,1% tổng số vụ và
4,15% tổng số người chết.
Các yếu tố chấn thương gây tai nạn lao động
- Tổng số người bị nạn: 6.337 người, trong đó có 621 người chết và
2.553 người bị thương nặng.
Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động
chết người
Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 35,53% tổng số
vụ, do người lao động chiếm 30%, còn lại là do các yếu tố khách
quan hoặc không kết luận nguyên nhân cụ thể là 34,47% tổng số
vụ tai nạn lao động, cụ thể là:
- Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ
thuật, Quy phạm an toàn chiếm 17,62% tổng số vụ;
- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp
làm việc an toàn chiếm 11,89% tổng số vụ;
- Chưa huấn luyện an toàn lao động, không có phương tiện bảo vệ
cá nhân chiếm 4,72% tổng số vụ;
- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 1,7% tổng số vụ;
không có thiết bị an toàn chiếm 2,2% tổng số vụ;
- Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động
chiếm 25,3% tổng số vụ;
- Người bị nạn vi phạm không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân
chiếm 4,7% tổng số vụ.
e)Tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2008
Theo báo cáo của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong
6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 2.497 vụ tai nạn lao động làm
8
2.574 người bị nạn, có 250 vụ TNLĐ chết người làm 266 người
chết, 546 người bị thương nặng.
Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ
*Về phía người sử dụng lao động
- Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động: 195
vụ (chiếm 7,94% tổng số vụ);
các thao tác trong công việc nên không hiểu biết luật pháp an
toàn lao động, không biết các mối nguy hiểm cần phải đề phòng
trong môi trường lao động của mình…;
9
- Có 133 vụ (chiếm 5,42% tổng số vụ) do không sử dụng các
trang bị, phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động mặc dù đã
được người sử dụng lao động cấp phát đủ và hướng dẫn cách sử
dụng.
- Có 68 vụ (chiếm 2,77% tổng số vụ) do người khác vi phạm quy
định về an toàn lao động. Một số người lao động mặc dù đã được
đào tạo cơ bản, được huấn luyện kỹ về an toàn lao động nhưng
do chủ quan, chạy theo năng suất, ý thức chấp hành kỷ luật
kém… nên đã gây ra những TNLĐ đáng tiếc cho bản thân và
những người làm việc xung quanh;
*Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước
- Công tác thanh tra của Thanh tra Nhà nước về lao động chưa
thường xuyên, thiếu nhạy bén dẫn đến việc thực hiện công tác
bảo hộ lao động ở doanh nghiệp chưa tốt;
- Số cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động tại
các doanh nghiệp còn ít, hiệu quả chưa cao. Số lượng, chất lượng
thanh tra viên chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các
doanh nghiệp cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, kinh doanh.
Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết
chỉ tổ chức các cuộc kiểm tra liên ngành, số cuộc thanh tra lao
động còn rất ít. Do đó không kịp thời phát hiện những vi phạm
pháp luật Lao động, dẫn đến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng đã
xảy ra.
- Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chưa được các cơ quan
quản lý Nhà nước thanh, kiểm tra, hướng dẫn thường xuyên, kịp
thời nên tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật, các Tiêu
- nhiễm độc bezen và đồng đẳng của bezen
- bệnh nhiễm độc thuủy ngân và các hợp chất của thuỷ ngân
- bệnh nhiễm độc mangan và cá hợp chất của mangan
- bệnh nhiễm độc TNT(trinitrotoluen)
- bệnh nhiễm độc do các tia phóng xạ
- bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn
- bệnh rung chuyển nghề nghiệp
- bệnh sạm da nghề nghiệp
- bệnh loét da, viêm da, loét vách ngăn mũi
- bệnh lao nghề nghiệp
- bệnh viêm gan do virut nghề nghiệp
- bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất của asen
- bệnh nhiễm độc nicôtin nghề nghiệp
- bệnh nhiễm độc hoá chất trừ saau nghề nghiệp
- bệnh giảm áp nghề nghiệp
- bệnh viêm phế quảmg mãn tính nghề nghiệp
- bệnh do Leptopira nghề nghiệp
Trong 21 bệnh trên có trên 70% bệnh do nhiễm độc mãn tính khi tiếp
xúc với các hoá chất trong công việc.
II.3 Đặc điểm của một số bệnh nghề nghiệp
BỆNH BỤI PHỔI-SILIC
11
Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Bệnh bụi phổi-silic, là một trong các bệnh nghề nghiệp lâu đời nhất,
cho đến ngày nay hàng năm vẫn có hàng ngàn người bị chết vì bệnh này trên
khắp thế giới. Bệnh bụi phổi-silic là một bệnh nan y, do người lao động hít
phải bụi có chứa silic tự do. Đây là bệnh tiến triển không hồi phục, thậm chí
cả khi đã ngừng tiếp xúc với bụi. Nếu tiếp xúc với một lượng lớn bụi, có
hàm lượng silic tự do trong bụi cao, trong một thời gian ngắn đã có thể phát
sinh bệnh.
·Tại Ấn Độ trong một nghiên cứu xác định khoảng 55% số công nhân bị
mắc bệnh bụi phổi silic. Phần lớn trong số họ là nhưng người trẻ tuổi
làm việc tại một mỏ đá (loại đá trầm tích) với điều kiện thông gió rất
kém. Trong một số nghiên cứu tại miền trung cho thấy tỷ lệ tử vong
do bụi phổi rất cao, tuổi thọ của những người mắc bệnh này chỉ là 35
và tuổi nghề là 12 năm
·Còn ở Brazil, tại bang Minas Gerais đã có hơn 4500 người được chẩn
đoán bị bệnh bụi phổi silic. Khu vực đông bắc của nước này người lao
động thường xuyên đào các giếng nước xuyên qua tầng đá có thành
phần là hạt quartz trên 97% và tỷ lệ mắc bệnh là trên 26%. Nhiều ca
trong số đó có tiển triển bệnh rất nhanh.
·Còn ở Hoa Kỳ theo ước đoán có khoảng trên 1 triệu có tiếp xúc nghề
nghiệp với bụi silic, (khoảngtrên 100.000 người làm nghề phun
cát)trong số đó có khoảng 59.000 người sẽ có thể bị bệnh bụi phổi-
silic. Báo cáo của Hoa Kỳ xác nhận thì số mới mắc bệnh bụi phổi-silic
mỗi năm vào khoảng 300 người. Nhưng thực tế số này còn cao hơn rất
nhiều.
·Còn tại Quebec của Canada, từ năm 1988-1994, có hơn 40 trường
hợpmắc bệnh bụi phổi-silic, và có 12 người trong số đó chết trước tuổi
40.
·Còn theo báo cáo của Colombia có khoảng 1,8 triệu người công nhân có
nguy cơ măc bệnh bụi phổi- silic.
·Còn tại Việt Nam đến nay có khoảng trên 17.000 người mắc bệnh bụi
phổi- silic đã được phát hiện.
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo chúng ta hay sử dụng các biện pháp dự
phòng để tránh hít phải bụi có chứa silic tự do.
Người dịch
ThS. Nguyễn Văn Sơn
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
13
để hạn chế bụi phát tán ra các công đoạn, bộ phận khác.
-Biện pháp làm ẩm: những nơi bụi nhiều (bộ phận xay, nghiền, khoan, )
nếu điều kiện kỹ thuật cho phép có thể phun nước, tưới ẩm nguyên, vật
liệu; dùng quạt phun sương làm ẩm không khí nhằm làm giảm nồng độ
bụi môi trường.
Biện pháp hành chính
14
-Tổ chức dây chuyền sản xuất hợp lý. Bố trí nơi làm việc gọn gàng, ngăn
nắp. Làm vệ sinh mặt bằng sản xuất thường xuyên.
-Tổ chức các lớp về vệ sinh an toàn lao động cho người sử dụng lao động và
người lao động, khuyến cáo các tác hại do bụi silíc gây ra và các biện
pháp bảo vệ.
-Thường xuyên kiểm tra môi trường lao động. .Đo nồng độ bụi, đặc biệt là
nồng độ bụi hô hấp. Phân tích hàm lượng silíc tự do trong bụi.
Biện pháp cá nhân
-Đeo khẩu trang ngăn bụi (loại có hiệu suất lọc bụi hô hấp cao ). Nơi làm
việc có nồng độ bụi và hàm lượng silíc tự do trong bụi cao thì phải sử
dụng bán mặt nạ hoặc mặt nạ lọc bụi .
Biện pháp y tế
-Tổ chức khám tuyển công nhân vào lao động trong những ngành nghề tiếp
xúc với bụi nhiều theo đúng những tiêu chuẩn khám tuyển đã qui định.
-Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ hàng năm. Những bộ phận sản xuất mà
công nhân phải tiếp xúc với bụi nhiều và hàm lượng silíc trong bụi cao
thì phải khám sức khoẻ định kỳ 6 tháng một lần, khám phát hiện sớm
bệnh bụi phổi silíc nghề nghiệp.
Trong các biện pháp trên, các biện pháp kỹ thuật là mong muốn nhất và
hiệu quả nhất, có thể kiểm soát được ô nhiễm bụi tại nguồn để làm giảm tiếp
xúc cho người lao động. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng thực hiện được
các biện pháp này bởi các lý do về kinh tế, kỹ thuật và điều kiện sản xuất.
Ở nước ta hiện nay, biện pháp cá nhân sử dụng khẩu trang chống bụi
BÀI TẬP 3
Nhận xét về tình hình môi trường của Việt Nam trong những năm gần đây
với sự phát triển kinh tế xã hôi có những thay đổi gì?
I- Dự đoán của các chuyên gia về tình hình môi trường trong năm 2009.
Nhìn chung, các chuyên gia đều dự đoán về những diễn biến môi trường khả
quan hơn khi sự tuân thủ pháp luật môi trường được nâng lên
PGS., TS Phạm Gia Điền – Chuyên gia về Hoá dược và Hoá sinh hữu cơ:
“Năm 2009 sẽ có nhiều sự kiện về môi trường. Năm 2008, là một năm phát
hiện ra nhiều vụ vi phạm. Năm 2009, sẽ có nhiều vi phạm nữa được phát
16
hiện, số vụ vi phạm gia tăng cả về hình thức và tính chất vi phạm. Các nước
sẽ tích cực chấp hành nghiêm chỉnh Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu
toàn cầu. Dự báo, tình hình ô nhiễm môi trường sẽ càng được các tầng lớp
nhân dân, cộng đồng chú ý nhiều hơn."
TSKH Phạm Hoàng Hải – Chuyên gia về địa lý và tài nguyên thiên nhiên:
"Năm 2009, sẽ là năm các doanh nghiệp tích cực tuân thủ trong lĩnh vực môi
trường. Các vi phạm không chỉ trong lĩnh vực ô nhiễm nguồn nước mà còn
mở rộng sang cả ô nhiễm không khí, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên
nhiên".
Anh Tạ Anh Quang – Chuyên gia về kiểm soát độc chất và phòng ngừa rủi
ro về ô nhiễm môi trường: "Năm 2009, ý thức bảo vệ môi trường của các
doanh nghiệp của cộng đồng sẽ được nâng cao. Luật Bảo vệ môi trường sẽ
được tuân thủ triệt để hơn. Các doanh nghiệp sẽ chú trọng hơn trong việc
bảo vệ môi trường. Các cơ quan quản lý môi trường sẽ phải bận rộn hơn.
Trên bình diện quốc tế, thì sau tình hình suy thoái kinh tế thế giới, các nước
sẽ có nhiều điều chỉnh về chính sách kinh tế. Sự suy giảm kinh tế dẫn tới
việc khai thác các nguồn tài nguyên cũng hạn chế. Việc phát thải các loại khí
gây hiệu ứng nhà kính cũng giảm bớt".
II- Báo cáo.
Tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong các KCN trên địa
môi trường còn một số mặt tồn tại sau:
a1- Đối với Doanh nghiệp trong KCN:
Đa số các DN trong KCN đã thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác
động môi trường, bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, bản cam kết bảo
vệ môi trường, nhưng chỉ có tính chất đối phó, một số DN còn xem nhẹ công
tác bảo vệ môi trường. Cụ thể như:
- Chưa thực hiện thủ tục pháp lý về môi trường: Công ty TNHH thủy
sản Đông Nam (KCN Mỹ Xuân A), trạm phân phối khí, Công ty Happro,
nhà máy sản xuất bình Gas (KCN Phú Mỹ I)…
- Chưa thực hiện báo cáo giám sát môi trường định kỳ hàng năm theo
quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005.
- Chưa thực hiện đúng nội dung về đầu tư xử lý nước thải, khí thải
như đã cam kết.
- Các Doanh nghiệp chưa thực hiện tốt việc quản lý chất thải nguy hại
từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý, nhiều Doanh nghiệp đã có
phân loại và ký hợp đồng vận chuyển chất thải nguy hại cho đơn vị có chức
năng xử lý nhưng chưa thực hiện đăng ký chủ nguồn thải theo quy định tại
Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký,
cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại. Rác thải công nghiệp
tạm lưu chưa có biện pháp che chắn, bảo quản.
- Một số Doanh nghiệp chưa có biện pháp tách, xử lý nước mưa chảy
tràn nhiễm dầu mỡ.
18
- Việc đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định
67/2003/NĐ-CP của Chính phủ giảm so với các năm trước do các Doanh
nghiệp tự kê khai, chưa tập trung về một đầu mối là chủ đầu tư hạ tầng nên
ý kiến đóng góp của các thành viên trong hội đồng để giúp Lãnh đạo Ban
quyết định trong việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Trong thời gian từ tháng
6 đến tháng 9/2008, Ban đã tham gia thẩm định 4 dự án đầu tư vào KCN.
Đồng thời tham gia HĐTĐ cho 01 đề án xả thải tại KCN Mỹ Xuân A do
Công ty IDICO làm chủ đầu tư.
3- Tình hình xử lý chất thải, bảo vệ môi trường các KCN:
19
a-Tình hình thu gom và xử lý nước thải tập trung:
Lượng nước thải phát sinh từ 06 KCN đang hoạt động khoảng 11-
13.050m
3
/ngày đêm. Trong đó, lượng nước thải được thu gom và xử lý
khoảng 7.900m
3
/ngày, đạt 60,5% gồm: KCN Mỹ Xuân A2 đã đầu tư hệ
thống xử lý nước thải công suất 2.500m
3
- 3000m
3
/ngày đêm, KCN Cái Mép:
1.000m
3
/ngày đêm và các doanh nghiệp KCN đầu tư hệ thống xử lý cục bộ
công suất khoảng 4.400 m
3
/ngày đêm.
đầu tư nhưng chưa vận hành tốt hệ thống xử lý đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi
trường.
20
Ngoài ra, ô nhiễm không khí tại các KCN còn bắt nguồn từ bụi phát
sinh từ các hoạt động san lấp mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên,
đây chỉ là nguồn ô nhiễm mang tính tức thời và tồn tại trong thời gian ngắn.
Trong đợt điều tra, khảo sát thực tế của Ban tại thời điểm tháng
8/2008 trong KCN Mỹ Xuân A đã phát hiện Nhà máy kéo cán thép của
DNTN Liêm Chính không có biện pháp thu hồi chất thải nguy hại (dầu nhớt
cặn trong quá trình vận hành thiết bị nung chảy tràn theo hệ thống thoát
nước mưa), dùng xỉ than làm nhiên liệu đốt kéo cán thép, do đó gây ô nhiễm
nghiêm trọng môi trường không khí, mất mỹ quan và ảnh hưởng đến các dự
án lân cận.
c-Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn:
- Đối với chất thải rắn sinh hoạt: hầu hết các nhà máy đều hợp đồng
các Công ty công trình đô thị thu gom và vận chuyển đến xử lý tại bãi chôn
lấp rác thải của tỉnh theo đúng quy định.
- Đối với các chất thải rắn công nghiệp (chủ yếu xỉ lò luyện, vảy
thép, bao bì hỏng, giấy vụn, bùn thải,…): đặc tính của các loại chất thải
công nghiệp thông thường là các hợp chất vô cơ, ít gây mùi hôi, trong đó có
nhiều loại chất thải có khả năng tái sử dụng như xỉ thép của ngành thép có
thể sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy luyện phôi thép, tuy
nhiên một số nhà máy trong dây chuyền công nghệ chưa đầu tư công đoạn
tái sử dụng chất thải này vì kinh phí đầu tư lớn và hiệu quả kinh kế không
cao. Bên cạnh đó, tỉnh vẫn chưa có nhà máy xử lý rác thải công nghiệp
nhiên, hiện nay do Công Ty TNHH Sông Xanh đang tạm thời ngưng hoạt
động để giải quyết các tồn tại về môi trường theo chỉ đạo của UBND tỉnh,
do đó việc xử lý chất thải nguy hại sẽ do các Công ty khác xử lý. Mặt khác
việc quy họach, đầu tư các công trình cho việc xử lý chất thải công nghiệp
đặc biệt là chất thải nguy hại chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng
mức. Hiện nay, tỉnh đã có quy họach bãi đổ chất thải rắn 100 ha ở Tóc Tiên
huyện Tân Thành, tuy nhiên công tác đầu tư triển khai chậm.
4-Biện pháp giải quyết:
- Rà soát, kiểm tra lập danh sách các Doanh nghiệp chưa thực hiện tốt
công tác bảo vệ môi trường, các Doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng: hệ
thống xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, khí thải, các Doanh
nghiệp gây ô nhiễm môi trường đã nhắc nhở nhưng không khắc phục để đề
xuất hướng xử lý theo quy định pháp luật.
- Theo dõi, đôn đốc thực hiện việc báo cáo công tác bảo vệ môi trường
định kỳ.
- Phối hợp với các Đoàn của Bộ và Sở Tài nguyên và Môi trường tiến
hành thanh, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp KCN.
- Chỉ đạo các Công ty đầu tư hạ tầng nâng cao vai trò theo dõi, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh
nghiệp KCN. Hoàn thành hệ thống xử lý nước thải theo đúng tiến độ, thực
hiện tốt việc thu gom tòan bộ nước thải phát sinh về khu xử lý tập trung.
22
III-Môi trường TPHCM: Quá nhiều bụi
TPHCM có 6 trạm quan trắc chất lượng không khí giao thông đặt tại
vòng xoay Hàng Xanh, ngã tư Đinh Tiên Hoàng-Điện Biên Phủ, vòng xoay
Phú Lâm, vòng xoay An Sương, ngã 6 Gò Vấp, ngã tư Nguyễn Văn Linh-
Huỳnh Tấn Phát. Kết quả quan trắc tại 6 trạm này đều cho thấy ô nhiễm do
bụi là vấn đề đáng ngại nhất trong 5 thông số quan trắc bao gồm: khí oxít-
Ô nhiễm do chì, NO2, CO đang có dấu hiệu tăng
Những tháng đầu năm 2009, nồng độ chì đo được tại các trạm quan
trắc dao động trong khoảng 0,22-0,38µg/m³, trong đó nồng độ chì tại khu
23
vực Gò Vấp trung bình 0,38µg/m³, cao nhất so với các trạm còn lại. So với
những tháng đầu năm 2008 mức độ ô nhiễm chì có giảm từ 1,1-2,1 lần trên
cả 6 trạm, tuy nhiên so với những tháng cuối năm 2008 mức độ ô nhiễm chì
lại tăng từ 1,1-1,5 lần ở 5 trạm.
Một trạm có giá trị quan trắc ô nhiễm chì không thay đổi là ngã tư
Hàng Xanh. Đây là một việc khá bất thường, vì Nhà nước đã có chủ trương
không cho sử dụng xăng pha chì do chì rất độc hại với sức khỏe con người.
Như vậy chỉ có một khả năng là trong xăng, dầu đang được sử dụng cho các
phương tiện giao thông không hoàn toàn “hết” chì như quy định của Nhà
nước - một cán bộ của Chi cục Bảo vệ môi trường đã nhận xét như vậy.
Nồng độ NO2 đo được tại tất cả 6 trạm dao động trong khoảng từ
0,19-0,34mg/m³, trong đó số liệu NO2 đo được tại trạm quan trắc ngã tư
Điện Biên Phủ-Đinh Tiên Hoàng cao nhất, trung bình đạt khoảng
0,34mg/m³. Tại trạm này, nồng độ NO2 vượt tiêu chuẩn cho phép 1,7 lần và
tất cả giá trị quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Các trạm còn lại, số lần
quan trắc vượt tiêu chuẩn cho phép vào khoảng 68% và điều đáng lo ngại là
số lần vượt tiêu chuẩn cho phép như vậy đang có xu hướng tăng. Nồng độ
NO2 tăng chứng tỏ các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố sử
dụng động cơ đốt trong thải chất gây ô nhiễm môi trường đang có xu hướng
tăng. Nồng độ CO trung bình dao động trong khoảng 9,93-21,37mg/m³, về
cơ bản nó vẫn nằm trong mức cho phép. Tuy nhiên, vẫn có 4 trong tổng số 6
trạm quan trắc có từ 3%-17% giá trị quan trắc không đạt tiêu chuẩn cho
phép.
IV-Hậu Vedan: Sông Thị Vải chưa mừng hồi sinh lại đến lo khí thải .
Dòng sông đang dần hồi sinh
mừng vì đêm giăng câu tối qua thắng lớn. Ông khoe cái đêm bội thu của ông
đã đem về cho ông 500 ngàn đồng. Rồi ông trầm ngâm “nghề sông nước
không phụ ai cả chú ạ, nó luôn ưu ái những người bám trụ lấy nghề và sống
chết cùng nó”.
25