1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
GIÁO TRÌNH
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
PGs. Ts. Nguyễn Thanh Phƣơng
PGs. Ts. Trần Ngọc Hải
PGs. Ts. Dƣơng Nhựt Long
thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật
vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
Một số tác giả khái niệm nuôi thủy sản đơn giản hơn đó là nuôi hay canh tác
động và thực vật dưới nước do xuất xứ từ thật ngữ aqua (nước) + culture (nuôi).
2.1.1 Phân loại các loài thủy sản
Sự phân lại các loài thủy sản được dựa theo đặc điểm cấu tạo loài, tính ăn và
môi trường sống và khí hậu.
a) Nhóm cá (fish)
Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt
hay cá nước lợ. Ví dụ: cá tra, cá bống tượng, cá chình,…
b) Nhóm giáp xác (crustaceans)
Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối
tượng nuôi quan trọng. Ví dụ: Tôm càng xanh, tôm sú, tôm thẻ, tôm đất, cua biển,.
c) Nhóm động vật thân mềm (molluscs)
Gồm các loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở
biển (nghêu, sò huyết, hầu, ốc hương,....) và một số ít sống ở nước ngọt (trai ngọc).
d) Nhóm rong (Seaweeds)
Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài có kích thước nhỏ,
nhưng cũng có loài có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina, Chaetoceros,
Sargassium (lấy Alginate), Gracillaria (lấy agar agar),….
e) Nhóm bò sát (Reptilies) và lưỡng thê (Amphibians)
Bò sát là các động vật bốn chân có màng ối (ví dụ: cá sấu). Lưỡng thê là
những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn,…) được nuôi để
lấy thịt, lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ như đồi mồi (lấy
vây), ếch (lấy da và thịt), cá sấu (lấu da),...
2.1.2 Phân lọai theo tính ăn
a) Ăn thực vật (herbivorous)
Là nhóm có hàm khỏe, nhưng răng kém phát triển kể cả răng hầu; ruột khá
dài, thường chiều dài ruột (Li)/ chiều dài thân (L) >1, dạ dày không rõ ràng,… Một
số có lược mang phát triển để lọc phiêu sinh thực vật. Giá trị kinh tế thấp hơn
đông (như cá hồi, cá tầm,…). Nhóm loài nhiệt đới là những loài sống chủ yếu ở
vùng nhiệt đới và có thể chịu đựng được nhiệt độ cao (như cá rô phi, cá chép, cá
tra, tôm sú,…)
a) Nuôi thủy sản siêu thâm canh
Nuôi thủy sản siêu thâm canh là nuôi có năng suất cao, trung bình hơn 200
tấn/ha/năm; sử dụng thức ăn viên công nghiệp có thành phần dinh dưỡng đáp ứng
như cầu của đối tượng nuôi; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận
tạo); không dùng phân bón và loại bỏ hết địch hại; kiểm soát hoàn toàn các điều
kiện nuôi (nước được bơm hay tự chảy, thay nước hoàn toàn chủ động và kiểm soát
chất lượng nước, có sục khí,…). Nuôi chủ yếu trong ao nước chảy (flowing water
pond), trong lồng (cage), bể (tank) hay trong hệ thống máng nước chảy (raceways)
b) Nuôi thủy sản thâm canh
Nuôi thâm canh là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tấn/ha/năm; kiểm
soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả
sản xuất đều cao; và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều kiện
nuôi (khí hậu và chất lượng nước); và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo (man-
made culture system).
c) Nuôi thủy sản bán thâm canh
Nuôi thủy sản bán thâm canh là hình thức nuôi có năng suất từ 2-20
tấn/ha/năm; lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón phân hay cho
ăn bổ sung; giống được sản xuất từ các trại (hay là giống nhận tạo); bón phân định
4
kỳ, trao đổi nước hay sục khí định kỳ; cắp nước bằng máy bơm hay tự chảy. Nuôi
trong ao, quầng hay bè đơn giản.
d) Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến
Nuôi thủy sản quảng canh cải tiến là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5-5
tấn/ha/năm; có thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp; giống được sản
xuất từ các trại (giống nhận tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên; bón phân vô hay hữu
cơ thường xuyên; quan sát một số yếu tố chất lượng nước đơn giản. Nuôi ao, lồng
dưới 100 đến hơn 1.000 m
3
/bè.
c) Nuôi lồng
Nuôi lồng là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các lồng làm bằng lưới
có kích cở rất khác nhau từ dưới 10 m
3
/lồng đến hơn 1.000 m
3
/lồng (trường hợp là
nuôi lồng biển). Tuy nhiên, nuôi lồng cũng có thể chỉ hình thức nuôi trong có lồng
làm bằng gỗ, tre/nứa,… kích thước thường nhỏ.
5
d) Nuôi đăng quầng
Là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các quầng lưới hay đăng tre có
kích thước rất khác nhau tùy theo loài nuôi. Quầng có thể có một mặt giáp với bờ,
nhưng đáy lồng là nền đáy của sông, bãi triều hay đầm phá,...
e) Nuôi bãi triều
Nuôi bãi triều là hình thức nuôi quảng canh sò huyết, vẹm, hầu, điệp,
nghêu,… trên nền bãi triều ven biển. Sau một thời gian nuôi thì chúng được thu
họach bằng phương pháp cào lớp bùn đáy. Phương thức nuôi này cũng được dùng
trong trồng rong biển.
f) Nuôi giàn/dây treo
Nuôi giàng thường dùng để chỉ hình thức nuôi các loài nhuyển thể (2 mảnh
vỏ). Giàng có thể là dạng cố định bằng cọc cấm xuống bãi triều hoặc dạng phao nổi
để treo các chuỗi hay túi lưới đựng các loài nuôi bên trong như nuôi hầu, vẹm
xanh,... Dạng phao có thể nuôi xa bờ còn dạng cố định thường gần bờ.
2.1.6 Các khái niệm khác
a) Qui tắc thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Practices – GAP)
Nuôi lồng ngoài biển (lồng nuôi cá giò)
Nuôi bè lƣới Nuôi hầu treo giàng Nuôi hầu trong túi lƣới
7
Nuôi tôm càng xanh đăng quầng Nuôi quầng lƣới trong đầm phá
Nuôi cá trong bể nƣớc chảy
Hình 2.1: Các hình thức nuôi thủy sản khác nhau (Nguồn: Nguyễn Thanh Phương và
Trương Quốc Phú)
2.2 Các khái niệm về sinh trƣởng và sinh khối động vật thủy sản
2.2.1 Nguyên lý tăng trưởng của động vật thủy sản
Tăng trưởng của động vật thủy
sản hầu hết được chia thành hai giai
đoạn chính; giai đoạn tăng nhanh
(exponential) và giai đoạn tăng chậm
(asymptotic). Giữa giai đoạn tăng nhanh
và chậm có giai đoạn tăng theo theo
dạng đường thẳng (hay tăng tuyến tính).
Tuy nhiên, đặc điểm tăng trưởng
có thể khác nhau theo loài, giáp xác là
nhóm tăng trưởng nhờ vào sự lột xác,
mỗi lần lột xác là sự gian tăng nhanh về
mà tại thời điểm đó sinh trưởng của các sinh vật dừng lại.
2.2.5 Sinh khối tới hạn (Critical standing crop)
Sinh khối tới hạn là tổng sinh
khối của sinh vật hay nhóm sinh vật
trên đơn vị diện tích mà tại đó sinh
trưởng của sinh vật bắt đầu chậm lại.
2.2.6 Năng suất (yield/productivity)
Năng suất được định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau, người sản xuất
hay người làm kinh tế định nghĩa năng
suất là tổng khối lượng thu hoạch trên
đơn vị diện tích hoặc thể tích. Tuy
nhiên, nhà khoa học thì năng suất là
khối lượng thu họach tăng trên trên đơn
vị diện tích (thể tích) (không tính khối
lượng thả ban đầu).
2.2.7 Sản lượng (Production)
Tổng sinh khối sinh vật sản xuất được trên một đơn vị diện tích hoặc thể
tích (bao gồm phần thu hoạch và chết) trong một thời gian nhất định. Ví dụ: 3.000
kg/ha trong 7 tháng. Tuy nhiên, sản lượng cũng có thể hiểu rộng ra là tổng khối
lượng sinh vật thu hoạch được từ một vùng (không cần biết rõ diện tích) trong thời
gian nhất định, thường là 1 năm. Ví dụ sản lượng cá tra nuôi của ĐBSCL năm 2008
là 1,2 triệu tấn (Popma, 2000).
2.3 Định nghĩa và khái niệm về sinh lý động vật thủy sản
Sinh lý học động vật thủy sản là một khoa học nghiên cứu về họat động
sống của cơ thể sinh vật và qui luật tác động qua lại của cơ thể sống với môi trường
xung quanh (môi trường nước).
Hình 2.3: Sức tải và sinh khối tới hạn của
sinh vật nuôi
/kg/giờ (Lương Thị Diễn Trang, 2009).
2.3.2 Trao đổi chất
Trao đổi chất của động vật thủy sản là một quá trình xảy ra trong cơ thể, nó
bao gồm 2 quá trình là đồng hóa và dị hóa. Đồng hóa là sự biến đổi vật chất dinh
dưỡng để tạo nguyên liệu cho cấu tạo và sinh ra năng lượng cho cơ thể. Dị hóa là
quá trình ngược lại của đồng hóa, là sự biến đổi vật chất cấu tạo cơ thể thành chất
đơn giản để sinh ra năng lượng cho sinh vật sử dụng và thải chất thải ra ngoài.
2.3.3 Tiêu hóa và hấp thu
Tiêu hóa của động vật thủy sản là quá trình giúp động vật có thể hấp thu các
chất dinh dưỡng càng hiệu quả
càng tốt và qua đó cung cấp năng
lượng và chất dinh dưỡng cho
sinh vật duy trì cơ thể, tăng
trưởng và sinh sản. Nguyên lý
của quá trình tiêu hóa là làm cho
thức ăn được cắt nhỏ ra và gia
tăng bề mặt tiếp; và tạo thành các
cấu phần phân tử. Quá trình tiêu
hóa xảy ra nhờ các enzyme phân
giải khác nhau phân giải chất
đạm, chất bột đường và chất béo
thành các hạt có kích cỡ nhỏ. Các
chất dinh dưỡng sau đó đi qua
thành ruột vào máu và được hấp
thu ở dạng hòa tan bởi tế bào và
Hình 2.4: Điều hòa áp suất thẩm thấu của tôm sú
(Penaeus monodon) ở các độ mặn khác nhau (Đoàn
Xuân Diệp và ctv. 2009)