Luận văn Đề Tài:Biện pháp thúc đẩy xuất
khẩu mặt hàng gốm xây
dựng của Công ty Kinh
doanh và Xuất nhập khẩu
thuộc Tổng công ty Thủy tinh
và Gốm xây dựng – Viglacera
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối chiến lược CNH - HĐH mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước có nền
kinh tế công nghiệp hiện đại, bảo đảm dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng công tác xuất nhập khẩu nhằm phát
triển và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu
tăng bình quân hàng năm 27,7%, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm
22%. Nhìn lại chặng đường phát triển của hoạt động ngoại thương Việt Nam cho
thấy, mặc dù còn rất khiêm tốn song đã đi những bước rất vững chắc khai thác mọi
tiềm năng để phát triển, khẳng định chỗ đứng của mình ở thị trường trong nước và
Quốc tế.
thành chuyên đề này. Em cũng chân thành cảm ơn các cô, các chú, các anh, các
chị công tác tại Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu đã tận tình giúp đỡ và tạo
điều kiện để em hoàn thành chuyên đề này.
Hà nội, tháng 4 năm 2003 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG
HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC
TA.
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ.
1. Sự cần thiết và vị trí của xuất khẩu hàng hoá.
Hoạt động kinh tế là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Lực
lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động càng mở rộng thì sự khác biệt
giữa các quốc gia trên thế giới càng sâu sắc, không chỉ khác biệt về truyền thống
văn hoá mà còn là sự chênh lệch về trình độ nhận thức, công nghệ kỹ thuật cũng
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
-Đầu tư nước ngoài.
-Vay nợ, viện trợ.
-Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ.
-Xuất khẩu hàng hoá.
Trong đó nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá là nguồn vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ
trọng lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản
lý …Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu để huy
động phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và các tổ
chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng
xuất khẩu của nước đó vì đây là nguồn chính đảm bảo cho đất nước có thể trả nợ
được.
Để khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hướng nhập khẩu phục vụ tốt sản xuất và
tiêu dùng, bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước, nâng cao hiệu quả sản xuất,
nhập khẩu, mở rộng hợp tác kinh tế-thương mại với nước ngoài, góp phần thực
hiện mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước. Xuất khẩu và nhập khẩu trong thương
mại quốc tế vừa là điều kiện, vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu và
nhập khẩu để phát triển xuất khẩu.
Đối với nước ta, để tránh được nguy cơ tụt hậu thì trong chính sách CNH-HĐH,
Đảng và Nhà nước ta coi nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại là một
nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội
đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển.
*Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Có hai cách nhìn nhận và tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế:
-Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu
nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta,
sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa ra” của
sản xuất, thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng triển chậm. Sản xuất và sự thay
quá trình liên doanh liên kết, hàng loạt các ngành nghề mới ra đời đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu những vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu mà trong nước không tự sản xuất được hoặc sản xuất với giá thành
cao phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu của người
dân.
*Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất
khẩu nâng cao uy tín nước ta trên thị trường thế giới và tăng cường các quan hệ
kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động
qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản, là hình thức
ban đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như: du lịch
quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế phát triển theo. Ngược lại, sự phát triển
của các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong qúa trình phát triển nền kinh tế đất nước.
Hiện nay Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh
tế hướng vào xuất khẩu, khuyến khích các khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để
giải quyết việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
2.2Đối với doanh nghiệp.
-Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tham
gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Những yếu tố này đòi hỏi các
doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
-Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc
quản trị sản xuất và kinh doanh cho phù hợp với thời đại. Đồng thời xuất khẩu còn
tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp để tái đầu tư vào quá trình sản xuất cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu.
-Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo ra
thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng. Nó vừa
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân vừa thu được lợi nhuận.
-Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường, mở rộng
quan hệ buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Vì
3.2 Các hình thức xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng những
hình thức chủ yếu thường được các doanh nghiệp ngoại thương lựa chọn sau:
3.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.
Đây là hình thức mà hàng hoá được mua hay bán trực tiếp của nước ngoài không
qua trung gian. Theo hình thức này đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ký
kết hợp đồng ngoại thương. Các doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua các
sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó bán các sản phẩm này cho các
khách hàng nước ngoài (có thể qua một số công đoạn gia công chế biến).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất
khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung gian.
Với vai trò là người bán trực tiếp, các đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh
doanh, có điều kiện tiếp cận thị trường, nắm bắt được các thông tin một cách nhạy
bén hơn để tự mình có thể thâm nhập thị trường, đưa ra được những ứng xử linh
hoạt, thích ứng với thị trường và do vậy có thể đáp ứng nhu cầu thị trường, gợi
mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị tổ chức hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại
hiệu quả kinh doanh cao, tự khẳng định mình về sản phẩm nhãn hiệu … dần dần
đưa được uy tín về sản phẩm trên thế giới.
Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải ứng trước một số vốn khá lớn để sản xuất
hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro. Đối với đơn vị mới tham gia kinh
doanh thì áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện về vốn sản xuất hạn chế, am
hiểu thương trường quốc tế còn ít, uy tín nhãn hiệu còn xa lạ đối với khách hàng.
3.2.2 Xuất khẩu gián tiếp.
Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian thương mại.
Ưu điểm: Người trung gian giúp cho người xuất khẩu tiết kiệm được thời gian, chi
phí, giảm bớt nhiều việc liên quan đến tiêu thụ hàng. Ngoài ra người trung gian
còn có thể giúp cho người xuất khẩu tín dụng trong ngắn hạn và trung hạn bởi vì
trung gian có quan hệ với công ty vận tải, ngân hàng…
Nhược điểm: Lợi nhuận bị chia xẻ do tổn phí, doanh nghiệp xuất khẩu mất mối
quan hệ trực tiếp với thị trường, thông tin nhiều khi không chính xác.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt
động nhập khẩu. Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu về một
khoản ngoại tệ mà là thu về một lượng hàng hoá khác tương đương với giá trị của
lô hàng xuất khẩu. Yêu cầu của buôn bán đối lưu là cân bằng về tổng giá trị xuất
nhập khẩu, chủng loại hàng hoá quý hiếm, giá cả. Doanh nghiệp có thể sử dụng
hình thức này để nhập khẩu nhiều loại hàng hoá mà thị trường trong nước đang rất
cần hoặc có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba.
3.2.6 Gia công quốc tế.
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là
bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công
và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công).
Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến, được nhiều nước, đặc biệt
là các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng. Thông qua hình
thức này, họ vừa tạo cho người lao động có công ăn việc làm, lại vừa tiếp nhận
được công nghệ mới. Mặt khác nước này lại không phải bỏ ra nhiều vốn và cũng
không lo về thị trường tiêu thụ.
Các nước đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu
phụ và nhân công dồi dào với giá rẻ của nước nhận gia công. Song hình thức này
cũng có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về
số lượng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép về phí gia công.
4. Nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hoá.
Từ sau năm 1986, Chính phủ Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ chế độ
quản lý kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế của Việt Nam nói chung và xuất khẩu
nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định. Với mục tiêu: “Đẩy mạnh xuất
khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo
thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu
trên thị trường. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế; tăng tỷ trọng sản phẩm chế
biến sâu và tinh trong hàng xuất khẩu”. ở những thời điểm nhất định mục tiêu xuất
khẩu có khác nhau, nhưng mục tiêu quan trọng chủ yếu nhất của xuất khẩu là để
Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp cho ta biết được những thông tin về quy
mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường như
môi trường kinh doanh, môi trường chính trị – luật pháp, khoa học công nghệ, môi
trường văn hoá xã hội, môi trường sinh thái.
Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin về tập quán mua bán,
những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi, mua hàng của người tiêu dùng.
Nghiên cứu thị trường được tiến hành theo hai phương pháp chính: nghiên cứu tại
bàn và nghiên cứu tại hiện trường. Nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu bằng cách thu
thập thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công khai và xử lý các thông
tin đó. Nghiên cứu tại hiện trường là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp
xúc trực tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập được.
Nghiên cứu thị trường bao gồm:
1.1Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Lựa chọn thị trường xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc lựa chọn thị trường
trong nước bởi vì các nước khác nhau có những nhu cầu, yêu cầu rất nhau về mỗi
loại hàng hoá. Do vậy việc lựa chọn thị trường xuất khẩu đòi hỏi phải tốn nhiều
thời gian và công sức mới đưa ra được quyết định đúng đắn. Khi nghiên cứu thị
trường doanh nghiệp cần chú ý đến các vấn đề sau:
-Thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường và các nhân tố làm thay
đổi dung lượng của thị trường.
-Nắm vững thông tin về biến động giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới cũng
như giá nguồn hàng cung cấp trong nước.
-Công việc nghiên cứu thị trường phải diễn ra thường xuyên liên tục vì thị trường
luôn biến động.
1.2Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu.
Mục đích của việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là để xác định những mặt hàng
kinh doanh phù hợp với năng lực và khả năng của công ty, đồng thời đáp ứng
được nhu cầu của thị trường, từ đó mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, trước tiên cần phải dựa vào nhu cầu và thị hiếu
của người tiêu dùng về chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả hàng hoá trên thị
thống nhất với mục tiêu chiến lược. Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể đối với toàn
công ty và đối với từng bộ phận. Chẳng hạn khi mục tiêu chiến lược của công ty
trong giai đoạn này là lợi nhuận thì mục tiêu kế hoạch chung của công ty là phải
đạt được bao nhiêu lợi nhuận trong năm…
Có thể vạch ra các mục tiêu định tính hay định lượng. Các mục tiêu định lượng
được coi là chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, bao gồm: Chỉ tiêu doanh số, chỉ tiêu chi
phí, chỉ tiêu lợi nhuận, dự trữ…Công ty cần xây dựng kế hoạch các công việc cụ
thể cần làm để hoàn thành các chỉ tiêu này.
Việc xây dựng kế hoạch xuất khẩu là điều kiện tiền đề cho việc hoàn thành tốt
chiến lược xuất khẩu và là một công việc rất cần thiết. Nó giúp công ty nắm bắt
những cơ hội và giảm thiểu rủi ro. Việc dự báo chính xác nhu cầu thị trường từ đó
xây dựng lên các kế hoạch thu mua, dự trữ…sẽ đảm bảo cho xuất khẩu thắng lợi.
2.2Phương án xuất khẩu hàng hoá.
Trên cơ sở kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường, đơn vị
xuất khẩu phải lập phương án kinh doanh cho mình. Việc xác định phương án kinh
doanh bao gồm:
-Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh tổng quát về
hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn.
-Lựa chọn mặt hàng thời cơ điều kiện và phương thức kinh doanh, sự lựa chọn này
phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan.
-Đề ra mục tiêu cụ thể như sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán lẻ bao nhiêu, thâm
nhập vào thị trường nào.
-Đề ra biện pháp và công cụ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu.
-Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu
cơ bản.
+ Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu.
+ Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi xuất khẩu.
+ Chỉ tiêu thu hồi vốn cho xuất khẩu.
+ Điểm hoà vốn trong xuất khẩu hàng hoá.
3.Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
bất đồng và nhiều khi là lối thoát duy nhất cho những cuộc đàm phán như thư tín,
điện thoại đã kéo dài quá lâu không có kết quả. Phương thức này phù hợp cho đàm
phán ký kết những hợp đồng lớn.
Việc giao dịch đàm phán tiến hành theo các bước:
Bước 1: Hỏi giá: là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá cả và
các điều kiện để mua hàng.
Bước 2: Chào hàng: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng với khách hàng nước ngoài.
Trong chào hàng cần ghi rõ tên hàng, quy cách, chất lượng, khối lượng, mẫu mã,
bao bì, giá cả, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán và các dịch vụ kèm theo.
Có hai loại chào hàng là chào hàng cố định và chào hàng tự do.
Bước 3: Đặt hàng: lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được
đưa ra dưới hình thức đặt hàng.
Bước 4: Hoàn giá: khi nhận được đơn chào hàng nhưng người nhận không chấp
nhận hoàn toàn đơn chào hàng thì họ sẽ đưa ra đề nghị mới thì lời đề nghị này gọi
là hoàn giá
Bước 5: Chấp nhận: Đây là kết quả của quá trình hoàn giá. Khi đã chấp nhận thì
có nghĩa là hợp đồng đã được thành lập.
Bước 6: Xác nhận: Hai bên sau khi thống nhất thoả thuận với nhau về các điều
kiện giao dịch nếu cần thì có thể ghi lại mọi điều đã thoả thuận gửi cho bên kia.
Đó là văn kiện xác nhận có cả chữ ký của cả hai bên.
Sau khi hai bên mua bán tiến hành giao dịch và đàm phán có kết quả thì tiến hành
ký kết hợp đồng. Hợp đồng xuất khẩu là những thoả thuận về các điều kiện mua
bán hàng hoá như tên hàng, khối lượng, chất lượng, giá cả, thanh toán…giữa
doanh nghiệp xuất khẩu với khách hàng cụ thể. Về mặt pháp lý, hợp đồng xuất
khẩu là căn cứ pháp luật ràng buộc các trách nhiệm và quyền lợi của các bên. Vì
vậy, khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải xem xét lại các điều khoản
thoả thuận trước khi ký kết hợp đồng.
4.Triển khai thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
Sau khi hợp đồng xuất khẩu được ký kết doanh nghiệp cần phải tiến hành triển
khai các công việc để thực hiện hợp đông xuất khẩu hàng hoá đúng với những điều
-Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu: Doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức
thu gom hàng bằng nhiều biện pháp khác nhau như mua nguyên liệu về gia công,
Ký hợp đồng
xu
ất khẩu
Kiểm tra
L/C
Xin giấy phép
xu
ất khẩu
Chuẩn bị
hng hoá
Uỷ thác
thuê tu
Kiểm nghiệm
hàng hoá
Lm thủ tục
h
ả
i quan
Giao hng
lên tu
thiết, qua đó quyền lợi của khách hàng được bảo đảm và nâng cao uy tín của
doanh nghiệp xuất khẩu. Việc kiểm nghiệm và kiểm định được tiến hành ở hai
cấp: Kiểm tra ở cơ sở do phòng KCS tiến hành và kiểm tra ở cửa khẩu có tác dụng
kiểm tra lại kết quả kiểm tra lần trước đó.
*Làm thủ tục hải quan: Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu,
nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan.Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước
chủ yếu sau đây:
-Khai báo hải quan:chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờ khai để cơ
quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Tờ khai hải quan phải được xuất trình
kèm theo với một số chứng từ khác, mà chủ yếu là giấy phép xuất nhập khẩu, hoá
đơn, phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết.
-Xuất trình hàng hoá: Hàng hoá xuất nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự, thuận
tiện cho việc kiểm soát. Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc mở,
đóng các kiện hàng.
-Thực hiện các quyết định của hải quan:Sau khi kiểm soát giấy tờ hàng hoá, hải
quan sẽ ra quyết định và chủ hàng có nghĩa vụ thực hiện các quyết định đó.
*Giao hàng lên tàu: Tuỳ theo thoả thuận về điều kiện cơ sở giao hàng mà việc giao
hàng lên phương tiện vận chuyển sẽ thuộc trách nhiệm bên nào. Nếu hàng hoá
được giao bằng đường biển chủ hàng phải tiến hành các công việc sau:
-Căn cứ vào các chi tiết hàng xuất khẩu lập bản đăng ký hàng chuyên chở.
-Xuất trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng.
-Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng.
-Bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
-Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển. Vận
đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốc hàng và phải chuyển nhượng
được. Vận đơn cần phải chuyển gấp về bộ phận kế toán để lập bộ chứng từ thanh
toán.
*Mua bảo hiểm: Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất.
Vì thế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại
thương.Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên bốn căn cứ sau: Điều
những thuận lợi quá trình mà doanh nghiệp có thể khai thác để phục vụ cho quá
trình xuất khẩu tới độ thu được lợi nhuận cao, khả năng về thị trường lớn hơn.
-Kết quả về mặt xã hội: Những lợi ích mà doanh nghiệp có thể mang lại khi thực
hiện các hoạt động xuất khẩu nào đó thì cũng phải đem lại lợi ích cho đất nước.
Do vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích xã hội khi thực hiện các hợp đồng
xuất khẩu, kinh doanh những mặt hàng Nhà nước khuyến khích xuất khẩu và
không xuất khẩu những mặt hàng mà Nhà nước cấm.
5.2Các chỉ tiêu định lượng.
a.Chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng của
doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động.
Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp được tính bằng công thức:
TR = P x Q
Trong đó: TR: Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu
P: Giá cả hàng xuất khẩu
Q: Số lượng hàng xuất khẩu
Lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu là lượng dôi ra của doanh thu xuất khẩu so với
chi phí xuất khẩu, được tính bằng công thức:
Lợi nhuận xuất khẩu = TR – TC
LNKT = TR – TCKT
L.Ntt = TR – TCtt
Trong đó: TC: tổng chi phí bỏ ra cho hoạt động xuất khẩu
LNKT:Lợi nhuận kinh tế
TCKT: Chi phí
LNtt: Lợi nhuận tính toán
TCtt: Chi phí tính toán.
b.Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của xuất khẩu.
Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng cách so sánh số ngoại tệ thu được
do xuất khẩu (giá trị quốc tế của hàng hoá) với những chi phí bỏ ra cho việc sản
Chỉ tiêu này cho ta biết số thu bằng ngoại tệ đối với đơn vị chi phí trong nước.
Tổng giá thành xuất khẩu là tổng chi phí sản xuất hàng xuất khẩu, các chi phí mua
và bán xuất khẩu.
Thu ngoại tệ xuất khẩu là tổng thu nhập ngoại tệ của hàng hoá xuất khẩu tính theo
giá FOB.
Thu nhập nội tệ của hàng xuất khẩu là số ngoại tệ thu được do xuất khẩu tính đổi
ra nội tệ theo tỷ giá hiện hành.
Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu:
Thu nhập ngoại Giá thành nguyên
tệ xuất khẩu - liệu ngoại tệ
Tỷ lệ thu nhập =
Ngoại tệ XH Giá thành xuất khẩu nội tệ
Tổng giá thành nội tệ xuất khẩu (VND)
Giá thành chuyển =
đổi xuất khẩu Thu nhập ngoại tệ xuất khẩu (USD)
Thu nhập nội tệ xuất khẩu – Giá thành xuất khẩu nội tệ
Tỷ lệ lỗ lãi =
xuất khẩu Giá thành xuất khẩu nội tệ
*Các chỉ tiêu về sử dụng vốn.
Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn.
Lợi nhuận xuất khẩu
Hiệu qủa sử dụng vốn = 100%
Vốn
Doanh thu xuất khẩu
Số vòng quay của vốn = 100%
Mức dự trữ bình quân
c.Chỉ tiêu doanh lợi xuất khẩu.
a.Chính sách thương mại của nước xuất khẩu.
Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước có vai trò chủ yếu là hiệu quả ổn định và
công bằng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, Nhà nước đã có những tác
động làm ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp
thông qua chính sách thương mại.
Đây là những yếu tố mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu buộc phải nắm
rõ và tuân thủ một cách vô điều kiện bởi nó thể hiện ý chí của Nhà nước xuất khẩu
nhằm bảo vệ lợi ích chung của quốc gia. Cụ thể trong hoạt động xuất khẩu doanh
nghiệp cần phải nắm rõ chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước để thúc đẩy
xuất khẩu như chế độ cấp giấy phép, chế độ hạn ngạch, chính sách thuế nói chung
và thuế xuất nhập khẩu nói riêng để đề ra chiến lược xuất khẩu thích hợp và hiệu
quả nhất.
b.Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thế giới.
Nhân tố cung cầu là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung
cấp hoặc khối lượng hàng hoá xuất khẩu trên thị trường. Trong nền kinh tế thị
trường quan hệ cung cầu điều khiển và kiểm soát thị trường, nó quyết định đến
quá trình xuất khẩu hàng hoá. Vì vậy quyết định của doanh nghiệp phải thật linh
hoạt cho phù hợp với mối quan hệ cung cầu trong từng thời điểm, từng vùng khác
nhau trên thị trường cạnh tranh.
c.Tỷ giá hối đoái của đồng tiền và tỷ xuất ngoại tệ hàng xuất khẩu.
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh giữa đồng tiền bản địa (nội tệ) với đồng tiền nước
ngoài (đồng ngoại tệ) ảnh hưởng đến kinh doanh xuất nhập khẩu. Khi tỷ giá hối
đoái tăng đồng tiền nội tệ mất giá thì giá cả sản phẩm nhập khẩu tính bằng đồng