Tài liệu BÁO CÁO ĐỀ ÁN - PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN TẠI NGUỒN TRÊN ĐỊA BÀN P.QUYẾT THẮNG TP.BIÊN HÒA - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO ĐỀ ÁN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH
PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN TẠI NGUỒN
TRÊN ĐỊA BÀN P.QUYẾT THẮNG TP.BIÊN HÒA
GVC :
Thực hiện: Nhóm 1- Lớp DH07DL
Trần Thị Kim Anh
Đỗ Mỹ Dung
Trần Thị Khánh Hà
Lê Trương Ngọc Hân
Trần Quốc Khanh
Ngô Thị Liên
Trần Thị Kim Thanh
Lương Thị Ngọc Thảo
Đặng Thị Thảo
Lê Hoàng Bảo Trân.
TP Hồ Chí Minh 11/2009
1
MỤC LỤC
3.3.Tổng hợp ý kiến và xử lý số liệu: 14
5.2 Khuyến nghị 21
2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
3

Bên cạnh việc là tỉnh lỵ của Đồng Nai, Biên Hòa còn là trung tâm kinh tế, văn
hóa, chính trị và xã hội của tỉnh.
Thành phố đô thị loại II này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả
nước. Biên Hòa có 4 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt: Khu công
nghiệp Biên Hòa 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 2, Khu công nghiệp Amata và Khu
công nghiệp Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ.
Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia. Ngoài hệ thống đường
sắt Thống Nhất thuộc hệ thống đường sắt Bắc - Nam còn có hệ thống đường bộ
với nhiều con đường huyết mạch của Đồng Nai và cả nước như quốc lộ 1, quốc lộ
51, quốc lộ 15 Cây cầu huyết mạch và chịu nhiều tải trọng từ hàng triệu lượt
phương tiện qua lại là cầu Đồng Nai cũng tọa lạc tại Thành phố công nghiệp này.
Hiện nay cây cầu này đã xuống cấp và một cây cầu mới đang được xây dựng dự
kiến hoàn thành vào cuối năm 2009 sẽ cùng vận tải song hành nhằm giảm tải cho
cầu Đồng Nai cũ đã hơn 40 năm tuổi. Cây cầu mới này xây cách cầu cũ khoảng
3m về phía thượng lưu sông Đồng Nai.
Thành phố Biên Hòa là thành phố có mật độ dân cư cao thứ ba ở Việt Nam sau Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3932 người/km². Cùng với Bình Dương
và Tp.HCM, Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom, Vĩnh
Cửu tạo thành một tam giác công nghiệp phát triển nhất cả nước. Với những định
hướng, tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng
cấp thành phố này và các huyện lân cận như Trảng Bom và Long Thành trở thành
thành phố trực thuộc Trung ương vào trước năm 2015. Hiện nay, thành phố này là
một trong những thành phố đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước.
Về cơ cấu kinh tế, năm 2008, công nghiệp - xây dựng chiếm 70,13%; nông lâm
nghiệp chiếm 0,43% và dịch vụ chiếm 29,45%.
e. Lượng rác thải:
Thành phố Biên hòa hiện có khoảng 85% lượng rác thải sinh hoạt được đưa vào
xử lý và có thể khẳng định việc xử lý, tái chế rác sinh hoạt là việc làm hết sức cần
thiết để giải quyết lượng rác thải sinh hoạt một cách có ích. Trong số rác đưa vào
5

- Phía Đông giáp phường Thống Nhất
- Phía Tây giáp phường Thanh Bình
- Phía Bắc giáp phường Trung Dũng
- Phía Nam giáp sông Đồng Nai
Phường có tổng diện tích tự nhiên là 142,38ha chiếm 0,92% diện tích tự nhiên của
thành phố Biên Hòa.
b. Các ấp, khu phố
Phường Quyết Thắng được chia thành 4 khu phố
- Khu phố 1 có 15 tổ, 3 cư xá
- Khu phố 2 có 21 tổ, 2 cư xá
- Khu phố 3 có 16 tổ, 4 cư xá
- Khu phố 4 có 15 tổ, 2 cư xá
c. Địa hình
Là phường nội ô của thành phố Biên Hòa, tập trung các cơ quan hành chính của
tỉnh và thành phố, trên địa bàn phường có tuyến đường sắt đi ngang qua và có
công ty cấp nước sinh hoạt cho toàn thành phố.
d. Khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu ôn hoà thuộc khu vực Đông Nam Bộ
Nhiệt độ trung bình hằng năm 25,4
0
C – 29
0
C
Nhiệt độ thấp tuyệt đối 20 - 50
0
C
Độ ẩm trung bình hàng năm 83,5% mùa mưa
Độ ẩm thấp nhất mùa khô có khi dưới 70%
Lượng mưa trung bình 1800 mm/năm, phân phối không đều, trong 6 tháng mùa
mưa lượng mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm.

Giaasy, cacton, nhựa, túi nilon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh,
kim loại; chất thải đặc biệt như kệ sách, đèn, tủ hỏng, pin, dầu
nhớt xe, săm lốp, sơn thừa …
Xây dựng Gỗ, thép, bêtông, đất, cát …
Khu công cộng Giấy, túi nilon, lá cây …
Trạm xử lý nước Bùn hóa lý, bùn sinh học.
8
thải
- Phân loại chất thải rắn tại nguồn :
+ Theo Sở Tài nguyên & Môi Trường TP (2006) phân loại rác tại nguồn là
quá trình tách riêng chất thải rắn sinh hoạt ra thành một số hoặc tất cả các
thành phần của nó ngay tại nơi phát sinh và lưu giữ chúng một cách riêng biệt
trước khi thu gom và trong suốt quá trình thu gom, vận chuyển chất thải đến
nơi xử lý.
+ Theo định nghĩa của trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ & Quản lý
môi trường – Centema, phân loại rác tại nguồn là hoạt động thực tế tức thời
nhằm tách các thành phần chất thải khác nhau trước khi thu gom, vận chuyển
và xử lý.
Trong “Quy định về tổ chức và thực hiện thí điểm phân loại chất thải rắn sinh
hoạt tại nguồn” của Sở Tài Nguyên & Môi Trường TPHCM, việc phân loại
chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là chia các chất thải rắn sinh hoạt ra thành 2
loại : Các thành phần hữu cơ dễ phân hủy & các thành phần còn lại.
• Chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy bao gồm: Các thành phần chất thải có
nguồn gốc thực vật (rau, đậu, hoa quả, củ, hạt, cơm thừa…); Các thành
phần chất thải có nguồn gốc động vật ( tôm, cá, thịt, vỏ trứng, xác động
vật, phân gia súc, côn trùng…) nhưng không bao gồm các loại vỏ
nghêu, vỏ sò, rác sân vườn (lá cây, cành cây nhỏ, hoa, cỏ); Các thành
phần đã qua chế biến không sử dụng được.
• Chất thải rắn còn lại bao gồm các loại các loại chất thải rắn sinh hoạt
không thuộc nhóm chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy, ví dụ như: Kim

ĐIỂM HẸN
THU GOM
BÃI CHÔN LẤP
CTR ĐÔ THỊ
Quét dọn và thu gom rác đường phố tại các khu vực công cộng bao gồm các tuyến
đường, vỉa hè, tiểu đảo và các thùng rác công cộng trên các tuyến đường do lực
lượng công nhân của Cty Dịch vụ Môi trường Đô thị Biên Hòa thực hiện.
* Thu gom CTR sinh hoạt
- Thu gom CTR tại các hộ gia đình chủ yếu do công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị
Biên Hòa thực hiện. Chất thải rắn sinh hoạt từ nguồn thải ra được công nhân Công
ty thu gom đưa đến các điểm hẹn gần nhất, sau đó chuyển qua xe thu gom rác
chuyên dùng và chở thẳng về Bãi chôn lấp Trảng Dài.
- Thu gom tại các đơn vị có khối lượng chất thải lớn: đơn vị có nhu cầu đổt bỏ
chất thải sinh hoạt có khối lượng lớn phải ký hợp đồng với công ty để tiến hành
thu gom. Chất thải rắn tại các nguồn này thường được thu gom bằng xe tải chuyên
dùng và đưa thẳng về bãi chôn lấp.
* Thu gom vận chuyển và trung chuyển rác
Toàn bộ chất thải rắn đều do Cty Môi trường đô thị Biên Hòa thu gom tại các
điểm hẹn để vận chuyển đến khu vực xử lý là BCL Trảng Dài.
* Xử lý rác
Toàn bộ rác đều được chôn lấp tại BCL Trảng Dài. BCL Trảng Dài có tất cả 9 ô
chôn lấp CTR sinh hoạt và 5 ô chôn lấp chất thải công nghiệp không nguy hại.
Hiện nay, 3 ô CTR sinh hoạt và 3 ô chất thải công nghiệp không nguy hại đã được
dưa vào vận hành chôn lấp. Với tốc độ phát sinh chất thải rắn như hiện nay, dự
kiến BCL Trảng Dài vận hành đến năm 2010 thì phải đóng cửa.
b. Các giai đoạn triển khai:
- Cấp phát thùng túi đến các hộ dân:
Thùng, túi được Chi cục Bảo vệ Môi trường đầu tư trang bị và bàn giao cho Cty
Môi trường đô thị Biên Hòa chuyên chở, giao cấp cho
c. Công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác sau phân loại

Trung Dũng
Từ 15/5/2009 đến
31/7/2009
23.610
Từ 1/8/2009 đến
11/8/2009
5.340 Khối lượng rác vô
cơ từ hộ dân 4
phường
Từ 13/8/2009 đến
15/8/2009
2.600 Được tập trung
Bãi trạm
Thành phần rác vô cơ được nghiệm thu ước thành phần % như sau:
Thành phần Tỷ lệ (%) Ghi chú
Nhựa, nylon 60
Mút xốp 10
12
Vải vụn 15 Giẻ lau, quần áo cũ
Cao su phế phẩm 2
Thủy tinh, kim loại 2
Giấy vụn, cảton 5
Xà bần 5
Khác 1 Pin, tóc, vỏ sò
b. Nội dung chương trình được triển khai
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Được sử dụng để thu thập thông tin trong các tài liệu có sẵn để hoàn thiện phần
tổng quan và cơ sở lý luận cho đề tài. Thu thập các dữ liệu, hình ảnh, sơ đồ… từ
sách báo, internet, các luận văn tốt nghiệp và một số thông tin quan trọng từ công

khai.
Liệt kê các ý kiến của người dân qua một số câu hỏi mở trong quá trình phỏng
vấn. Qua đó, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của người dân nhằm đóng góp cho sự
thành công của chương trình.
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CHƯƠNG TRÌNH PLRTN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG QUYẾT THẮNG
Câu hỏi Đáp án A Đáp án B Đáp án C Đáp án D
Câu 4 Việc áp dụng
chương trình
Không bao giờ Đôi khi Thường
xuyên
Luôn luôn
14
phân loại rác 12,2% 28,46% 48,78% 10,56%
Câu 5
Khó khăn khi
phân loại rác
Không có thời gian
Không biết
phân loại
Mùi hôi
Ý kiến khác
8,8% 4% 3,2%
Không
có khó
khăn
96,11%
Khôn
g

việc PLR
1 Đáp án 2 Đáp án 3 Đáp án Không biết
41,56% 26% 26% 6,5%
Câu
12
Đối tượng nhận
được lợi ích từ
việc PLR
Người dân
Công nhân
thu gom
Chính quyền Tổ chức khác: Ve chai
32,35% 36,47% 20% 11,18%
Câu
13
Sự hợp lý của
việc phân rác
thành 2 loại
Có Không
94,3% 5,7%
Câu
15
Sự thay đổi
trước và sau khi
thực hiện việc
PLRTN
Không thay đổi gì Thay đổi ít
Thay đổi
nhiều
Ý kiến khác

Từ kết quả của câu 4 trên bảng số liệu trên ta thấy người dân thực hiện việc phân
loại rác khá thường xuyên (59,34%). Tuy nhiên việc phân loại này có thể do hai
nguyên nhân sau:
-Người dân hiểu được lợi ích của việc PLRTN nên thực hiện thường xuyên. Như
vậy chương trình sẽ đạt hiệu quả cao.
-Người dân chỉ làm theo quyết định từ phía chính quyền. Lúc đầu, chương trình
cũng sẽ đạt hiệu quả cao, nhưng về lâu dài thì hiệu quả có thể bị giảm xuống nếu
không có sự giám sát chặt chẽ.
Để tìm hiểu xem người dân tự nguyện phân loại rác hay bị bắt buộc ta dựa vào hai
biểu đồ: biểu đồ thể hiện sự hài lòng của người dân đối với chương trình và biều
đồ thể hiện kiến thức của người dân về việc PLRTN. Từ đó rút ra nhận xét và
đánh giá hiệu quả chương trình.
16
Nhận xét:
Qua biểu đồ, ta thấy người dân rất hài lòng với hệ thống thu gom rác. Khi có sự
hài lòng sẽ tạo tâm lý thoải mái trong việc phân loại. Điều này đóng góp cho sự
thành công của chương trình. Tuy nhiên việc phân loại rác đúng hay sai phụ thuộc
vào kiến thức của người dân.
Vậy ta cần tìm hiểu xem người dân có kiến thức như thế nào đối với việc PLRTN
trên địa bàn phường Quyết Thắng (căn cứ vào biểu đồ 2).
17
Nhận xét:
Ở câu số 11, chỉ có 26% người dân chọn 3 Đáp án, như vậy gần ¾ số người dân
không biết được mục đích của việc PLR là vì lợi ích của mình. Cho nên đến câu
12 chỉ có 32,25% người dân cho rằng đối tượng nhận được lợi ích từ chương trình
PLRTN là của chính người dân.
Ở câu số 13, 94,3% người dân hiểu được chia rác thành 2 loại là hợp lý, tuy nhiên
đến câu 15 thì có đến 46,65% người dân trả lời việc PLRTN không có thay đổi gì
18
sau khi thực hiện. Điều đó có nghĩa rằng người dân đã không nắm vững kiến thức

người lớn tuổi thường khá bảo thủ vì thế khó được sự đồng thuận và hợp tác của
họ.
- Ý thức người dân:
+ Người dân có thể hoàn toàn sử dụng những dụng cụ sẵn có để tiếp tục phân loại
như thùng bỏ hoặc bịch nylon không sử dụng nữa nhưng họ lại khá phụ thuộc vào
những dụng cụ được phát, nếu đầy thùng hoặc hết bịch nilon thì ngừng phân loại.
+ Một số người dân quan niệm “người ta sao mình vậy” thấy người dân xung
quanh làm thì mình cũng làm, người ta không làm nữa thì mình cũng không làm
nữa. Họ còn quan niệm “việc thực hiện PLRTN vì Nhà Nước yêu cầu, vì thấy mọi
người đều làm nên làm theo, không tự nguyện làm vì lợi ích gia đình hay vì họ
thấy được những tác động tích cực của hoạt động PLRTN mà chỉ là do chính
quyền yêu cầu hoặc vì ai cũng làm nên họ làm theo, những lý do này có thể dẫn
đến tình trạng người dân thực hiện cho có, không tích cực và thực hiện không
đúng cách.
- Những người thu nhặt bọc nilon làm xáo trộn rác đã phân loại.
- Thực hiện lấy lệ, chưa tự giác, chỉ làm khi được nhắc nhở….nên chưa điều chỉnh
được hành vi không thực hiện PLRTN của người dân.
- Lực lượng thu gom rác chưa sử dụng xe 2 ngăn chứa rác đã phân loại (không tự
giác ngăn xe) phân loại rác lấy lệ, đùn đẩy trách nhiệm.
- Chưa chuyển rác về đúng nơi quy định.
- Thiếu quy chế PLRTN. Tất cả các quy định mới chỉ dừng ở mức thí điểm,
khuyến khích người dân thực hiện, không hề có hình thức xử phạt vi phạm nào.
Do đó người dân hay đội ngũ thu gom rác muốn thực hiện cũng được, không thực
hiện cũng không sao. Điều này không tạo sự đồng bộ, dẫn đến chất lượng của quy
trình phân loại rác không cao.
20
- Hình thức tuyên truyền chưa đa dạng, chủ yếu tuyên truyền bằng miệng, các
hình thức khác như tờ rơi, poster, băng rôn, truyền hình chưa được áp dụng nhiều.
Người dân sau khi được nghe hướng dẫn về PLRTN lại không tuyên truyền lại cho
người nhà cùng biết, dẫn đến hiện tượng trong nhà thường chỉ có một người hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status