www.document.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Hoà vào xu thế mở cửa, hội nhập của nền kinh tế quốc tế của thế giới trong
thế kỷ 21, các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng cố gắng nâng cao trình độ
quản lý, hiện đại hoá dây truyền sản xuất, cải tiến mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm
để nâng cao tính cạnh tranh và tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường.
Hạch toán kế toán là một công cụ quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế
tài chính, giữ vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh
doanh. Là một khâu của hạch toán kế toán, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp giữ vai trò hết sức quan trọng. Chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ
quản lý, sử dụng tài sản, vật tư, lao động, cũng như trình độ tổ chức sản xuất, quy
trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, là thước đo kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh. Việc kế toán chi phí sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở
chỗ tính đúng, tính đủ mà còn phải tính đến việc cung cấp thông tin cho công tác
quản trị doanh nghiệp. Mặt khác, việc quản lý chi phí và giá thành một cách hợp lý
còn có tác dụng tiết kiệm các nguồn lực cho doanh nghiệp, giúp hạ giá thành sản
phẩm tạo điều kiện để cho doanh nghiệp tích luỹ, góp phần cải thiện đời sống công
nhân viên. Chính vì vậy, để phát huy tốt chức năng của mình, việc tổ chức công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải được cải tiến và hoàn
thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu và vai trò trên, qua thời gian thực tập tại công ty Cơ
khí- Điện Thuỷ Lợi em đã lựa chọn đề tài:
“Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi ” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp của em.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm các nội dung sau:
Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm.
Trang 1
thời chính xác cho bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp để có những biện pháp, chiến
lược, sách lược phù hợp nhằm tiết kiệm tối đa chi phí góp phần hạ giá thành sản
phẩm. Đồng thời làm tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm sẽ giúp doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo tính chủ
động trong sản xuất kinh doanh.
- Đối với nhà nước: Làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà nước có cái nhìn tổng
thể toàn diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, từ đó đưa ra các đường lối chính
sách phù hợp để phát triển các doanh nghiệp thực sự làm ăn có hiệu quả và hạn chế
quy mô các doanh nghiệp sản xuất thua lỗ triền miên không có khả năng khắc
phục…nhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đất nước. Mặt
khác, công tác này còn ảnh hưởng trực tiếp đối với các khoản thuế mà nhà nước
phải chú trọng và quan tâm đến công tác này trong các doanh nghiệp.
Trang 3
www.document.vn
- Đối với các bên liên quan: Như ngân hàng, đối tác thì việc tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp cũng rất quan trọng.
Một doanh nghiệp làm ăn có lãi chắc chắn sẽ chiếm được giao thầu. Công tác này có
ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng cũng như của đối tác.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong doanh nghhiệp là vô cùng quan trọng nó ảnh hưởng trực
tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, quyền lợi của các bên có liên
quan.
1.1.2/ Khái niệm, kết cấu và phân loại chi phí sản xuất
1.1.2.1/ Khái niệm chi phí sản xuất
Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất, sản xuất
chính là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động. Quá trình sản xuất cũng chính là quá trình dịch chuyển của ba yếu tố
nói trên để cấu thành nên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, để tiến hành sản
xuất hàng hoá người ta phải bỏ ra những chi phí về lao động sống và lao động vật
xưởng như tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho nhân viên phân xưởng.
• Chi phí bán hàng: Gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ như tiền lương, các khoản phụ cấp có tính
chất lương trả cho nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận chuyển, bảo
quản…, khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu bao bì, dụng cụ, chi phí
bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo…
• Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm có các khoản chi cho bộ máy quản lý
và điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của
doanh nghiệp như chi phí về lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ
cho bộ máy quản lý- điều hành doanh nghiệp, các chi phí phát sinh ở phạm
vi toàn doanh nghiệp như chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, lãi vay vốn
kinh doanh, vốn đầu tư tài sản cố định, dự phòng…
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp từ ba chi phí bộ phận là: Chi
phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và được khái quát theo
công thức sau:
CPSXKD = CPSXSP + CPBH + CPQLDN
Trong đó: CPSXKD : Là chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 5
www.document.vn
CPSXSP : Là chi phí sản xuất sản phẩm
CPQLDN : Là chi phí quản lý doanh nghiệp
Do hoạt động chính của doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm hàng hoá nên chi
phí sản xuất sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng chi phí sản xuất
kinh doanh là không giống nhau giữa các doanh nghiệp và ngay cả trong bản thân
doanh nghiệp. Sở dĩ có sự khác nhau này là do đặc điểm sản xuất kinh doanh của
từng doanh nghiệp và của cả ngay doanh nghiệp đó trong các giai đoạn sản xuất
khác nhau thì kết cấu về chi phí cũng thay đổi. Tỷ trọng chi phí này còn phụ thuộc
vào trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp, điều kiện tự nhiên, loại hình sản xuất, trình
độ tổ chức quản lý của mỗi doanh nghiệp.
có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân viên chức trong kỳ.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: Đây là
khoản chi phí được trích lập theo tỷ lệ % tính theo lương và quy định hiện hành thì
chiếm 19% trên tổng lương.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao trong
kỳ của các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi về điện, nước, điện thoại, tiền
trả hoa hồng đại lý, uỷ thác và môi giới xuất- nhập khẩu, quảng cáo và các dịch vụ
mua ngoài khác.
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền chi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các khoản chi phí đã kể trên.
Cách phân loại này rất cần thiết cho công tác kế toán, nó có ưu điểm là cho
biết được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ
để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: “Chi phí sản xuất kinh
doanh theo yếu tố” phục vụ cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp và phân
tích tình hình thực hiện dự toán chi phí trong doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng
Cơ sở của phương pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa điểm
phát sinh cũng như mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Theo quy định, giá trị
toàn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu…sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất, chế
tạo sản phẩm hay thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ. Không tính vào khoản
Trang 7
www.document.vn
mục này những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích phục vụ nhu cầu sản xuất
chung hay cho những hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải
trả và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trước tiền lương nghỉ phép
trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định. Không tính vào
sản phẩm, công việc, lao vụ
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lượng hoạt
động (tính theo sản lượng hàng hoá hoặc doanh thu), người ta chia chi phí làm ba
loại:
- Chi phí khả biến hoặc biến phí: Là các khoản chi phí thay đổi tỷ lệ thuận
với khối lượng sản xuất ra. Sự thay đổi này chỉ đúng khi ta xét về tổng thể chi phí
trên khối lượng tổng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhưng nếu tính cho một đơn vị
sản phẩm thì lại không đổi. Những chi phí thuộc về chi phí khả biến gồm có: Chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhiên liệu, động lực, tiền lương công nhân trực tiếp
sản xuất, hoa hồng đại lý và các khoản chi phí khác.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí): Là các khoản chi phí không đổi
khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi trong một phạm vi nhất định nào đó.
Ngược lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi giới hạn khối lượng sản
phẩm sản xuất ra) là không đổi nhưng chi phí bất biến tính cho một đơn vị sản phẩm
sẽ giảm đi khi khối lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên và ngược lại. Những chi phí
thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng
máy móc thiết bị, tiền lương bộ phận quản lý doanh nghiệp, tiền thuê nhà xưởng, đất
đai máy móc, chi phí bảo hiểm…
- Chi phí hỗn hợp: Là các khoản chi phí vừa thể hiện đặc tính định phí vừa
thể hiện đặc tính của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí về
tiền điện, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định.
Việc phân loại chi phí theo phương pháp này có ý nghĩa lớn đối với công tác
quản lý doanh nghiệp. Qua việc xem xét mối quan hệ giữa khối lượng sản
xuất với chi phí bỏ ra giúp các nhà quản lý tìm ra những biện pháp quản lý thích hợp
với từng loại chi phí để tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm. Đồng thời việc phân
loại này có tác dụng xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ với sản lượng
và lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và phục vụ các quyết định quan trọng khác
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trang 9
www.document.vn
hoàn thành trong kỳ (tháng, quý, năm). Những khoản chi phí nào phát sinh (bao
Trang 10
www.document.vn
gồm cả kỳ trước chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi phí trích trước có liên
quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm.
Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm là tập hợp các chi phí sản xuất
nhưng được kết tinh trong sản phẩm đã hoàn thành. Do đó khi muốn xác định giá
thành của sản phẩm thì ta phải xác định và tập hợp chi phí được một cách chính xác
các khoản chi phí sản xuất đã phát sinh từ đó tiến hành quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối
với công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có
thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất, chứng minh được khả năng phát
triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý chưa.
Tính tổng hợp còn được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá
được toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đầu tư
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Do tính chất quan trọng như vậy nên chỉ tiêu giá thành luôn được xem là một
trong những chỉ tiêu cần được xác định một cách chính xác, trung thực để giúp các
doanh nghiệp có căn cứ xem xét, đánh giá, kiểm tra và đề xuất các biện pháp thích
ứng đối với hoạt động kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể. Những tính chất đó
của giá thành được biểu hiện thông qua các chức năng vốn có của nó.
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí
Giá thành sản phẩm là biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp
đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một
cách đầy đủ kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Như vậy, việc tìm căn cứ để
xác định mức bù đắp những chi phí mà mình đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm và thực
hiện được giá trị của sản phẩm là một yêu cầu khách quan trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu giá thành được xác định một cách
tích luỹ để tái sản xuất và mở rộng sản xuất.
Cùng các phạm trù kinh tế như giá cả, lãi, chất lượng, thuế…giá thành sản
phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp
tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán kinh doanh.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường tính chất đòn bẩy kinh tế của giá thành đặt ra
yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp hữu hiệu vừa tiết kiệm
Trang 12
www.document.vn
được chi phí, vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất đối với từng loại hoạt động,
từng khoản chi phí cụ thể.
1.1.3.2/ Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu về quản lý, kế toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá bán hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ,
nhiều phạm vi tính toán khác nhau.
Có hai cách phân loại chủ yếu sau :
* Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm được
chia thành 3 loại :
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế
hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản
xuất. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so
sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định
mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất. Giá thành định mức là công
cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử
dụng tài sản, vật tư, lao động sản xuất, giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn
các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt
1.1.3.3/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm
Khi xem xét về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp sản
xuất thực chất là ta xem xét hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất. Do đó giữa
chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng giống nhau về chất vì chúng đều là
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra trong
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên giữa chúng lại có sự khác nhau về
thời điểm xác định. Đối với chi phí sản xuất kinh doanh thì gắn liền với một thời kỳ
phát sinh chi phí nhất định. Trong thực tế công tác chi phí tài chính- kế toán thì lại
có những khoản chi phí chưa thực sự phát sinh (tức là ta chưa chi tiền) nhưng đã
Trang 14
Giá thành toàn
bộ sản phẩm
tiêu thụ
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
tiêu thụ
+
Chi phí
bán
hàng
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
+
www.document.vn
được xác định vào chi phí (chi phí trích trước), ngược lại có một số khoản chi phí đã
chi tiền trong kỳ kế toán này nhưng lại có tác dụng trong kỳ kế toán sau.
Giá thành sản phẩm gắn liền với mỗi loại sản phẩm, công việc lao vụ nhất định
nào đó. Như vậy trong giá thành sản phẩm ở kỳ kế toán này lại có thể bao gồm chi
- Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang khoa học, hợp lý,
xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất trong kỳ
một cách đầy đủ và chính xác.
1.2/ Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.2.1/ Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính xác, đòi
hỏi công việc đầu tiên mà nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng hạch toán chi
phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Có xác định được đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất thì mới tổ chức đúng đắn khoa học, hợp lý công tác
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đây là vấn đề có tầm quan
trọng đặc biệt trong lý luận cũng như trong thực tiễn, hạch toán là nội dung cơ bản
nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn tập hợp chi phí
sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành.
Tổ chức hạch toán trong quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau
và có quan hệ mật thiết với nhau đó là giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất
theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ và giai
đoạn tính sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng đã đặt hàng theo
đơn vị tính giá thành quy định.
Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí,
yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ từng doanh
nghịêp và yêu cầu tính giá thành theo đơn vị quy định. Có thể nói việc phân chia quá
trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp
chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị tức là
đối tượng tính giá thành.
Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành ngay cả trong khi chúng đồng nhất là một cần phải dựa vào các cơ sở sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Theo tiêu thức này được phân thành:
Trang 16
toán chi phí chỉ thích hợp với một loại đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của
các phương pháp này là biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại chi phí.
Trang 17
www.document.vn
1.2.2/ Trình tự kế toán và tổng hợp chi phí sản xuất
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp,
vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vào
trình độ công tác quản lý và hạch toán… mà trình tự kế toán chi phí ở các doanh
nghiệp khác nhau thì không giống nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát chung việc tập
hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:
- Bước 1: Tập hợp các chi cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử
dụng.
- Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ
có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục
vụ và giá thành đơn vị lao vụ.
- Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm có
liên quan.
- Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp mà
nội dung cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác nhau.
1.2.3/ Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.2.3.1/ Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, nhiên liệu…dùng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm. Trường hợp
doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để chế tạo, lắp ráp, gia công thêm thì nửa thành
phẩm mua ngoài cũng được hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng khác
nhau thì phải áp dụng phương pháp phân bổ chi phí cho các đối tượng và phải xác
định được tiêu thức phân bổ hợp lý, tiêu thức này phải đảm bảo mối quan hệ tỉ lệ
liệu phân bổ cho
từng đối tượng
=
Tiêu thức phân
bổ cho từng đối
tượng
x
Hệ số
phân
bổ
TK 152, 153, 142
TK 621
TK 152
TK 154
TK 111, 112, 141
Xuất NVL, CCDC
dùng vào sản xuất
NVL dùng không
hết nhập lại kho
Mua NVL dùng ngay
vào SX
TK 133
Kết chuyển
CPNVLTT
TK 411, 154
NVL liên doanh được cấp
vốn tự SX dùng ngay vào SX
www.document.vn
1.2.3.2/ Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực
Kết chuyển
( hoặc phân bổ)
CPNCTT
www.document.vn
1.2.3.3/ Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ quản lý sản xuất
trong phạm vi phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.
Để kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài
khoản 627- Chi phí sản xuất chung.
Kết cấu:
Bên nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có: - Các khoản giảm chi phí sản xuất chung (nếu có)
- Số kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng chịu chi phí
Tài khoản 627 được mở thành 6 tài khoản cấp hai:
+ TK 627(1) - Chi phí nhân viên phân xưởng
+ TK 627(2) - Chi phí vật liệu
+ TK 627(3) - Chi phí dụng cụ sản xuất
+ TK 627(4) - Khấu hao tài sản cố định
+ TK 627(5) - Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 627(8) - Chi phí khác bằng tiền
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ và được mở chi tiết cho từng đối tượng,
từng loại sản phẩm, từng phân xưởng, từng loại hoạt động, từng bộ phận.
S ơ đồ 1.3 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
Trang 21
TK334, 338
TK627
TK154
Chi phí nhân viên
TK152
Chi phí vật liệu
phân bổ
x
Tiêu thức
phân bổ cho
từng đối tượng
www.document.vn
1.2.3.4/ Kế toán chi phí trả trước
Chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa tính hết
vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch
toán sau đó.
Chi phí trả trước bao gồm:
- Công cụ, dụng cụ phát sinh một lần với giá trị lớn và công cụ dung cụ phân
bổ từ hai lần trở lên.
- Giá trị sửa chữa lớn tài sản cố định.
- Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh, sáng chế...
- Tiền thuê tài sản cố định, phương tiện kinh doanh... trả trước.
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển (với doanh
nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài).
- Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông bến bãi.
- V.v...
Để theo dõi các tài khoản chi phí trả trước, kế toán sử dụng tài khoản 142- Chi
phí trả trước.
Kết cấu:
Bên nợ: Các khoản chi phí trả trước thực tế phát sinh.
Bên có: Các khoản chi phí trả trước đã phân bổ vào phí kinh doanh.
Dư nợ: Các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng chưa phân bổ vào chi phí
kinh doanh.
Tài khoản 142 chi tiết làm 2 tiểu khoản:
+ TK142(1) - Chi phí trả trước.
+ TK142(2) - Chi phí chờ kết chuyển.
Bên có: Các khoản chi phí phải trả được ghi nhận (đã tính trước) vào chi phí
trong kỳ theo kế hoạch.
Dư có: Các khoản chi phí phải trả đã tính vào chi phí kinh doanh nhưng thực tế
chưa phát sinh.
Trang 24
www.document.vn
Về nguyên tắc tài khoản 335 cuối năm không có số dư (trừ trường hợp một số
khoản chi phí phải trả có liên quan đến nhiều niên độ kế toán như chi phí sửa chữa
tài sản cố định, lãi tiền vay... được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận).
Sơ đồ 1.5 KẾ TOÁN CHI PHÍ PHẢI TRẢ
1.2.3.6/ Kế toán thiệt hại sản phẩm hỏng trong sản xuất
A/ Kế toán thiệt hại về sản phẩm hỏng
Sản phẩm hỏng là sản phẩm không thoả mãn các tiêu chuẩn chất lượng và đặc
điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp. Tuỳ
theo từng mức độ hỏng mà sản phẩm hỏng được chia làm 2 loại:
- Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được là những sản phẩm hỏng mà về mặt
kỹ thuật có thể sửa chữa được và việc sửa chữa có lợi về mặt kinh tế.
- Sản phảm hỏng không thể sửa chữa được là những sản phẩm mà về mặt
kỹ thuật không thể sửa chữa được hoặc có thể sửa chữa được nhưng không có lợi về
mặt kinh tế.
* Trình tự kế toán
+ Đối với sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được
- Khi phát sinh chi phí sửa chữa sản phẩm hỏng và các chi phí thanh lý,
kế toán ghi
Nợ TK 621, 622, 627
Trang 25
TK334, 331, 111, 152... TK335 TK622,627, 641, 642...
Các khoản chi phí phải
trả thực tế phát sinh
TK133