Tài liệu Đề tài " Những công cụ chính sách Ngoại thương của Nhật Bản.Bài học kinh nghiệm đối với Ngoại thương Việt Nam" - Pdf 10

LUẬN VĂN
" Những công cụ chính sách
Ngoại thương của Nhật Bản.Bài
học kinh nghiệm đối với Ngoại
thương Việt Nam"
MỤC LỤC
L I NÓI UỜ ĐẦ 4
CH NG IƯƠ 5
T NG QUAN V CÁC CÔNG C C A CH NH SÁCH NGO I TH NGỔ Ề Ụ Ủ Í Ạ ƯƠ 5
I. CH NH SÁCH NGO I TH NG VÀ VAI TRÒ C A NÓ I V I S PHÁT TRI N Í Ạ ƯƠ Ủ ĐỐ Ớ Ự Ể
KINH T .Ế 5
Khái ni m:ệ 5
2.Nhi m v v vai trò c a chính sách ngo i th ng.ệ ụ à ủ ạ ươ 5
II CÁC CÔNG C CH Y U C A CH NH SÁCH NGO I TH NG.Ụ Ủ Ế Ủ Í Ạ ƯƠ 6
1. THU QUANẾ 6
2. CÁC BI N PHÁP PHI THU QUANỆ Ế 9
CH NG IIƯƠ 11
CÁC BI N PHÁP THU QUAN VÀ PHI THU QUAN TRONG CH NH SÁCH NGO IỆ Ế Ế Í Ạ
TH NG C A NH T B NƯƠ Ủ Ậ Ả 11
I. CH NH SÁCH THU QUAN C A NH T B NÍ Ế Ủ Ậ Ả 12
1. Các lo i thuạ ế 12
2. Các lo i m c thuạ ứ ế 14
3. Ch thu quanếđộ ế 14
4. Mi n gi m v ho n tr thuễ ả à à ả ế 18
II. CÁC BI N PHÁP PHI THU QUAN TRONG CH NH SÁCH NGO I TH NG Ệ Ế Í Ạ ƯƠ
NH T B NẬ Ả 21
1. H n ng ch nh p kh uạ ạ ậ ẩ 21
2. Nh ng h n ch xu t kh u t nguy nữ ạ ế ấ ẩ ự ệ 22
3. Các h n ng ch h n ch nh p kh u khác :ạ ạ ạ ế ậ ẩ 23
4. Gi y phép nh p kh uấ ậ ẩ 23
5. Ch h n ng ch thuếđộ ạ ạ ế 24

Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý điều tiết vĩ
mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách thuế quan và phi
thuế quan ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế, xã hội của đất
nước. Tuy nhiên, đối với một nước mà kinh nghiệm thị trường còn ít, thì việc học
hỏi kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển , đặc biệt là kinh nghiệm về
chính sách Ngoại thương của Nhật Bản - đất nước được cho rằng "đã đạt tới sự phát
triển thần kỳ" là vô cùng cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu :
- Phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế quan và phi thuế quan đối với ngoại
thương của Nhật Bản.
- Từ sự nghiên cứu tìm hiểu thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản rút ra những
bài học từ kinh nghiệm và khả năng áp dụng đối với Việt Nam trong việc phát triển
ngoại thương hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ nghiên cứu thuế nhập khẩu,
các biện pháp phi thuế quan quản lý nhập khẩu của Nhật Bản những năm gần đây,
từ đó rút ra bài học trong việc vận dụng đối với Ngoại thương ở Việt Nam.
4.Kết cấu khóa luận :
Ngoài Lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau :
Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sách Ngoại thương
Chương II: Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại
thương của Nhật Bản.
Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển
ngoại thương Việt Nam hiện nay.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như : phương pháp phân tích tổng hợp, duy vật biện chứng & duy vật lịch sử,
phương pháp thống kê số liệu, so sánh đối chiếu
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Khoa Kinh tế
Ngoại thương, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn, góp
ý thực hiện đề tài để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành đúng thời hạn.

vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài
theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.
Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi
nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông
qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh
nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp lý sản
xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.
Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị
trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát
hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.
Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo
ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để
khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền thì hộ biết
mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó. Doanh nhân phải biết
tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh doanh ở nước ngoài.
nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ nhận một thực tế là
chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại thương là một qúa trình tất
yếu. chính sách ngoại thương tác động đến chiều hướng phát triển của nền kinh tế,
đến công thương nghiệp thông qua ảnh hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và
sản xuất. Vì vậy tác động của chính sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính
sự phát triển ngoại thương theo chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có
quan tâm đến lợi ích của doanh nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính
sách ngoại thương phải bắt đầu từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu
dùng. Tuy nhiên các chính sách ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà
sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu
dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính
sách ngoại thương. Tuy là bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của
nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc
điểm riêng. Đó là:

như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản thu đó,
có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.
Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích thu
thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung đình.
Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường,
để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế quan làm
phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng thuế quan tài
chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.
Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong
chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :
+ Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại
không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế không
được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
+ Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt
cảm thấy gáng nặng của thuế.
1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân
Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập
nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước,
tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều
kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.
Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử
dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế suất
phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh
khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.
1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :
Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính
phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá
thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước.
Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu kém và hàng
hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ không thấp hơn

10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.
1.3.Phân loại thuế quan:
1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :
- Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để
tăng thu cho ngân sách nhà nước.
- Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho
giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh
tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.
1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :
- Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế
xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị hạn
chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
- Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai chức
năng về tài chính và bảo hộ.
- Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay lãnh thổ
của một quốc gia.
1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :
- Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của lô hàng.
- Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng lượng của
lô hàng.
- Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.
1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :
- Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay những
khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho nhau những ưu
đãi về thuế quan.
- Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ những
nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế quan.
- Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng trường
hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị trường nước
mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ, trợ giá cho hàng

Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những
hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất
định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực
hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà nước
quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên
và cải thiện cán cân thanh. toán.
2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là
thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối
với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện chỉ ở
mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại thương
của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của mình và
do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.
Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của
nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe
dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.
2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà
nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý
Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép
nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu, yêu cầu
các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan quản lý hành
chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép
không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu
thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai: nmgười nhập khẩu
bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù vậy,
hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.
2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế

như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyên liệu cơ bản như
đồng, chì, kẽm, nhôm Nhật Bản đều phải phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài.
Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước. Tài nguyên
duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con người.
Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình để
mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ sống còn của
đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách xuất khẩu và nhập
khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan trọng.
Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách thuế quan
và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.
I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN
1. Các loại thuế
1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu, do đó số
tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trường hợp giá
hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản xuất trong nước
không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là cơ quan tính thuế
sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu để đánh thuế.
1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số lượng, dung tích,
trọng lượng hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ thuộc vào giá cả hàng
hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số tiền thu thuế một cách
đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát sinh sự không công bằng
trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.
1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức chêch lệch
giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp dụng loại thuế
này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp hơn mức giá tiêu
chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với lợn, thịt lợn và các
mặt hàng chế biến từ thịt lợn.
1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào
từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản xuất trong nước
đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu có sức

Thu theo l ng ế ượ
CIF+ Thu ế M c thu ứ ế
Thu theo ế
mùa
Th i k không ờ ỳ
v o và ụ
Th i k v o ờ ỳ à
v thu ho ch ụ ạCIF+ Thu ế
Thu l a ch nế ự ọ
Thu ế
CIF
Thu theo giáế
Thu theo ế
l ngượ
CIF + Thuế
Thu l n 1ế ầ
Ch h n ếđộ ạ
ng ch Thu l n 2ạ ế ầ
S l ng ố ượ
S l ng ố ượ
h n ng chạ ạ
Thu h n h pế ỗ ợ
CIF+ Thu ế
Thu theo ế
l ngượ
CIF
Thuế
Thu theo giáế
2. Các loại mức thuế
Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế hiệp định

Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về
thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển khác đã từng
tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập
Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện pháp đặc
biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có GDP bình
quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30 nước LDC, đã
yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990 Nhật Bản đã chấp
nhận.
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ yếu
Đơn vị tính: 1.000.000USD
Nhập khẩu từ
các nước trên
thế giới
Nhập khẩu từ các nước được hưởng chế
độ ưu đãi
Nhập khẩu những mặt hàng
thuộc đối tượng được hưởng
ưu đãi
Kim ngạch nhập
khẩu áp dụng ưu
đãi
EC (Năm
1992)
567,688 149,164 74,454 35,727
Mỹ (Năm
1992)
532,654 117,900 35,700 16,700
Nhật (Năm
1996)
347,948 184,701 42,418 17.623

Để áp dụng qui định, cần phải chứng minh được việc áp dụng thuế ưu đãi sẽ dẫn đến
tăng kim ngạch nhập khẩu của nông, thuỷ sản và chứng minh các sản phẩm nhập
khẩu đó sẽ phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực
tiếp của các ngành. Bên cạnh đó, phải chứng minh rằng cần phải áp dụng các biện
pháp khẩn cấp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.
* Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc cũng được hưởng chế độ ưu
đãi thuế quan giống như nông, thủy sản và đối với một số trường hợp ngoại lệ các
sản phẩm đó cũng không được hưởng ưu đãi. Nhật Bản cũng đặt ra hạn ngạch trần
đối với 146 mặt hàng cần thiết ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và áp dụng mức
thuế ưu đãi đó trong phạm vi hạn ngạch đó. Các sản phẩm nhập khẩu đã sử dụng hết
hạn ngạch thì không được hưởng ưu đãi thuế quan.
3.1.4. Biện pháp ưu đãi đặc biệt đối với các nước chậm phát triển :
Đối với 42 nước chậm phát triển (LLDC) , ngoài việc áp dụng mức thuế 0% đối với
nông, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp, khai thác mỏ Nhật Bản còn không đưa ra
mức hạn ngạch trần đối với các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ.
Đến thời điểm 1997, Nhật Bản đã cho 155 quốc gia và 25 khu vực (trong đó tất cả
đều là thành viên của UNCTAD và hầu hết là các nước đang phát triển) được hưởng
quy chế ưu đãi thuế quan.
Về kim ngạch nhập khẩu có áp dụng ưu đãi, thì năm 1972 đạt 109.800 triệu Yên,
đến năm 1991 tăng lên tới 1.621.900 triệu Yên, trong vòng gần 20 năm đã tăng 15
lần. Nếu so với mức tăng 5 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu trong thời gian này
thì con số trên là rất lớn và nó góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt động ngoại thương
với các nước đang phát triển. So với 18 nước cho các nước đang phát triển hưởng
chế độ ưu đãi thuế quan ưu đãi, như EC : 2 tỷ USD, Nhật Bản: 14,2 tỷ USD, Mỹ :
10 tỷ USD.
Nước đang hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất của Nhật Bản là Hàn Quốc, tiếp theo
là Đài Loan, Trung Quốc, Braxin, ASEAN. Hơn nữa, do hoạt động ngoại thương,
sản xuất công nghiệp của các nước NIES châu Á ngày càng phát triển, nên vào năm
1989 Mỹ đã huỷ bỏ quy chế thuế quan ưu đãi đối với các nước Hàn Quốc,
Singapore, Đài Loan, Hồng Kông. Ngay cả EC cũng chấm dứt việc cho Hàn Quốc

và xuất khẩu được hưởng trợ cấp từ chính phủ hoặc là do việc bán phá giá hàng hoá.
Theo nguyên tắc WTO, các biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng khi nó gây
thiệt hại đối với nền công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tương tự ở nước nhập
khẩu. Thuế quan chống phá giá của Nhật Bản được quy định rất rõ ràng, chặt chẽ
dựa theo hiệp định GATT và pháp lệnh Nhà nước. Cụ thể là :
Bước 1: Yêu cầu đánh thuế quan chống phá giá
Trước hết những nhà sản xuất trong nước phải chứng minh được một cách đầy đủ
việc hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và hàng hoá nhập khẩu đó làm phương
hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của các ngành,
sau đó đưa lên Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét.
Bước 2 : Chính phủ sẽ bắt đầu điều tra khi thấy đơn yêu cầu đánh thuế đã được
chứng minh đầy đủ. Thời gian đưa ra quyết định có bắt đầu tiến hành điều tra hay
không kéo dài trong 2 tháng kể từ khi nhận được đơn yêu cầu.
Bước 3 : Điều tra
Tr¨m triÖu yªn
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000
Tæng Asean
Singapore
Morocco
Braxin
Philippin
Indonexia
Malayxia
Th¸i Lan
§µi Loan
Hµn Quèc
Trung Quèc
Kim ng¹ch 95
Kim ng¹ch 96
Ban điều tra bao gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ trực thuộc, Bộ thương mại.

- Hàng tiêu dùng, sinh hoạt : khi giá nhập khẩu của những mặt hàng như lương thực
thiết yếu (gạo, bột mỳ ) cao, khi giá cả trong nước lẫn giá nhập khẩu của thịt lợn
và đường là những mặt hàng có giá biến động lớn đồng loạt tăng cao thì những hàng
hóa này được miễn giảm thuế.
Ngoài những mặt hàng có quan hệ mật thiết tới đời sống hàng ngày như lương thực,
quần áo thì ngay cả với những mặt hàng khác khi giá nhập khẩu tăng vọt mà đó
lại là những mặt hàng rất cần thiết để đảm bảo đời sống nhân dân hoặc không ảnh
hưởng tới sản xuất trong nước thì cũng có thể được miễn giảm thuế.
- Vật tư nguyên liệu dùng để sản xuất : là vật tư, nguyên liệu cần thiết để sản xuất ra
những hàng hoá chuyên dụng như thức ăn gia súc
- Hàng hoá có mục đích sử dụng đặc biệt : là những hàng hoá dùng cho nghiên cứu
khoa học và giáo dục, hàng là quà tặng, quà biếu cho các hoạt động phúc lợi xã hội.
- Hàng hoá của các nhà ngoại giao: miễn thuế cho hàng hoá được sử dụng trong đại
sứ quán
- Ngoài ra, hàng hoá cũng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
+ Giảm thuế trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do thay đổi phẩm chất.
+ Giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu để gia công.
+ Miễn thuế đối với các hàng hoá như thuỷ sản đánh bắt nước ngoài.
+ Miễn thuế đối với hàng tái xuất.
+ Miễn thuế đối với những vật tư, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Miễn thuế xuất khẩu những hàng hoá mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá
đó đã bị chịu thuế.
* Theo Luật tính thuế tạm thời, các hàng hoá được hưởng miễn giảm thuế bao gồm:
- Miễn đối với dầu thô được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu : căn cứ
vào mục đích sử dụng, nếu là dầu thô dùng làm nhiên liệu thì sẽ phải chịu thuế, nếu
sử dụng làm nguyên liệu thì không phải chịu thuế, Nhật Bản đã thực hiện miễn thuế
đối với dầu thô được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm hoá
dầu.
- Giảm thuế đối với các hàng được gia công ở nước ngoài (rồi nhập khẩu trở lại
Nhật) để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển ở xung

1600
1800
89 90 91 92 93 94 95 96
N¨m
- Hàng hoá bị thiệt hại, hư hỏng do thay đổi phẩm chất.
- Vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
- Những hàng hóa mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã phải chịu thuế.
- Hàng hoá bị trả lại hoặc bị huỷ bỏ do không phù hợp với hợp đồng.
* Theo Luật thuế tạm thời có :
- Chế độ hoàn trả thuế do tăng sản xuất những hàng hoá như các sản phẩm tinh dầu
mỏ tinh chế thô : đây là chế độ hoàn trả một phần thuế trong trường hợp tình hình
cung cấp các sản phẩm tinh chế từ dầu thô như dầu hoả, dầu nhẹ, dầu nặng loại A
bị thiếu nên phải sử dụng biện pháp xử lý đặc biệt sản xuất từ dầu nặng.
- Chế độ hoàn trả thuế đối với những hàng hoá như dầu mỏ dùng để sản xuất ra các
sản phẩm hoá dầu.
Bảng 3: Các mặt hàng áp dụng chế độ miễn giảm, hoàn trả thuế
Năm
Số lượng hàng
hoá được áp
dụng
Tên hàng hoá
1969 5
Tủ lạnh, bộ nhớ, vòng bi, đèn chân không, các loại
đồng hồ đeo tay.
1974 24
Ống đồng vàng, pittong, máy kéo sợi, ôtô, tai nghe,
dây điện từ chậm
1987 4
Ống đồng vàng, vòng bi, đèn chân không, dây điện từ
chậm.

phẩm hoá dầu, khí gas.
II. CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI
THƯƠNG NHẬT BẢN
1. Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu
của các loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời
gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở
dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Vào đầu và
giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và Thương mại (MITI) sẽ phê
chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi trong giấy thông báo nhập
khẩu. Thông báo nhập khẩu quy định trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một
hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nhà nhập
khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản lý ngoại hối hay các cơ quan
khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công Nghiệp và Thương mại.
Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập và hạn ngạch của một
mặt hàng hay một nhóm hàng được phân cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của
tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau :
- Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu : hạn ngạch được phân bố căn
cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so
với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.
- Chế độ theo dõi việc thông quan : việc phân bổ căn cứ vào tổng số lượng hạn
ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian trước.
- Chế độ thông báo chính thức : việc phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hạn
ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn
ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo chính thức gửi
cho các nhà nhập khẩu.
- Chế độ theo đơn đặt hàng : hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị
giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.
- Chế độ theo đầu doanh nghiệp : là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá hạn ngạch
được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ này thường được dùng đi

phải có những chính sách bảo hộ và kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật Bản đã
chấp nhận thực hiện VER đối với các loại ôtô xuất khẩu sang Mỹ. Việc thực hiện
VER trong khi có lợi cho nhà sản xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải
chịu giá ô tô tăng lên.
Theo yêu cầu của các chính phủ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản đã trực tiếp điều
hành việc phân phối VER cho các ngành công nghiệp và các công ty trong nước.
Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn hàng sẽ được
phân phối cho các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành bởi MITI dựa trên
cơ sở của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cũng được thực hiện
thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối giữa các ngành có
liên quan. Việc phân phối hạn ngạch xuất khẩu cố định cho các nhà xuất khẩu sẽ
làm giảm cạnh tranh, giữ giá cả ở mức cao làm tổn hại đến người tiêu dùng và
những ngành công nghiệp trong nước sử dụng những sản phẩm trung gian được sản
xuất theo chế độ VER làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm khác.
Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiệu quả. Nó có thể giúp làm
giảm khối lượng thặng dư mậu dịch của Nhật Bản nhưng cũng đồng thời làm giảm
khối lượng trao đổi mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu dịch dẫn đến giảm
hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc tế. Từ đó dẫn
đến ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc trực tiếp sang thị
trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứ ba mà từ đó sản phẩm sẽ được xuất khẩu
sang thị trường các nước khác. Theo thống kê năm 1990, trong khi xuất khẩu ôtô
của Nhật Bản theo VER sang Mỹ đã giảm xuống dưới 2,4 triệu xe, nhưng sản xuất
ôtô của Nhật Bản ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7 triệu xe.
VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của GATT và
việc huỷ bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay về các thương
thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp định về VER
của Nhật Bản đã được huỷ bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với thép và các sản
phẩm thép vào tháng 3-1992, máy công cụ vào tháng 12-1993, ôtô khách vào tháng
3-1994, đồ gốm sứ vào tháng 12-1994.

Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ qui định trong đó áp dụng mức thuế bằng 0 hoặc
thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui định nhằm
đảm bảo cung cấp những hàng hoá với giá rẻ cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá
nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2)
để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
Có nhiều cách tính số lượng để áp dụng mức thuế suất lần 1 nhưng hiện nay ở Nhật
Bản, phương pháp tính số lượng phổ biến là lấy số lượng dự đoán nhu cầu trong
nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.
Khi Nhật Bản thực hiện tự do hoá thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế được sử
dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay gắt của sản
xuất trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá. So với qui định
hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số lượng nhất định
thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số
lượng qui định, nhưng phải chịu thuế mức thuế suất lần 2 đối với phần vượt đó.
Theo nguyên tắc của GATT, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn
ngạch nhập khẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có
sự phân biệt đối với từng nước.
Chế độ hạn ngạch này được xây dựng dựa trên sự đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu
bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy,
đối với mỗi danh mục hàng hoá chính phủ đều phải nghiên cứu ưu và nhược điểm
của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét đến tình hình cung
cầu, thời hạn áp dụng, thực trạng sản xuất trong nước và tiến hành cách thức áp
dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.

Bảng 4: Các mặt hàng thuộc đối tượng của việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế
(tính đến năm 1992), cụ thể như sau :
ST
T
Hàng hoá
Thời hạn bắt

11 Dầu nặng và dầu thô 4/1972
0
2.770
yên/kl
2.580
yên/kl
2.520
yên/kl
3.750 yên/kl
12 Da (ngựa, cừu, dê) 4/1986
20%
15%
60%
13 Giầy da 4/1986
27%
21.6%
30%
60% hoặc 4.800
yên/đôi tuỳ theo
cách nào cao hơn
Nguồn: Thuế xuất nhập khẩu Nhật Bản
6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu
Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu
ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tuỳ thuộc mỗi nước mà có các biện pháp hành
chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu.
Thị trường Nhật Bản luôn là một thị trường có nhiều điểm khác biệt mang tính đặc
trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là rất quan
trọng, nhưng ở thị trường Nhật Bản, chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu.
Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất quan tâm tới chất
lượng mặt hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status