1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
GIÁO TRÌNH
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
PGs. Ts. Nguyễn Thanh Phƣơng
PGs. Ts. Trần Ngọc Hải
PGs. Ts. Dƣơng Nhựt Long
thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật
vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
Một số tác giả khái niệm nuôi thủy sản đơn giản hơn đó là nuôi hay canh tác
động và thực vật dưới nước do xuất xứ từ thật ngữ aqua (nước) + culture (nuôi).
2.1.1 Phân loại các loài thủy sản
Sự phân lại các loài thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo loài, tính ăn và
môi trường sống và khí hậu.
a) Nhóm cá (fish)
Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt
hay cá nước lợ. Ví dụ: cá tra, cá bống tượng, cá chình,…
b) Nhóm giáp xác (crustaceans)
Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối
tượng nuôi quan trọng. Ví dụ: Tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua biển,.
c) Nhóm động vật thân mềm (molluscs)
Gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở
biển (nghêu, sò huyết, hầu, ốc hương, ) và một số ít sống ở nước ngọt (trai ngọc).
d) Nhóm rong (Seaweeds)
Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài có kích thước nhỏ,
nhưng cũng có loài có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros,
Sargassium (lấy Alginate), Gracillaria (lấy agar agar),….
e) Nhóm bò sát (Reptilies) và lưỡng thê (Amphibians)
Bò sát là các động vật bốn chân có màng ối (ví dụ: cá sấu). Lưỡng thê là
những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn,…) được nuôi để
lấy thịt, lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi (lấy
vây), ếch (lấy da và thịt), cá sấu (lấu da),
2.1.2 Phân lọai theo tính ăn
a) Ăn thực vật (herbivorous)
Là nhóm có hàm khỏe, nhưng răng kém phát triển kể cả răng hầu; ruột khá
dài, thường chiều dài ruột (Li)/ chiều dài thân (L) >1, dạ dày không rõ ràng,… Một
số có lược mang phát triển để lọc phiêu sinh thực vật. Giá trị kinh tế thấp hơn
đông (như cá hồi, cá tầm,…). Nhóm loài nhiệt đới là những loài sống chủ yếu ở
vùng nhiệt đới và có thể chịu đựng được nhiệt độ cao (như cá rô phi, cá chép, cá
tra, tôm sú,…)
a) Nuôi thủy sản siêu thâm canh
Nuôi thủy sản siêu thâm canh là nuôi có năng suất cao, trung bình hơn 200
tấn/ha/năm; sử dụng thức ăn viên công nghiệp có thành phần dinh dưỡng đáp ứng
như cầu của đối tượng nuôi; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận
tạo); không dùng phân bón và loại bỏ hết địch hại; kiểm soát hoàn toàn các điều
kiện nuôi (nước được bơm hay tự chảy, thay nước hoàn toàn chủ động và kiểm soát
chất lượng nước, có sục khí,…). Nuôi chủ yếu trong ao nước chảy (flowing water
pond), trong lồng (cage), bể (tank) hay trong hệ thống máng nước chảy (raceways)
b) Nuôi thủy sản thâm canh
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tấn/ha/năm; kiểm
soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả
sản xuất đều cao; và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều kiện
nuôi (khí hậu và chất lượng nước); và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo (man-
made culture system).
c) Nuôi thủy sản bán thâm canh
Nuôi thủy sản bán thâm canh là hình thức nuôi có năng suất từ 2-20
tấn/ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón phân hay cho
ăn bổ sung; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận tạo); bón phân định
4
kỳ, trao đổi nước hay sục khí định kỳ; cắp nước bằng máy bơm hay tự chảy. Nuôi
trong ao, quầng hay bè đơn giản.
d) Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến
Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5-5
tấn/ha/năm; có thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giống được sản
xuất từ các trại (giống nhận tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô hay hữu
cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tố chất lượng nước đơn giản. Nuôi ao, lồng
dưới 100 đến hơn 1.000 m
3
/bè.
c) Nuôi lồng
Nuôi lồng là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các lồng làm bằng lưới
có kích cở rất khác nhau từ dưới 10 m
3
/lồng đến hơn 1.000 m
3
/lồng (trường hợp là
nuôi lồng biển). Tuy nhiên, nuôi lồng cũng có thể chỉ hình thức nuôi trong có lồng
làm bằng gỗ, tre/nứa,… kích thước thường nhỏ.
5
d) Nuôi đăng quầng
Là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các quầng lưới hay đăng tre có
kích thước rất khác nhau tùy theo loài nuôi. Quầng có thể có một mặt giáp với bờ,
nhưng đáy lồng là nền đáy của sông, bãi triều hay đầm phá,
e) Nuôi bãi triều
Nuôi bãi triều là hình thức nuôi quảng canh sò huyết, vẹm, hầu, điệp,
nghêu,… trên nền bãi triều ven biển. Sau một thời gian nuôi thì chúng được thu
họach bằng phương pháp cào lớp bùn đáy. Phương thức nuôi này cũng được dùng
trong trồng rong biển.
f) Nuôi giàn/dây treo
Nuôi giàng thường dùng để chỉ hình thức nuôi các loài nhuyển thể (2 mảnh
vỏ). Giàng có thể là dạng cố định bằng cọc cấm xuống bãi triều hoặc dạng phao nổi
để treo các chuỗi hay túi lưới đựng các loài nuôi bên trong như nuôi hầu, vẹm
xanh, Dạng phao có thể nuôi xa bờ còn dạng cố định thường gần bờ.
2.1.6 Các khái niệm khác
a) Qui tắc thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Practices – GAP)
Nuôi lồng ngoài biển (lồng nuôi cá giò) Nuôi bè lƣới Nuôi hầu treo giàng
Nuôi hầu trong túi lƣới
7
Nuôi tôm càng xanh đăng quầng
Nuôi quầng lƣới trong đầm phá
Nuôi cá trong bể nƣớc chảy
Hình 2.1: Các hình thức nuôi thủy sản khác nhau (Nguồn: Nguyễn Thanh Phương và
Trương Quốc Phú)
2.2 Các khái niệm về sinh trƣởng và sinh khối động vật thủy sản
2.2.1 Nguyên lý tăng trưởng của động vật thủy sản
Tăng trưởng của động vật thủy
sản hầu hết được chia thành hai giai
đoạn chính; giai đoạn tăng nhanh
(exponential) và giai đoạn tăng chậm
(asymptotic). Giữa giai đoạn tăng nhanh
và chậm có giai đoạn tăng theo theo
dạng đường thẳng (hay tăng tuyến tính).
Sinh khối tức thời là tổng sinh khối tươi của sinh vật hay nhóm sinh vật tính
trên một đơn vị diện tích tại một thời gian nhất định nào đó.
2.2.4 Sức tải (Carrying capacity)
Sức tải là tổng sinh khối của sinh vật hay nhóm sinh vật trên đơn vị diện tích
mà tại thời điểm đó sinh trưởng của các sinh vật dừng lại.
2.2.5 Sinh khối tới hạn (Critical standing crop)
Sinh khối tới hạn là tổng sinh
khối của sinh vật hay nhóm sinh vật
trên đơn vị diện tích mà tại đó sinh
trưởng của sinh vật bắt đầu chậm lại.
2.2.6 Năng suất (yield/productivity)
Năng suất được định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau, người sản xuất
hay người làm kinh tế định nghĩa năng
suất là tổng khối lượng thu hoạch trên
đơn vị diện tích hoặc thể tích. Tuy
nhiên, nhà khoa học thì năng suất là
khối lượng thu họach tăng trên trên đơn
vị diện tích (thể tích) (không tính khối
lượng thả ban đầu).
2.2.7 Sản lượng (Production)
Tổng sinh khối sinh vật sản xuất được trên một đơn vị diện tích hoặc thể
tích (bao gồm phần thu hoạch và chết) trong một thời gian nhất định. Ví dụ: 3.000
kg/ha trong 7 tháng. Tuy nhiên, sản lượng cũng có thể hiểu rộng ra là tổng khối
lượng sinh vật thu hoạch được từ một vùng (không cần biết rõ diện tích) trong thời
gian nhất định, thường là 1 năm. Ví dụ sản lượng cá tra nuôi của ĐBSCL năm 2008
là 1,2 triệu tấn (Popma, 2000).
2.3 Định nghĩa và khái niệm về sinh lý động vật thủy sản
Sinh lý học động vật thủy sản là một khoa học nghiên cứu về họat động
sống của cơ thể sinh vật và qui luật tác động qua lại của cơ thể sống với môi trường
mg/kg/giờ. Thường tiêu
hao oxy được tính khi sinh vật được nuôi/nhốt trong bể. Cá tra giống (15-20 g/con)
có có nhu cầu oxy là 306 mgO
2
/kg/giờ (Lương Thị Diễn Trang, 2009).
2.3.2 Trao đổi chất
Trao đổi chất của động vật thủy sản là một quá trình xảy ra trong cơ thể, nó
bao gồm 2 quá trình là đồng hóa và dị hóa. Đồng hóa là sự biến đổi vật chất dinh
dưỡng để tạo nguyên liệu cho cấu tạo và sinh ra năng lượng cho cơ thể. Dị hóa là
quá trình ngược lại của đồng hóa, là sự biến đổi vật chất cấu tạo cơ thể thành chất
đơn giản để sinh ra năng lượng cho sinh vật sử dụng và thải chất thải ra ngoài.
2.3.3 Tiêu hóa và hấp thu
Tiêu hóa của động vật thủy sản là quá trình giúp động vật có thể hấp thu các
chất dinh dưỡng càng hiệu quả
càng tốt và qua đó cung cấp năng
lượng và chất dinh dưỡng cho
sinh vật duy trì cơ thể, tăng
trưởng và sinh sản. Nguyên lý
của quá trình tiêu hóa là làm cho
thức ăn được cắt nhỏ ra và gia
tăng bề mặt tiếp; và tạo thành các
cấu phần phân tử. Quá trình tiêu
hóa xảy ra nhờ các enzyme phân
giải khác nhau phân giải chất
đạm, chất bột đường và chất béo
thành các hạt có kích cỡ nhỏ. Các
chất dinh dưỡng sau đó đi qua
thành ruột vào máu và được hấp
thu ở dạng hòa tan bởi tế bào và
2.4.1 Đặc điểm tiêu hóa thức ăn của của động vật thủy sản
Cấu trúc hệ tiêu hóa của cá gồm miệng, thực quản, dạ dày và ruột. Miệng là
nơi mà thức ăn được đưa vào đầu tiên, sau đó được đưa vào thực quản nhờ sự co
bóp của cơ ở phần hầu. Hầu chính là phần sau của xoang miệng và kích thước của
phần hầu thay đổi tùy theo loài. Ruột là phần sau cùng của hệ tiêu hóa, chiều dài
của ruột tùy thuộc và tính ăn của từng loài.
Hệ tiêu hóa của tôm tương tự như cá nhưng đơn giản hơn nhiều. Ruột tôm
dạng thẳng với ruột (dạ dạy), ruột giữa và ruột sau.
11 Hình 2.5: Cấu trúc ruột của một số loài cá (De Silva and Anderson 1995)
2.4.2 Nhu cầu một số chất dinh dưỡng chính của động vật thủy sản
Dưỡng chất là vật chất mà sinh vật sử dụng để duy trì, tăng trưởng và sinh
sản. Dưỡng chất gồm các chất đa lượng (macro-nutrients) như chất đạm, chất béo
và chất bột đường; và chất vi lượng (micro-nutrients) như vitamine, khoáng,… mỗi
loài có nhu cầu dưỡng chất khác nhau.
Nhu cầu dinh dưỡng thường được hiểu ở hai khía cạnh, nhu cầu dinh dưỡng
của động vật thủy sản (fish nutrition) và nhu cầu dinh dưỡng trong nuôi trồng thủy
sản (aquaculture nutrition). Nhu cầu của động vật thủy sản là nhu cầu chất dinh
dưỡng của một cá thể hay nhóm cá thể, còn nhu cầu dinh dưỡng nuôi trồng thủy
sản đề cập đến vấn đề dinh dưỡng trong hệ thống nuôi thủy sản
Nhu cầu dinh dưỡng là hàm lượng tối thiểu của các chất dinh dưỡng mà sinh
vật cần để duy trì tăng trưởng, sức khỏe và sinh sản.
a) Nhu cầu chất đạm
Chất đạm (protein) là một chuỗi các amino a-xít liên kế nhau bằng liên kết
peptit. Trong động vật thủy sản thì chất đạm có vai trò trong sự tăng trưởng tức là
vật liệu để tạo các chất đạm mới cho cơ thể. Chất đạm cũng tham gia cấu tạo các
emzyme và cung cấp năng lượng cho họat động sống của sinh vật.
Tuy nhiên, chất đạm là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn cho sinh
nguồn cung cấp năng lượng có giá thấp nhất.
d) Nhu cầu chất các chất khác
Bên cạnh ba chất dinh dưỡng chính (chất đa lượng) mà hầu hết các động vật
thủy sản cần phải có thì chúng còn có nhu cầu một số chất khác bao gồm các chất
vi lượng. Các chất vi lượng chủ yếu là vitamine và khoáng và chúng có những vai
trò khác nhau trong cơ thể sinh vật.
Nhu cầu chất khoáng (muối khoáng) của sinh vật thấp, nhưng một số tham
gia quá trình biến dưỡng, tham gia thành phần của các enzyme, tham gia cấu tạo cơ
thể, tham gia vào máu (hemoglobine),… Một số nếu xuất hiện với lượng lớn có thể
gây độc cho cơ thể.
Nhu cầu vitamine của sinh vật cũng khá khác nhau và tùy vào từng vitamin.
Có hai nhóm vitamin là nhóm tan trong nước và nhóm tan trong chất béo. Vitamin
là tham gia hỗ trợ các enzyme trong các phản ứng oxy hóa cũng như tăng cường
sức khỏe nhưng nếu thiết hụt lâu dài có thể gây bệnh cho sinh vật. Xác định chính
xác nhu cầu vitamin cua sinh vật không đơn giản, hầu hết các vitamin sinh vật
không tự tổng hợp nhưng nhiều lọai vitamina có trong các nguyên liêu thức ăn ở
những hàm lượng khác nhau.
2.4.5 Nguyên liệu dùng trong chế biến thức ăn thủy sản
a) Thế nào là nguyên liệu làm thức ăn
Nguyên liệu thức ăn là nguyên liệu thích hợp dùng chế biến thức ăn cho sinh
vật. Mỗi thức ăn có thể được cấu thành từ những thành phần hay nguồn nguyên
liệu khác nhau để có được thức ăn cân đối về thành phần dinh dưỡng.
b) Nguyên liệu cung cấp chất đạm
Nguyên liệu cung cấp chất đạm là những nguyên liệu mà trong thành phần
có chứa hàm lượng đạm cao. Có hai nguồn nguyên liệu cung cấp chất đạm chính là
nguyên liệu có nguồn gốc thực vật (như bột đậu nành, bánh dầu đậu phụng,…) và
nguyên liệu nguồn gốc động vật (bột cá, cá tạp, bột huyết, bột thịt xương,…).
Những loài ăn động vật thường có nhu cầu đạm động vật cao trong thức ăn.
nuôi. Thức ăn tươi sống cũng là thức ăn có kích thước nhỏ (như luân trùng, tảo,…)
mà được chủ động sản xuất và thả vào hệ thống nuôi.
b) Phối chế thức ăn
Là quá trình kết hợp các nguồn nguyên liệu tạo nên hổn hợp thức ăn theo
một mục đích cụ thể nào đó trong sản xuất (ví dụ như giá thành/kg thức ăn, tốc độ
tăng trưởng của vật nuôi, hệ số thức ăn, giá thành/kg sinh vật thu hoạch) hay để đạt
được mục đích cụ thể trong nghiên cứu. Phối chế thức ăn là một sự kết hợp giữa
thiết kế công thức thức ăn lý tưởng và sự phù hợp với yêu cầu cụ thể như đạt tốc độ
tăng trưởng nhanh; sinh sản cao và sức khỏe vật nuôi tốt (FAO, 2001).
c) Các nguyên tắc căn bản trong phối chế thức ăn
Chế biến thức ăn cho động vật thủy sản phải dựa vào các nguyên tắc sau:
Thức ăn phải hấp dẫn sinh vật nuôi, chất lượng và giá thành chấp nhận
được, sự ổn định và an toàn khi dùng; tác động môi trường thấp nhất; và hiệu quả
về kinh tế cao,
14
Xây dựng công thức thức ăn cho mỗi loài phải dựa trên cơ sở hiểu biết về
nhu cầu dinh dưỡng của loài, hiểu chi phí và giá trị dinh dưỡng của nguồn nguyên
liệu, và đặc tính vật lý của thức ăn cần chế biến (thức ăn viên nổi, chìm hay bán
nổi). Khi chế biến thức ăn chìm cũng phải lưu ý đến tốc độ chìm của viên thức ăn,
độ bền của viên thức ăn trong nước và chất kết dính cần phải sử dụng.
d) Các phương pháp phối chế thức ăn
Phố chế thức ăn được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như tính theo
đường chéo của hình vuông, tính bằng chương trình máy tính (Excel) hay sử dụng
phần mềm chuyên dùng cho tính toán công thức thức ăn (ví dụ: chương trình
winfeed).
Cách tính theo đường chéo hình vuông chỉ phù hợp cho tính toán các thành
phần dinh dưỡng quan trọng của thức ăn như chất đạm, chất béo, chất bột đường,
và thường áp dụng cho công thức thức ăn đơn giản và dùng ít nguồn nguyên liệu.
Khi sử dụng phần mềm excel có thể tính toán ở mức độ phức tạp hơn, nghĩa
tính cho cả thức ăn hay nguyên liệu và cho các dưỡng chất quan trọng như chất
đạm, năng lượng,
d) Độ bền của thức ăn (feed dis-integration)
Độ bền hay còn gọi là độ tan rả của thức ăn là thời gian mà thức ăn tan rả
khi cho vào môi trường nước. Tùy loài nuôi mà thức ăn được sản xuất có thời gian
tan rả khác nhau. Những loài có tính ăn nhanh và ăn ở tầng mặt như cá rô phi, tra,
chép, thì thời gian tan của thức ăn có thể ngắn (thức ăn nổi), nhưng những loài có
tính ăn chậm, ăn tầng đáy như tôm, cua, thì thời gian tan rả của thức ăn cần dài
hơn (thức ăn chìm). Độ bền của thức ăn được quyết định bởi nguyên liệu và chất
kết dính dùng làm thức ăn, nhưng nhiều loài cá không tiêu hóa tốt hoặc không thích
ăn quá cứng (chất kết dính nhiều).
e) Mùi vị của thức ăn
Mùi vị thức ăn tạo sự hấp dẫn của thức ăn và giúp cho sinh vật phát hiện
thức ăn, đặc biệt đối những loài ăn chậm và dùng khứ giác để phát hiện thức ăn
như tôm, cua. Chất tạo mùi cần được tan tỏa trong nước để giúp sinh vật phát hiện
và tìm đến thức ăn. Một số nguyên liệu làm thức ăn đã có sẳn chất tạo mùi như dầu
mực, dầu nhuyễn thể, bột đầu tôm.
2.4.8 Phương pháp cho ăn
a) Khẩu phần ăn
Khẩu phần ăn (feeding rate) là lượng thức ăn cần dùng cho một đơn vị khối
lượng sinh vật nuôi mỗi ngày. Thường khẩu phần ăn được tính là tỉ lệ phần trăm
của khối lượng cơ thể sinh vật nuôi (% khối lượng cơ thể). Cá nhỏ thường có khẩu
phần ăn cao hơn cá lớn.
b) Cho ăn định kỳ
Cho ăn định lỳ là phương pháp cho tôm/cá nuôi ăn một số lần nhất định
trong ngày. Thông thường cá nhỏ cho ăn nhiều so với cá lớn mỗi ngày. Tuy vậy, số
lần và thời gian cho ăn tùy thuộc rất nhiều vào loài nuôi và giai đoạn sinh trưởng.
Lượng thức ăn của mỗi lần cho ăn cũng không giống nhau, những loài có tập tính
ăn đêm hay ăn vào lúc trời mát thì thường cho ăn nhiều hơn vào buổi sáng hay
nhiệt độ giữa các tần nước gọi là sự phân tầng nhiệt độ. Trong ao nhỏ, cạn ở ở vùng
nhiệt đới thì sự phân tầng thường diễn ra hàng ngày. Vào ban ngày thì nước tầng
mặt ấm và ban đêm thì lớp nước mặt bị lạnh đi. Cá và giáp xác thì chịu đựng kém
với sự thay đổi nhiệt độ đột ngột do vậy không nên chuyển chúng đột ngột thả
chúng vào nước có nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn. Thông thường sự thay đội
nhiệt độ đột ngột khoảng 3 hay 4
o
C sẽ gây sốc hoặc gây chết sinh vật. Thủy sinh
vật có thể chịu đựng sự thay đổi từ từ của nhiệt độ (nhỏ hơn 0,2
o
C/phút).
Ở vùng nhiệt đới thì nhiệt độ ao nuôi được quản lý chủ yếu thông qua cột
nước trong ao. Tùy mùa vụ mà có thể điều chỉnh mức nước ao hợp lý để giữa nhiệt
độ thích hợp cho loài nuôi.
b) pH
pH được định nghĩa là trừ logarit thập phân (cơ số 10) của nồng độ ion H
+
(pH=-log [H
+
]) hay nói khác đi pH chỉ thị tính a-xít và bazơ của nước. Khi pH
bằng 7 được gọi là trung tính, nhỏ hơn 7 là tính a-xít và lớn hơn 7 là tính bazơ. pH
được chia thành 14 mức từ 0-14
Bảng 2.1: Ảnh hƣởng của pH trong ao cá và giáp xác
pH
Ảnh hưởng
4
Điểm chết a-xít
4-5
Không sinh sản
+
).
Ở một số vùng ven biển thì đất chứa 1-5% lưu huỳnh ở dạng pyrite và đất
này gọi là đất phèn tiềm tàng. Nếu xây dựng ao nuôi trên đất phèn tiềm tàng có thể
17
bị tình trạng pH thấp khi lớp phèn tiềm tàng được tiếp xúc không khí và sự oxy hóa
đất phèn có thể tạo thành a-xít sulfuric và gây nên pH vô cùng thấp
Quản lý pH trong ao nuôi chủ yếu là bón vôi và điều chỉnh hàm lượng phiêu
sinh thực vật trong ao cho hợp lý. Khi ao bị pH thấp thì nên trao đổi nước, bón vôi,
bón phân hay bón vôi cho bờ ao trước khi mưa nếu pH đất thấp. Trong trường hợp
pH cao thì có thể kiểm soát thông qua cải tạo ao tốt ở đầu vụ nuôi, không cho thức
ăn quá thừa và bón phân quá liều, thay nước. Những trường hợp pH tăng cao do
quang hợp thì phải giảm hàm lượng phiêu sinh qua thay nước giảm tảo, diệt cục bộ
tảo trong ao nuôi bằng hóa chất. Ngoài ra, có thể diệt tảo bằng bón vôi vào buổi tối
để vôi lấy CO
2
làm thiếu CO
2
cho tảo quang hợp vào sáng hôm sau và làm chết cục
bộ tảo (CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O = Ca
2
+
+ 2HCO
o
C. Sau khi nung thì cho nước vào khi đá vôi
còn nóng để làm cho vôi mịn ra. Vôi tôi được dùng để làm tăng pH nước hoặc pH
đất. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 11. Lượng vôi thường
bón là 50-100 kg/ha/lần. Vì vôi tôi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến pH nước nên
tránh bón vôi cho ao vào buổi chiều khi pH ao thường cao nhất.
Vôi sống, vôi nung hay vỏ sò nung (CaO): Loại vôi này cũng được sản xuất
bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao nhưng không cho nước vào. Dạng vôi hoạt
tính cao này có ảnh hưởng rất lớn đến pH nước nên không dùng để bón cho những
ao đang nuôi tôm mà chỉ nên sử dụng để điều chỉnh pH đất khi chuẩn bị ao. Dung
dịch 10% vôi trong nước cất
phải có pH khoảng 12.
c) Oxy hòa tan
Oxy hòa tan là yếu tố
chất lượng nước quan trọng
trong ao nuôi. Oxy là yếu tố
quan trọng cho quá trình hô
hấp của cá cũng nhưng cho
các quá trình phân hủy các vật
chất hữu cơ trong nước.
Hình 2.1: Biến động pH theo ngày đêm trong ao nuôi
thủy sản
18
Trong ao nuôi thủy sản
thì oxy hòa tan có từ hai
nguồn chính là khuếch tán từ
không khí và từ quá trình
quang hợp của tảo vào ban
2-5 mg/L
Tăng trưởng sinh vật nuôi sẽ chậm nếu thời gian kéo dài
5 mg/L – bão hòa
Tốt nhất cho tăng trưởng của sinh vật nuôi
Quá bão hòa
Có thể ảnh hưởng xấu đến sinh vật nuôi nếu sự quá bảo
hòa xảy ra trong cả ao. Thường thì không sao.
Nguồn: Boyd 1998
d) Độ cứng và độ kiềm
Độ kiềm là tổng hàm lượng bazơ trong nước tính bằng mg/L của CaCO
3
,
chủ yếu là bicarbonate và carbonate. Ao ở vùng đất cát thường có tổng độ kiềm
dưới 20 mg/L, trong khi ao ở vùng đất đá vôi có tổng độ kiềm trên 100 mg/L. Tuy
nhiên, ao có tổng độ kiềm trên 20 mg/L sẽ cho năng suất cá và động vật thủy sinh
khác cao, còn dưới 20 mg/L thì phải bón vôi. Nước ao bị nhiễm phèn có độ kiềm
rất thấp
Độ cứng là tổng hàm lượng của tất cả ion dương hóa trị 2 trong nước tính
bằng mg/L của CaCO
3
. Can-xi và ma-giê là các ion dương hóa trị 2 ưu thế gần như
Hình 2.6: Biến động hàm lƣợng oxy hoà tan trong ao
nuôi theo ngày đêm ở 2 mức tảo nhiều và tảo ít.
19
ở tất cả loại nước ao. Khoảng thích hợp của tổng độ cứng là tương đương với tổng
độ kiềm. Tỉ lệ độ kiềm/độ cứng tốt nhất là 1:1
Quản lý độ kiềm trong ao có thể thực hiện qua việc bón vôi định kỳ cho ao
mỗi đợt mưa lớn,… Một số trường hợp có thể dùng nước có độ mặn cao (nước ót)
cấp thêm cho ao khi độ mặn giảm nhưng phải kết hợp với bón vôi để cân bằng hệ
đệm và độ kiềm trong nước ao.
f) Đạm (NH
3
và NH
4
+
)
Trong ao nuôi thì đạm tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như ammonia (NH
3
)
và đạm amon (NH
4
+
). Đạm cung
cấp cho ao có thể từ không khí
dạng nitơ phân tử (N
2
) và một số có
thể được cố định trong chất hữu cơ
nhờ tảo lam và vi khuẩn. Nước
mưa, phân bón, thức ăn,… cũng là
nhưng nguồn cung cấp chất đạm
chính, đặc biệt là thức ăn đối với
các ao nuôi thâm canh.
Trong ao nuôi thủy sản thì
NH
3
có được từ các quá trình phân
3
) rất độc đối với tôm cá nhưng dạng ion (NH
4
+
)
không độc và rất cần thiết cho sự phát triển của tảo và các sinh vật làm thức ăn cho
tôm cá. Khi hàm lượng NH
3
trong nước cao sẽ làm cho sinh vật khó bài tiết NH
3
trong máu và các mô ra môi trường nước.
Trong ao nuôi thì còn có NO
2
-
(nitrite) và NO
3
-
(nitrate). NO
2
-
được chuyển
hóa từ NH
3
nhờ
vi khuẩn Nitrosomonas và
NO
3
độc đối với tôm/cá.
Hàm lượng NH
3
trong
ao nuôi có thể kiểm soát bằng
cách hạn chế thức ăn dư thừa
trong đáy ao, tránh làm đáy ao
thiếu oxy và xảy ra phân hủy
yếm khí, sục khí đáy ao để vừa
cấp oxy đồng thời giải phóng
khí độc ra khỏi ao và giữa pH
ao ở giới hạn 7,5-8,5. Hiện nay,
men vi sinh cũng được dùng để
kích thích sự phân hủy nhanh
các chất hữu cơ ở đáy ao nuôi
qua đó làm giảm sự xuất hiện
của cả NH
3
và H
2
S trong ao
nuôi thủy sản.
g) Lân (Phosphorus - PO
4
3-
)
Trong môi trường nước thì lân tồn tại dưới các dạng muối orthophosphate
hòa tan (H
2
Hình 2.8: Mối quan hệ giữa H
2
S, NH
3
và pH trong ao
nuôi thủy sản
21
h) Sulfur hydrogen (H
2
S)
H
2
S có trong môi trường nước ao chủ yếu là do quá trình phân hủy vật chất
chứa lưu huỳnh hay quá trình phản sulfat hóa trong điều kiện yếm khí. Quá trình
này thường diễn ra ở đáy ao do mới đó hàm lượng oxy hòa tan rất thấp.
H
2
S là chất khí cực độc đối với thủy sinh vật, tác dụng độc hại của H
2
S là
liên kết với Fe của Hemoglobin làm mất khả năng vận chuyển O
2
của Hemoglobin
làm cá chết ngạt. Tính độc của H
2
S phụ thuộc vào pH và nhiệt độ nước, tính độc
hoặc BOD
5
). Khi mật độ sinh vật trong nước cao thì quá trình hô hấp sẽ tiêu
tốn nhiều oxy, do đó BOD cũng là một yếu tố dùng để đánh giá mức độ giàu dinh
dưỡng hay nhiễm bẩn của thủy vực. Tránh làm ao nuôi bị dơ bẩn và kiểm soát hàm
lượng tảo và sinh vật khác trong ao là biện pháp hữu hiệu để quản lý BOD.
Bảng 2.2: Khoảng hàm lƣợng thích hợp của các chất vô cơ hòa tan trong nƣớc
nuôi thủy sản
Nguyên tố
Dạng trong nước
Hàm lượng mong muốn
O
O
2
(oxy phân tử)
5-15 mg/L
H
H
+
(-lg[H
+
] = pH)
7-9
N
N
2
(nitơ phân tử)
Bão hòa hoặc thấp hơn
NH
S
Không phát hiện
C
CO
2
1-10 mg/L
Ca
Ca
2+
5-100 mg/L (nước ngọt) < 500 mg/L (nước lợ)
Mg
Mg
2+
5-100 mg/L (nước ngọt) < 1.500 mg/L (nước lợ)
Na
Na
+
0-100 mg/L (nước ngọt)
1-100 mg/L (nước ngọt) < 20.000 mg/L (nước lợ)
P
HPO
4
2-
, H
2
PO
4
-
0,005-0,2 mg/L
Si
H
2
SiO
3
, HSiO
3
-
2-20 mg/L
Fe
Fe
2+
Cu
Cu
2+
0,005 ng/L
Tổng Cu
0,005-0,01 mg/L
B
H
3
BO
3
, H
2
BO
3
-
0,05-1 mg/L
Mo
MoO
3
Vết
Nồng độ muối
Tổng tất cả các ion
50-2.000 mg/L (nước ngọt)
2
Hô hấp là một quá trình cơ bản thứ 2 trong nuôi trồng thủy sản. Quá trình hô
hấp thì vật chất hữu cơ kết hợp với O
2
(oxy hóa) giải phóng ra nước, CO
2
và năng
lượng. Đứng trên quan điểm sinh thái, hô hấp thì ngược với quang hợp.
C
6
H
12
O
6
+ 6O
2
6CO
2
+ 6H
2
O + Năng lượng nhiệt
Khi quá trình quang hợp nhanh hơn hô hấp, oxy sẽ tăng và CO
2
sẽ giảm.
Đây là tình trạng thường xảy ra ban ngày. Vào ban đêm, quá trình quang hợp
ngừng nhưng quá trình hô hấp thì diễn ra cả ngày và đêm. Vì vậy, vào ban đêm oxy
giảm và CO
2
tăng. Thực vật phù du có vai trò quan trọng là thay đổi hàm lượng O
Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. Số (2009). Trang …
4. FAO - Fisheries Department (2001) Aquaculture development. Good aquaculture feed
manufacturing practice. FAO Technical Guidelines for Responsible Fisheries. (5
suppl. 1):47p. Rome, FAO.
5. FAO (2008). The glossary of aquaculture. FAO, Rome, Italy. 426 p
6. Lawrence, E. (Editor). Henderson’s dictionary of biological terms. 11th edition.
Longman.
7. Lương Thị Diễn Trang (2009). Ảnh hưởng của malachite green lên sinh lý, sinh hoá
và tồn lưu trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus). Luận văn tốt nghiệp Cao học
ngành nuôi trồng Thủy sản. Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
8. Popma, T. (2000). Fish 540: Aquaculture Production I, Class text. Fisheries and
Allied Aquacultures, Auburn University, AL, USA. 36849.