LỜI MỞ ĐẦU
Trong công tác quản lý kinh tế của các doanh nghiệp thì chi phí cho sản
xuất và tính gía thành sản phẩm là những công tác quan trọng luôn được các doanh
nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh
tranh gay gắt với nhau, không chỉ các doanh nghiệp tăng cường đổi mới công
nghệ, nâng cao năng suất lao động mà còn phải quan tâm tới công tác quản lý chi
phí sản xuất. Quản lý kinh tế đảm bảo thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh ngày
càng phát triển và điều quan trọng là phải tự bù đắp được toàn bộ chi phí sản xuất
và sản xuất phải có lãi. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để quản lý
tốt chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm.
Để làm được điều đó, các nhà quản lý phải thường xuyên nắm bắt một
lượng thông tin kinh tế cần thiết. Các thông tin về thị trường và các thông tin trong
nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy, một trong những công cụ quản lý kinh tế quan trọng
nhất của doanh nghiệp là công tác kế toán. Công tác kế toán có nhiệm vụ cung cấp
thông tin một cách kịp thời chính xác đầy đủ số liệu cho các nhà quản lý. Từ đó
các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định phù hợp với sự phát triển sản xuất kinh
doanh và yêu cầu quản trị trong doanh nghiệp.
Công ty xi măng Hải Phòng luôn tìm mọi cách để đầu tư chiều sâu, lấy chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm làm phương châm hành động của mình.
Sản phẩm của công ty đã được khách hàng biết đến và tín nhiệm trong thị trường
cả nước. Đóng góp một phần trong sự thành công này của công ty là công tác kế
toán nói chung và kế toán chi phí và giá thành nói riêng. Trong nhiều năm qua
công ty đã không ngừng cố gắng trong việc cải tiến phương pháp kế toán phù hợp
với cơ chế quản lý hiện nay, phù hợp với việc đổi mới chế độ kế toán nói chung và
kế toán chi phí giá thành nói riêng trở thành công cụ đắc lực hơn thì công tác này
còn có mặt củng cố và hoàn thiện.
Trong quá trình tìm hiểu về mặt lý luận và thực tiễn tại công ty xi măng Hải
Phòng, nhận thức được việc làm quan trọng của việc hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm. Em đã đi sâu tìm hiểuvề lĩnh vực này và em đã chọn tên
Trang 1
Giá trị sản phẩm dịch vụ bao gồm 3 bộ phận là: c,v,m
C: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản
phẩm như: Khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, năng lượng,
nhiên liệu. Bộ phận này còn được gọi là hao phí lao động quá khứ (vật hoá)
V: Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia
vào quá trình sản xuất làm ra sản phẩm, dịch vụ, bộ phận này được gọi là hao phí
lao động sống.
M: Là giá trị do lao động sống tạo ra trong quá trình tạo ra giá trị sản phẩm
dịch vụ.
Ở góc độ doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm doanh nghiệp phải bỏ ra hai bộ
phận chi phí C và V. Như vậy chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra để
tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định (tháng , quý, năm)
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên và gắn liền với
quá trình sản xuất sản phẩm, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh
doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán và tập hợp theo từng thời kỳ: hàng
tháng, quí, năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh
Trang 3
nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tính vào phí sản xuất trong kỳ. Thực chất chi
phí sản xuất ở các doanh nghiệp là quá trình chuyển dịch vốn của doanh nghiệp
vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp vào quá trình sản
xuất kinh doanh.
1.2. Giá thành sản phẩm:
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự chi phí. Để đánh
giá chất lượng kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phí sản xuất chi ra phải
được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ 2 cũng là mặt cơ bản của quá trình
sản xuất kinh doanh là kết quả sản xuất thu được.Quan hệ so sánh đó đã hình thành
nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch
thành sản
phẩm
=
chi phí sản
xuất dở dang
đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
chi phí sản
xuất dở dang
cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành
sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
2. Sự cần thiết của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm đối với công tác qủan lý của doanh nghiệp
Công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chủ yếu cung
cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý cho nên nó đóng vai trò quan trọng
trong công tác quản trị doanh nghiệp. Ngày nay, các doanh nghiệp là chủ thể độc
lập tự hạch toán kinh doanh, được quyền chủ động lựa chọn phương án sản xuất
phù hợp, chịu trách nhiệm bù đắp chi phí bỏ ra, tạo lợi nhuận cao cho doanh
nghiệp. Để làm được điều này, các doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán chi phí
sản xuất đầy đủ hợp lý tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Thường xuyên
kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của từng loại chi phí phát sinh sẽ góp phần quản lý
tài sản vật tư tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn và có biện pháp phấn đấu hạ giá
quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được
kết quả tiết kiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp cần phải
tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Việc phân loại chi phí sản xuất có tác dụng
kiểm tra phân tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm,
nhằm nhận biết và động viên mọi khả năng tiềm tàng hạ giá thành sản phẩm, nâng
cao hiệu quả của doanh nghiệp.
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, chi phí của doanh nghiệp chia làm
nhiều loại khác nhau.
Trang 6
1.1. Phân loại theo yếu tố chi phí:
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí
được phân theo yếu tố.Cách phân loại này giúp cho việc xác định và phát triển
định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi
phí.Theo qui định hiện hành ở Việt Nam. Toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố
sau:
- Yếu tố nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ.... Sử dụng vào sản xuất kinh doanh
(loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi, cùng với nhiên
liệu, động lực)
- Yếu tố nhiên liệu động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh
trong kỳ (trừ số lượng dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi.)
- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền
lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức.
-Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải
trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
chẳng hạn về chi phí khấu haoTSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh
doanh... Các phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu sản
lượng sản phẩm thay đổi.
2. Phân loại giá thành:
Để đáp ứng các yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xác định giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ
nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế, ngoài các
khái niệm giá thành xã hội và giá thành cá biệt, còn có các giá thành công xưởng,
giá thành toàn bộ.
Trang 8
2.1. Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành.
- Giá thành kế hoạch: Được xác định khi bước vào kinh doanh trên cơ sở
giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá
thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và
không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên
cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm trong kỳ kế hoạch
(thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự
thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá
thành.
- Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất
sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác
định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó
điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
2.2. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành:
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh
đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng... và giai đoạn tính giá thành sản phẩm,
chi tiết sản phẩm theo đơn vị tính giá thành qui định. Việc phân chia này được xuất
phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí , yêu cầu hạch toán kinh
doanh nội bộ và theo đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ của
từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành
qui định. Như vậy, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác
định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu
chi phí. Kế toán căn cứ vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp để xác
định đối tượng tập hợp chi phí dựa trên căn cứ sau:
- Đặc điểm tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm phát sinh, mục đích công dụng của chi phí.
- Yêu cầu thông tin của công tác quản lý, trình độ quản lý của doanh
nghiệp.
- Qui trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
1.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:
Trên cơ sở đối tượng hạch toán chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp hạch
toán chi phí thích ứng. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương
pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi
phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Về cơ bản,
phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương pháp hạch toán chi
phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theogiai đoạn công nghệ, theo phân xưởng,
Trang 10
theo nhóm sản phẩm,v.v...Nội dung chủ yếu của phương pháp hạch toán chi phí
sản xuất kế toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán theo từng đối tượng đã xác
định, phản ánh các chi phí có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí
theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chỉ thích ứng với một loại đối
tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của các phương pháp này là biểu hiện đối
tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm:
2.1. Đối tượng tính giá thành:
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp thuộc loại hình sản
xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất khối lượng lớn, chu kì sản xuất ngắn
như: các nhà máy điện nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ...).Giá
thành sản phẩm theo phương pháp này được tính theo công thức sau:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
=
Giá tri sản
phẩm dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ2.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí:
Áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất được thực hiện ở
nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản
xuất. Giá thành sản xuất được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ
phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản
xuất tạo nên thành phẩm:
sản phẩm
từng loại
Trong đó: - Qo: tổng số sản phẩm gốc đã qui đổi
- Qi: Số lượng sản phẩm i (i = 1, n).
- Hi: Hệ số qui đổi sản phẩmi (i =1, n).
Tổng giá thành
sản xuất các
loại sản phẩm
=
Giá trị sản
phẩm dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
2.2.4. Phương pháp tỷ lệ:
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách phẩm
chất khác như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo v.v... để giảm bớt khối
lượng hạch toán, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm
cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí thực tế với chi phí sản xuất kế
hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành từng
loại
Trang 13
∑
=
=
Giá trị SP
chính dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất
phát sinh
trong kỳ
-
giá trị SP
phụ thu hồi
ước tính
-
giá trị
SP chính
dở dang
cuối kỳ
2.2.6. Phương pháp tính liên hợp:
Áp dụng trong các doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình
công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp
nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng
giầy...Trên thực tế kế toán có thể kết hợp tổng cộng chi phí với phương pháp tỷ lệ,
hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ...
3. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành ở một số loại
hình doanh nghiệp:
3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn:
Thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc một ít mặt hàng với
khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không
Trang 14
đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, sản xuất điện nước, chế biến lương
Trang 15
thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so
với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách:
Giá thành
thực tế sản
phẩm
=
giá thành
định mức sản
phẩm
±
chênh lệch do
thay đổi định
mức
±
chênh lệch
so với định
mức
Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở định mức tiên
tiến hiện hành ngày đầu kỳ (thường là đầu tháng ). Tuỳ theo tính chất quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp
tính giá thành định mức khác nhau ( theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết, bộ
phận sản phẩm rồi tổng hợp lại ...). Việc thay đổi định mức được thực hiện vào
ngày đầu tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng như kiểm tra việc
thi hành định mức. Trường hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì
đầu tháng sau phải điều chỉnh giá thành định mức. Những khoản chi phí phát sinh
ngoài định mức và dự toán quy định được gọi là chênh lệch so với định mức hay
thoát ly định mức.
3.4. Doanh nghiệp có qui trình công nghệ phức tạp theo kiểu chế biến liên
tục:
thành phẩm
bước 1
=
Chi phí nguyên
vật liệu chính +
c h i phí
chế biến
bước 1
-
giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
bước 1.
Giá thành bán
thành phẩm
bước 2
=
Giá thành bán
thành phẩm
bước 1
+
Chi phí
chế biến
bước 2
-
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
bước 2
Tổng giá
thành thành
phẩm
TỔNG
GIÁ
THÀNH
THÀNH
PHẨM
Chi phí chế biến bước ... tính cho thành phẩm
IV. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM:
1. Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên:
1.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
1.1.1. Khái niệm và cách thức tập hợp, phân bổ :
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu,nhiên
liệu,vật liệu phụ ... xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những
vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí
riêng biệt ( phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ...) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Trường hợp vật liệu xuất dùng
có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức riêng biệt thì
phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng
có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức
tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, số lượng sản phẩm .... công thức phân bổ
như sau:
Chi phí vật liệu phân bổ
cho từng đối tượng
=
Tổng chi phí vật liệu
cần phân bổ
x
tỷ lệ (hay hệ số)
phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng
phí. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất có liên quan đến nhiều đối
tượng sản xuất mà không hạch toán trực tiếp tiền lương phụ, các khoản phụ hoặc
tiền lương chính trả theo mà người lao động thực hiện nhiều công tác khác nhau
trong ngày... thì ta có thể phân bổ chi phí nhân công trực tiếp theo các tiêu thức
phân bổ thích hợp như: theo định mức hoặc theo giờ công lao động, khối lượng
sản phẩm sản xuất tuỳ theo điều kiện cụ thể.
Trang 20
Vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản
phẩm tiến hành lao vụ dịch vụ
Vật liệu dùng không hết
nhập kho, phế liệu thu hồi
Cuối kỳ kết chuyển
chi phí NVLTT
TK154
TK152
TK621TK 152.TK151.331
1.2.2. Tài khoản sử dụng
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622- chi phí
nhân công trực tiếp. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp
chi phí như TK 621, kết cấu TK621 như sau:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp phát sinh.
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
1.2.3.Phương pháp hạch toán:
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 4: HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC
TIẾP
TK 334 TK 622 TK 154
TK 338
1.3. Chi phí sản xuất chung:
x
Tổng chi phí
sản xuất
chung cần
phân bổ
1.3.2. Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 -
Chi phí sản xuất chung, mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất dịch
vụ. Kết cấu của TK 627 như sau:
Bên nợ: Chi phí chung trực tiếp phát sinh trong kỳ.
Bên có: - Các khoản giảm chi phí sản xuất chung.
- Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản
phẩm hay lao vụ dịch vụ.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ.
Trang 22
1.3.3. Phương pháp hạch toán:
Hạch toán chi phí sản xuất chung được thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 5: HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
TK 334,338 TK 627
TK 152, 153
TK1421, 335 TK 154
TK 331, 111, 112
1.4.Hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất:
1.4.1.Hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng:
Sản phẩm là sản phẩm không thoả mãn những tiêu chuẩn chất lượng và
đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp
ráp ... Tuỳ theo mức độ hư hỏng mà sản phẩm được chia làm 2 loại:
- Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được: Là những sản phẩm hỏng mà về
mặt kỹ thuật có thể sửa chữa được và việc sửa chữa đó có lợi về mặt kinh tế.
Thiệt hại về sản phẩm trong định mức bao gồm giá trị sản phẩm hỏng
không sửa chữa được và phần chi phí sửa chữa sản phẩm tái chế trừ đi giá trị phế
liệu thu hồi (nếu có). Toàn bộ phần thiệt hại này tính vào chi phí sản xuất sản
phẩm. Đối với giá trị thiệt hại của những sản phẩm ngoài định mức, kế toán phải
theo dõi riêng. Đồng thời xem xét nguyên nhân gây ra sản phẩm hỏng để có biện
pháp sử lý. Toàn bộ giá trị thiệt hại có thể theo dõi riêng trên một trong các tài
khoản như TK 1381, 154, 627, 1421 (chi tiết sản phẩm hỏng ngoài định mức),
sau khi trừ đi số phế liệu thu hồi và bồi thường (nếu có ), thiệt hại thực về sản
phẩm sẽ tính vào chi phí bất thường.
Trang 24
SƠ ĐỒ 5: HẠCH TOÁN THIỆT HẠI SẢN PHẨM HỎNG NGOÀI ĐỊNH
MỨC.
1.4.2.Thiệt hại về ngừng sản xuất
Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc
khách quan( thiên tai, địch hoạ , thiếu nguyên vật liệu...), các doanh nghiệp vẫn
phải bỏ ra một số khoản chi phí để duy trì hoạt động như tiền công lao động, khấu
hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng...Những khoản chi phí trong khoảng thời gian này
được coi là thiệt hại về ngừng sản xuất. Với những khoản chi phí về ngừng sản
xuất theo kế hoạch dự kiến, kế toán đã theo dõi ở TK 335 - chi phí phải
trả.Trường hợp ngừng sản xuất bất thường, các chi phí bỏ ra trong thời gian này
do không được chấp nhận nên phải theo dõi riêng trên một trong các tài khoản
tương tự như hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng ngoài định mức ( tài khoản
154,627,1421,1381...chi tiết thiệt hại ngừng sản xuất ). Cuối kỳ, saukhi trừ phần
thu hồi ( nếu có, do bồi thường ), giá trị thiệt hại thực tế sẽ trừ vào thu nhập như
khoản chi phí thời kỳ. Cách hạch toán có thể được phản ánh qua sơ đồ sau:
Trang 25
TK 152, 153, 334, 338,
241...
TK 1381.SPHNĐM
TK 821, 415