WP/08/186
TÀI LIỆU CÔNG TÁC CỦA QŨY TIỀN TỆ QUỐC TẾ
Những hiệu ứng của cuộc khủng hoảng thế chấp
cho vay bất động sản dưới chuẩn:
Nó là một quy luật hay một cú sốc tài chính?
Hui Tong và Shang-Jin Wei
bản quyền quỹ tiền tệ quốc tế 2008
WP/08/186
Tài liệu công tác IMF
Ban Bán cầu tây
Những hiệu ứng của cuộc khủng hoảng thế chấp cho vay
bât động sản dưới chuẩn:
Nó là một quy luật hay một cú sốc Tài chính?
Hui Tong và Shang-Jin We chuẩn bị
Được cho phép phân phối bởi Tamim Bayoumi
Tháng 7 2008
Tóm tắt
Bản báo cáo công tác có thể không thể hiện quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế
Những quan điểm đưa ra trong bản báo cáo này là quan điểm của các tác giả chứ
không nhất thiết rằng đây là quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế hay chính sách của
họ. Những báo cáo công tác thể hiện chi tiết nghiên cứu đã được các tác giả thực
hiện và phát hành để đưa ra những bình luận và để tranh luận sâu hơn.
Chúng tôi phát triển một phương pháp để nghiên cứu cuộc khủng hoảng tín dụng
nhà đất lan ra nền kinh tế thực như thế nào
Có phải lúc đầu nó tự biểu hiện thông qua việc giảm nhu cầu tiêu dùng hay giới
hạn thanh khoản lên các Công ty phi tài chính không? Từ đó hầu hết các công ty phi
tài chính giữ nhiều tiền mặt hơn trước. Họ không mong muốn phải đối mặt với việc
hạn chế tài chính nghiêm trọng. Chúng tôi đưa ra một phương thức để dự báo hai
nguồn gốc của những tín hiệu đổ vỡ. Đầu tiên chúng tôi đưa ra một chỉ số về độ nhạy
cảm của các công ty về cầu tiêu dùng, dựa trên những phản ứng từ cú sốc ngày 11/9
năm 2001. Sau đó chúng tôi xây dựng một chỉ số cấp độ công ty riêng biệt trong giới
Wang,
Toni
Whited,
Yishay
Yafeh, và những thành viên tham gia hội nghị giữa Quỹ tiền tệ quốc tế và tổ chức tài chính quốc tế
2
Nội dung Trang
I. Lời giới thiệu 4
II. Thuyết minh và những biến then chốt 11
A. Thuyết minh Cơ bản 11
B. Dữ liệu then chốt 13
III. Sự Phân tích Thực nghiệm 20
A. Những kết quả cơ bản 20
B. Những vai trò tiến triển của việc giới hạn thanh khoản và giảm nhu cầu 23
C. Giải pháp đo lường khác về độ tin cậy tài chính 26
D. Những trắc nghiệm vô hại 27
E. Làm rõ thực chất tỷ giá hối đoái và sự thay đổi giá hàng hoá 29
F. Những sự mở rộng và kiểm tra bổ sung linh hoạt 32
IV. Kết luận 34
Tham chiếu 36
Bảng biểu
1a.Tổng kết số liệu 39
1b. Tương quan giữa các biến 39
2. Sự biến động của giá chứng khoán suốt giai đoạn khủng hoảng 40
3. Biện pháp thay thế của sự phụ thuộc tài chính 41
George Soros, Joseph Stiglitz, Quĩ Tiền tệ Quốc tế, và những người bình luận khác
gọi là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ sau cuộc đại suy thoái. Hơn nữa,
Soros nghĩ rằng cơn khủng hoảng đó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thực, tuy
nhiên phạm vi của ảnh hưởng của nó chưa hoàn toàn được nhận biết. Trong bài này,
chúng ta nghiên cứu bằng cách nào mà cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất có thể từ
khu vực tài chính lan ra nền kinh tế thực. Nếu có một hiệu ứng lan toả, nó có tự biểu
hiện thông qua giảm cầu tiêu dùng và lòng tin khách hàng không? Có thêm phương
thức giảm thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư thông qua việc thắt chặt giới hạn
đi vay mà những công ty phi tài chính phải đối mặt hay không? Tìm hiểu những
phương thức này có thể giúp xây dựng một chính sách đối phó thích hợp.
Quan điểm cho rằng nền kinh tế thực có thể hứng chịu một cuộc kiểm soát tín
dụng là một kết quả lan rộng của khủng hoảng nhà đất ngày càng hiển nhiên hơn.
Như tài liệu chu đáo mà Bates, Kahle, và Stulz(năm 2007) đã trình bày, các công ty
phi tài chính đã nắm giữ nhiều tiền mặt trước cuộc khủng hoảng. Theo họ, " Tỷ lệ nợ
ròng(số nợ trừ đi tiền, chia từ những tài sản) cho thấy một vấn đề muôn thủa rõ ràng.
Sự suy sụp trong những món nợ ròng thê thảm đến nỗi nợ ròng trung bình của các
công ty ở Mỹ trái ngược với năm 2004. Hay nói cách khác, trung bình các công ty có
thể đã thanh toán món nợ của họ bằng tài sản tiền mặt của họ" đã cho thấy khuynh
hướng xuống dốc dài hạn trong tài sản tiền mặt là điều hiển nhiên, tỷ lệ nợ ròng thích
hợp thậm chí có vẻ phù hợp hơn trong lĩnh vực tiêu cực cho đến giữa năm 2007, ngay
trước khi cuộc khủng hoảng nhà đất bùng nổ hoàn toàn vào tháng 8 năm 2007. Điều
này ít ra cũng cho thấy khả năng thắt chặt thanh khoản bên ngoài khu vực tài chính là
không nghiêm trọng. Có lẽ ngoài sự tin tưởng này, Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang
Ben S. Bernanke còn gọi là các vùng cân bằng chung của các tập đoàn mạnh " một
đốm sáng trong dự báo đen tối ", trong bài nhận định của ông ta tại quốc hội Mỹ về
chính sách tiền tệ vào ngày 27 tháng 2 năm 2008
5
Tuy nhiên chúng tôi tin tưởng rằng không phải tất cả các công ty phi tài chính
đều đứng vững như nhau trước sóng gió của cú sốc tín dụng nhà đất này. Thực vậy,
xây dựng một chỉ số mức công ty dựa trên mức độ các giới hạn tài chính, theo như
Whited và Wu(năm 2006). Hơn thế nữa chúng tôi sử dụng một chỉ số dựa trên sự
phụ thuộc bên trong đối với tài chính bên ngoài của Rajan và Zingales (1998) để kiểm
tra linh hoạt. Rất quan trọng khi lưu ý giới hạn tài chính để chỉ ra những khó khăn
trong việc nâng tất cả các khoản tài chính từ bên ngoài lên, không chỉ trong vay mượn
từ ngân hàng.
Khi kiểm soát các biến, chúng tôi thêm biến bêta, kích thước công ty, và hệ số
giá ghi sổ trên giá thị trường từ mô hình 3 nhân tố của Fama và French (1992), và
nhân tố thứ tư là động lượng được Lakonishok, Shleifer, và Vishny đưa ra(năm
1994). Những nhân tố này thường được dùng nhưng không phải lúc nào cũng quan
trọng trong thống kê. Tuy nhiên, hai biến hồi quy độc lập then chốt của chúng tôi:
giới hạn tài chính và tính nhạy cảm cầu tiêu dùng, thì luôn luôn quan trọng trong
thống kê với một dấu hiệu chính xác. Sự giải thích của chúng tôi là trong suốt thời
gian khủng hoảng nhà đất, hai biến này có thể phản ánh những khía cạnh về sự mạo
hiểm của các công ty nhưng hoàn toàn không được nắm bắt thông qua 3 nhân tố, hay
mô hình nhân tố thứ 4. Mớ rộng thêm, chúng tôi kiểm soát sâu hơn để làm rõ tỷ giá
và giá hàng hoá.
Để chỉ ra vấn đề bên trong, chúng tôi chắc chắn rằng các biến hồi quy độc lập
chính, độ giới hạn thanh khoản của công ty, và độ nhạy cảm của nó đối với cú sốc về
cầu phải được xác định trước với việc chú ý đến cuộc khủng hoảng chính thức về tài
chính. Nói cách khác, chúng tôi nghĩ thử nghiệm trong việc này đó là: nếu chúng tôi
phân loại các công ty phi tài chính vào các rổ khác nhau, dựa trên mức độ dự tính về
giới hạn thanh khoản, và tính nhạy cảm trước sau đến cú sốc về cầu, việc phân loại có
7
thể giúp chúng ta dự đoán sự thể hiện giá chứng khoán niêm yết của các công ty này
hay không? Nếu có sự dự báo khả năng liên quan đến những phân loại này, nó có thể
mang lại điều gì ngoài những cái được giải thích bởi mô hình 3 nhân tố cuả Fama và
French và nhân tố động lượng hay không?
Chúng tôi thấy thấy rằng câu trả lời là có cho cả hai câu hỏi. Một sự tăng lên
bắt đầu bằng việc thử lại chỉ số của chúng tôi dựa vào sự phản hồi giá cổ phiếu mức
công ty phản ánh chủ yếu từ cú sốc về cầu bao gồm cả cú sốc nặng về thanh khoản từ
vụ khủng bố 11/9. Chắc chắn rằng lãi suất thị trường có tăng lên vào vài ngày đầu
sau vụ 11 tháng 9 năm 2001. Tuy nhiên, cục dự trữ Liên bang đã đưa ra một hành
động quyết định để bình ổn thị trường. Lãi suất thị trường của FED là thích hợp để
khôi phục tính thanh khoản cần thiết cho nền kinh tế. Cùng lúc đó, cả hai dự báo kinh
tế về tỷ lệ tăng trưởng của Mỹ và lòng tin khách hàng được đo bởi chỉ số tình cảm
khách hàng của Michigan đã đón nhận một thời kỳ suy thoái sâu sắc ngay sau vụ tấn
công 11/9. Cái nhìn bi quan sâu sắc hơn về nền kinh tế Mỹ kéo dài ít nhất trong 6
tháng. Điều này cho thấy rằng cú sốc 11/9, được đo lường hơn 1 tháng sau vụ tấn
công khủng bố, phản ánh một cú sốc tiêu cực tới lòng tin của khách hàng. Để tô đậm
thêm sự giải thích của mình, chúng tôi cũng theo dõi một biến hồi quy về sự suy sụp
giá chứng khoán trong 1 tháng sau cú sốc 11/9 theo đo lường các giới hạn thanh
khoản của Whited và Wu (sử dụng đặc trưng của công ty với giá trị đến cuối năm
2000 để đảm bảo biến được xác định trước). Những sự khác biệt về giới hạn thanh
khoản của các công ty kinh doanh chéo trở thành không quan trọng trong việc giải
thích sự khác biệt trong sự suy sụp giá cổ phiếu của chúng trong thời gian này. Điều
này cho thấy thêm rằng chỉ số 11/9 không phải có khả năng bị hư hại nặng nề bởi yếu
tố giới hạn thanh khoản.
Bây giờ chúng tôi bàn đến tính hợp lệ của biện pháp then chốt về giới hạn thanh
khoản mức công ty. Khi kiểm tra linh hoạt, chúng tôi thay thế chỉ số Whited-Wu về
giới hạn thanh khoản bằng một chỉ số bản tính cấp độ khu vực dựa trên nguồn tài
chính bên ngoài được Rajan và Zingales đề xướng (năm 1998). Chỉ số mới này cũng
9
có một hệ số thống kê và phủ định quan trọng: những công ty vốn dựa nhiều hơn vào
nguồn tài chính ngoài thì chịu đựng rớt giá chứng khoán lớn hơn. Mở rộng ra, chúng
ta cũng có thể kết hợp chỉ số Whited-Wu (WW) với chỉ số Rajan- Zingales (RZ)
trong cùng một hồi quy khi chúng đo những điều hơi khác nhau. Chúng tôi thấy rằng
thậm chí trong số những công ty tồn tại trong các khu vực dựa vào tài chính bên
của các công ty và chi phí bởi tỷ lệ nước/tiền tệ từ bất kỳ cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn nào,
chúng tôi phải triển khai tiếp cận một cách gián tiếp để đánh giá thực chất của các
công ty về sự thay đổi giá hàng hoá và dịch vụ của chúng. Tiếp theo chúng tôi có một
thủ tục gồm 3 bước. Đầu tiên, sử dụng thông tin tuần từ 2004 đến 2006, chúng tôi
đánh giá tính nhạy cảm của công ty đối với thay đổi của giá cả hàng hoá và tiền tệ
chính bằng việc sử dụng một khung hồi quy. Thứ hai, chúng tôi tập hợp những hệ số
nhạy cảm mức công ty với thay đổi giá hàng hoá và tiền tệ từ những hồi quy nêu
trên, và kết hợp chúng với những thay đổi thực sự trong các giá hàng hoá và tỷ giá
hối đoái chính sau tháng 8 năm 2007 để hình thành một thước đo thực chất nhận thức
của mỗi công ty đối với những hệ số này. Thứ ba, chúng tôi thêm mức công ty để
làm sáng tỏ những nhân tố này như những biến điều khiển bổ sung trong những hồi
quy chính của chúng tôi.
Cam đoan rằng, cả tính nhạy cảm câù tiêu dùng lẫn giới hạn thanh khoản đều
tiếp tục có những hệ số thống kê và phủ định quan trọng. Thật ra, kích thước của
những ước lượng điểm khó có thể bị ảnh hưởng bởi sự làm rõ thay đổi trong giá tiêu
dùng và tiền tệ. Cùng lúc đó, với cam đoan tương tự, chúng tôi tìm thấy vài bản chất,
đặc biệt là sự thả nổi giá năng lượng, có một hiệu ứng thống kê quan trọng trong giá
cổ phiếu của nhiều công ty.
Sự xoay vòng kiểm tra linh hoạt này củng cố sự giải thích của chúng tôi về cả
tính thanh khoản và sự mất mát lòng tin khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến các
công ty phi tài chính trong thời gian khủng hoảng nhà đất. Hơn nữa, với hình thức
thay đổi giá cổ phiếu tương đối thì một sự thắt chặt giới hạn thanh khoản xuất hiện trở
11
thành định lượng cho một nguyên nhân quan trọng hơn.
Bài này liên quan tới các tài liệu kiểm soát tín dụng(chẳng hạn như, Bernanke và
Lown, 1991; Borensztein và Lee, 2002; Dell’Ariccia, Detragiache, và Rajan, 2008, và
nhiều tài liệu khác). Chúng tôi khác với tài liệu trước đó ở chỗ xem xét tính nhạy cảm
của cầu đồng thời với giới hạn thanh khoản. Những thước đo về giới hạn thanh khoản
của chúng tôi, đặc biệt là việc sử dụng chỉ số Whited-Wu là mới mẻ. Đáng chú ý hơn,
+
β
1
DemandSensitivity
i
+
β
2
FinancialConstraint
i
,t
−
1
+
ε
it
12
Lưu ý rằng đây là một hồi quy chéo thuần túy, và những biến hồi quy độc lập
chủ chốt được xác định trước(vào năm 2006). Như một sự kiểm tra sơ bộ cơ bản,
Size
i ,t
+
γ
2
Market / Book
i ,t
−
1
+
γ
3
Beta
i ,t
−
1
+
γ
4
Momemtum
i ,t
−
1
+
giới hạn thanh khoản. Chúng tôi lần lượt bàn đến chúng
Chỉ số giới hạn tài chính
Có một tài liệu tích cực trong việc đo giới hạn thanh khoản. Một công cụ đo
có được do Kaplan và Zingales (1997). Họ sử dụng thông tin dự kiến để xem
công ty nào bị giới hạn thanh khoản, và sau đó sử dụng một khung hồi quy để tìm
xem những biến nào dự báo tốt nhất tình trạng giới hạn thanh khoản. Thủ tục này
dẫn dắt họ định nghĩa một chỉ số giới hạn thanh khoản được dựa vào năm biến: tỷ
lệ của lợi nhuận thực tế thu được từ vốn, biến Q của Tobin, tỷ suất nợ trên vốn, tỷ
suất cổ tức trên vốn, và tỷ suất tiền mặt trên vốn.
Cách đo lý thuyết thích hợp và hợp thời nhất được Whited và Wu cung
cấp(2006). Họ nhìn những giới hạn thanh khoản mà các công ty phải đương đầu
bởi giá trị ẩn về tiền mặt (Giá trị của một bộ nhân Lagrange vấn đề tối đa hóa lợi
nhuận). Để cụ thể, họ dẫn xuất ra giới hạn thanh khoản theo bốn bước. Đầu tiên,
họ viết ra vấn đề tối ưu hóa động lực của công ty là để làm tối đa giá trị chiết
khấu hiện tại kỳ vọng của dòng số chi trả tương lai, căn cứ để định nghĩa các giới
hạn(một định nghĩa về số chi trả, và mối quan hệ giữa cổ phần vốn và đầu tư) và
2 giới hạn bất cân xứng. Giới hạn bất cân xứng đầu tiên đó là một cận dưới của
chi trả cổ tức trong một giai đoạn đã cho. Một số chi trả tiêu cực là tương đương
dựa trên các khái niệm với một bảo hiểm chia nhận mới " từ đó trên lề hai định
nghĩa có cùng hiệu quả đối với những cổ đông lâu năm". Cận dưới là một thước
đo khả năng của công ty trong việc nâng tài chính từ bên ngoài. Giới hạn bất cân
xứng thứ hai là cận trên của cổ phiếu nợ trong một giai đoạn đã cho.
Thứ hai, họ dẫn xuất ra một tập hợp điều kiện theo thứ tự đầu tiên, bao gồm
một phương trình Euler trên cổ phần vốn và phương trình Euler khác trên cổ phần
nợ. Để tạo ra mô hình thích hợp cho ước lượng, họ thay thế dấu hiệu kỳ vọng
bằng một thuật ngữ lỗi kỳ vọng, Và biểu hiện bằng tham số một chi phí hàm điều
chỉnh cổ phần vốn. Quan trọng, họ chỉ rõ mối quan hệ hàm số giữa số nhân
Lagrange liên quan đến giới hạn bất cân xứng dựa trên cận dưới của chi trả cổ
tức, nó là giá trị ẩn của việc nâng tài chính bên ngoài trong một giai đoạn cho
trước, và tập hợp 5 biến mà những tài liệu đã có cho là liên quan với giới hạn
nan
cial
C
ons
t
ra
i
n
t=
-0.091(
C
ash
Fl
o
w
/
Asset
)
it
- 0.062D
ivi
d
e
ndDumm
y
it
rmGro
wt
h
it
Dữ liệu bảng cân đối tài sản mức công ty đến từ Compustat của Mỹ. Bằng
cách xây dựng, chúng được định trước với sự dè chừng sự tấn công của cuộc
khủng hoảng nhà đất.
Whited và Wu so sánh chỉ số của họ với cách đo giới hạn tài chính phổ
biến khác do Kaplan và Zingales đề xướng(năm 1997). Trong dữ liệu được mô
phỏng, họ phát hiện chỉ số KZ không thực hiện tốt trong việc lựa chọn ở ngoài
công ty mà được xây dựng giới hạn về mặt tài chính. Theo một nghĩa, không
ngạc nhiên khi Whited và Wu có thể được lưu tâm tới như một sự khái quát của
chỉ số Kaplan- Zingales, nhưng với một nền tảng tốt hơn trong lý thuyết và ước
lượng cấu trúc sâu hơn từ dữ liệu. Kết quả là, chúng tôi làm chỉ số Whited-Wu trở
thành cách đo sơ đẳng của mình về các giới hạn tài chính.
Khi kiểm tra linh hoạt, chúng tôi cũng dùng cách đo thay thế do Rajan và
Zingales đề xướng(1998). Chỉ số RZ cho xấp xỉ mức khu vực cho một nhu cầu
đặc trưng của công ty với tài chính ngoài. Tiếp theo Rajan và Zingales(1998),
chúng tôi định nghĩa một nhu cầu đặc trưng của công ty với tài chính ngoài bằng
công thức:
4)
Sự Phụ thuộc vào tài chính ngoài =
[vốn xây dựng cơ bản - lợi nhuận thực tế thu
được]
vốn xây dựng cơ bản
Vòng quay tiền = Vòng quay tiền từ những thao tác+ giảm bớt trong những
kiểm kê + giảm bớt ở số tiền thu nhận + tăng ở các khoản nợ. Tất cả các con số
dựa trên các công ty ở Mỹ, các công ty này được xét đoán là ít thích hợp nhất để
hứng chịu giới hạn tài chính có liên quan đến những công ty trong các nước khác.
Bản tài liệu chính của Rajan và Zingales(1998) bao trùm chỉ có 40 khu vực(chủ
11/9/2001 (từ ngày 10/9/2001 đến 28/9/2001). Cú sốc 9/ 11 được xem là lớn và
đầy bất ngờ. Chúng tôi có thể xác định rằng có một sự chuyển dịch lớn và đi
xuống trong lòng tin khách hàng và cầu tiêu dùng kỳ vọng là phản ánh của việc
điều chỉnh xuống trong dự báo tăng trưởng tiếp theo của Mỹ do quỹ tiền tệ quốc
tế và những chuyên gia dự báo khác về hậu quả của cú sốc đưa ra. Hình 3 biểu
diễn một sự giảm sút mạnh trong lòng tin của khách hàng ngay sau ngày 11/9, nó
giữ ở mức thấp trong 4 tháng tiếp theo. Hình 4 cho thấy sâu hơn rằng sự dự báo
tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ cho năm 2002 cũng suy sụp sâu sắc tới mức 1.5%
sau cú sốc 11/9, ở mức thấp trong ít nhất ba tháng. Quỹ tiền tệ quốc tế, trong ấn
phẩm số đặc biệt tháng 12/2001 về viễn cảnh kinh tế thế giới, khẳng định rằng "
Tác động chính[của cú sốc 11/9] có khả năng phụ thuộc chủ yếu vào sự giảm cầu
phát sinh từ sự giảm lòng tin đối với nền kinh tế". Do đó chúng tôi kết luận
những thay đổi trong giá cổ phiếu trong 28/9/2001, nắm bắt những công ty dễ bị
tổn thương với việc mất lòng tin khách hàng và sự sụt giảm liên đới trong cầu tiêu
dùng.
Cùng lúc đó, vì cục dự trữ Liên bang đưa ra những hành động quyết định và
đúng lúc có thể bàn luận rằng hiệu ứng của cú sốc 11/9 lên giới hạn tài chính của
các công ty là nhỏ và hầu như chỉ duy trì trong thời gian ngắn. Thật tế, cục dự trữ
Liên bang đã công bố vào 17/9/2001 rằng: "Cục dự trữ Liên bang sẽ tiếp tục
cung cấp khối lượng thanh khoản lớn hơn mức bình thường cho thị trường tài
chính, cần thiết cho đến khi thị trường ổn định hơn sẽ khôi phục lại.". Hình 5 vẽ
lên sự chênh lệch giá lãi suất trong 3 tháng giữa các ngân hàng giao dịch với
nhau( trong thị trường đô la - đồng euro) thông qua trái phiếu kho bạc ba
tháng(chênh lệch giá TED) từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 10 trong cả hai năm
2001 và 2007. Như chúng ta đã thấy, trong thời kỳ 2001, sau mốc ban đầu, cả hai
mức lãi suất thực tế lẫn chênh lệch giá(tiền bù rủi ro), nhanh chóng được trả lại
chỉ còn một mức cao vừa phải so với mức trước 11/9. Điều này cho thấy rằng thị
trường có thể đã quan tâm tới những hành động của cục dự trữ Liên bang trong
những ngày của cuộc tấn công khủng bố đủ để khôi phục mức thanh khoản. Thực
vậy, Quỹ tiền tệ Quốc tế trong các vấn đề bổ xung về viễn cảnh thế giới tháng
chúng tôi sử dụng những thị trường hạng hai của năm 2006.
Bảng 1a báo cáo thống kê tóm tắt về các biến chủ chốt. Cầu nhạy cảm, giới
hạn thanh khoản( chỉ số Whited-Wu), và sự phụ thuộc bản tính vào tài chính
ngoài (chỉ số Rajan-Zingales) là tất cả tiêu chuẩn tạo điều kiện thuận lợi cho việc
giải thích những hệ số hồi quy tiếp theo. Tất cả đều có một sự lệch chuẩn đơn nhất
về cấu trúc. Bảng 1b báo cáo những tương quan từng cặp giữa các biến. Đặc biệt
đáng ghi nhớ rằng tương quan giữa hai biến hồi quy chủ chốt, cầu nhạy cảm và
giới hạn tài chính, nhỏ bằng 0.01. Từ đây chúng gần như trực giao với nhau.
III.Sự Phân tích Thực nghiệm
A. Những kết quả Cơ bản
Chúng tôi khảo sát sự thay đổi phần trăm trong giá chứng khoán (hay chính
xác hơn, sự khác nhau trong nhật ký giá chứng khoán) từ 31/01/2007 tới
31/03/2008 của các công ty phi tài chính Mỹ. Trong Cột 1 của Bảng 2, chúng tôi
cho chỉ số cầu nhạy cảm và chỉ số giới hạn thanh khoản(Whited-Wu) là các biến
hồi quy then chốt duy nhất. Cả hai biến đều có một hệ số phủ định và mức quan
trọng trong thống kê: các công ty kinh doanh chéo, điều này cho thấy nhiều nhạy
cảm hơn đối với mất lòng tin khách hàng, hay giới hạn thanh khoản nhiều hơn
trước cuộc khủng hoảng nhà đất, thông qua việc giá cổ phiếu rớt xuống nhiều
hơn trong thời gian cơn khủng hoảng nhà đất. Từ khi cả hai biến được tiêu chuẩn
hóa, chúng tôi có thể đọc ra những ước lượng điểm một cách trực tiếp: Một sự
gia tăng trong nhạy cảm tới lòng tin khách hàng bởi một độ lệch chuẩn liên
quan đến giá cổ phiếu rớt thêm xuống mức 3.7% . Khi so sánh, sự tăng thêm
trong giới hạn thanh khoản bằng với một độ lệch chuẩn có liên quan đến giá cổ
phiếu rớt thêm xuống mức 11.7%. đến chừng mức các công ty kinh doanh chéo
quan tâm đến sự chuyển đổi ngành nghề, giới hạn thanh khoản có vẻ là một giải
thích quan trọng hơn về định lượng so với sự mất lòng tin khách hàng. [R
2
tương
đối thấp không làm chúng tôi lo lắng quá mức vì chúng chỉ là biến hồi quy chéo
ban đầu, và những sự thay đổi trong những giá cổ phiếu có khả năng khó giải
đánh mạnh vào những cổ phần này(tương quan tới những cổ phần khác)? Đây
thực chất là một cách khác để đánh giá sự quan trọng định lượng hai nhân tố.
Bây giờ chúng ta quay lại một " cách tiếp cận danh mục đầu tư ", và theo dõi
những hiệu ứng của hai nhân tố theo thời gian. Đặc biệt, chúng tôi đi theo ba
bước. Đầu tiên, chúng tôi phân loại mỗi cổ phần phi tài chính (khác biệt với các
công ty hàng không, quốc phòng, và bảo hiểm) theo hai chiều: có độ giới hạn
thanh khoản cuối năm 2006 ở mức trên hay mức dưới ( cho mỗi giá trị của chỉ số
Whited-Wu) trung bình trong mẫu, và có cầu nhạy cảm tiêu dùng ở mức trên hay
dưới trung bình. Thứ hai, chúng tôi thành lập bốn danh mục đầu tư trong
31/07/2007 và điều chỉnh kết cấu cho giai đoạn kế tiếp: danh mục vốn đầu tư
HH là một nhóm những cổ phần có trọng số bằng nhau có giới hạn thanh khoản
cao và nhạy cảm cao đối với cầu tiêu dùng của khách hàng; danh mục vốn đầu
tư HH là một nhóm những cổ phần có giới hạn thanh khoản cao, nhưng tương
đối không nhạy cảm với thay đổi về lòng tin khách hàng;
Chứng khoán có liên quan không làm giảm tính thanh khoản nhưng nhạy
cảm cao độ đối với lòng tin của khách hàng; và cuối cùng, danh mục đầu tư của
hãng LL bao gồm những loại chứng khoán không ghìm lại tính thanh khoản cũng
như không ảnh hưởng đến lòng tin dùng của khách hàng. Thứ ba, chúng tôi theo
dõi lợi nhuận lũy tiến của bốn danh mục này theo thời gian và diễn biến trên sơ
đồ kết quả tại Bảng số liệu số 6.
Một vài mô hình thú vị có thể thấy qua đồ thị. Trước hết, rõ ràng danh mục
đầu tư của HH bị giảm giá chứng khoán lũy tiến nhiều nhất qua thời gian trong
khi danh mục đầu tư của LL bị giảm giá chứng khoán ít nhất. Thứ hai, lợi nhuận
lũy tiến từ danh mục đầu tư HH và HL xấp xỉ nhau và đều thấp nhất trong nhóm,
trong khi của LL và LH xấp xỉ nhau và cao nhất trong nhóm. Điều này có nghĩa là
những thay đổi về lượng do giảm tính thanh khoản (như giải thích sự khác nhau
giữa các công ty trong sụt giảm giá chứng khoán) nhiều hơn là bị lỗ do lòng tin
của khách hàng. Thứ ba, nếu có một đơn vị muốn thiết lập danh mục đầu tư lớn
vào đầu tháng 8 năm 2007, điều này sẽ cắt giảm danh mục của HH và thêm vào
cho danh mục của LL, và đơn vị đó sẽ kiếm được 30% lợi nhuận vào cuối tháng 3