Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gốm xây dựng của Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng – Viglacera - Pdf 26

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối chiến lược CNH - HĐH mà Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước có nền
kinh tế công nghiệp hiện đại, bảo đảm dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng công tác xuất nhập khẩu nhằm phát
triển và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu
tăng bình quân hàng năm 27,7%, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm
22%. Nhìn lại chặng đường phát triển của hoạt động ngoại thương Việt Nam cho
thấy, mặc dù còn rất khiêm tốn song đã đi những bước rất vững chắc khai thác mọi
tiềm năng để phát triển, khẳng định chỗ đứng của mình ở thị trường trong nước và
Quốc tế.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu trong toàn
bộ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Qua quá
trình học tập ở trường và thực tập tại Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu, em
đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng
gốm xây dựng của Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty
Thủy tinh và Gốm xây dựng – Viglacera”.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường.
ChươngII: Thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng gốm xây dựng ở Công ty
Kinh doanh và Xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng.
Chương III: Phương hướng và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gốm xây
dựng của Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu.
Do hạn chế về thời gian và khả năng tìm hiểu về tình hình thực tế có hạn, đề
tài của em không tránh khỏi những sai sót, mong được sự cảm thông và đóng góp
ý kiến của các thầy cô, các cán bộ kinh doanh ở Công ty. Em mong rằng các ý
kiến và biện pháp mà em đưa ra trong luận văn này góp phần thúc đẩy hơn nữa
hoạt động xuất khẩu ở Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS - TS Hoàng Đức

Xuất khẩu hàng hoá nằm trong khâu phân phối lưu thông của quá trình tái
sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng giữa nước
này với nước khác. Như vậy thương mại quốc tế bắt nguồn từ:
- Thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản
xuất giữa các nước. Điều kiện tự nhiên quy định sự khác biệt về khả năng sản xuất
của mỗi quốc gia, điều đó làm cho các quốc gia phải tiến hành trao đổi hàng hoá
với nhau.
- Lợi thế so sánh giữa các quốc gia là khác nhau nên đã thúc đẩy các quốc
gia trao đổi hàng hoá. Lợi thế so sánh của một quốc gia biểu hiện ở chi phí cơ hội
để sản xuất ra một sản phẩm của quốc gia đó. Các quốc gia sẽ sản xuất những sản
phẩm có lợi thế với chi phí thấp nhất rồi sau đó tiến hành trao đổi với quốc gia
khác. Hoạt động thương mại quốc tế trên cơ sở này giúp cho các quốc gia tiêu
dùng nhiều hơn những sản phẩm so với khi các quốc gia này tự sản xuất tất cả sản
phẩm hàng hoá mà không tiến hành trao đổi thương mại quốc tế.
- Hiệu quả kinh tế theo quy mô là các chi phí sản xuất thực tế được đánh giá
dưới hình thức nguồn lực huy động sẽ giảm xuống khi quy mô tăng lên. Nghĩa là
hàng hoá sẽ trở nên rẻ hơn khi quy mô sản xuất tăng lên. Nguyên nhân là khi sản
xuất với quy mô lớn, người ta có thể tiết kiệm được trong việc sử dụng máy móc
và thiết bị chuyên môn hoá. Hơn nữa, do phân công công việc ra giữa nhiều người
khác nhau, mỗi người có thể trở thành chuyên gia theo một khía cạnh của quá trình
3
Luận văn tốt nghiệp
sản xuất thông qua kinh nghiệm và sự đào tạo chuyên môn. Với các nước đó,
những lợi ích do ngoại thương xuất phát từ việc chuyên môn hoá các loại sản
phẩm mà họ có lợi thế so sánh.
- Sự đa dạng về nhu cầu tiêu dùng, sở thích tiêu dùng cũng dẫn đến quá
trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Ngày nay, nhu cầu về sản phẩm hàng
hoá phát triển ở một mức rất cao. Người tiêu dùng không chỉ mong muốn thoả
mãn nhu cầu sinh lý, tự nhiên mà còn mong muốn thoả mãn các nhu cầu về văn
hoá, tinh thần… Chính điều này giải thích cho nhiều hiện tượng xảy ra trong thế

khả năng xuất khẩu của nước đó vì đây là nguồn chính đảm bảo cho đất nước có
thể trả nợ được.
Để khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hướng nhập khẩu phục vụ tốt sản
xuất và tiêu dùng, bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước, nâng cao hiệu quả sản
xuất, nhập khẩu, mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại với nước ngoài, góp phần
thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Xuất khẩu và nhập khẩu trong
thương mại quốc tế vừa là điều kiện, vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập
khẩu và nhập khẩu để phát triển xuất khẩu.
Đối với nước ta, để tránh được nguy cơ tụt hậu thì trong chính sách CNH
-HĐH, Đảng và Nhà nước ta coi nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại
là một nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển.
* Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Có hai cách nhìn nhận và tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế:
- Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá
nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như
nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự
“thừa ra” của sản xuất, thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng triển chậm. Sản xuất
và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
- Coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ
chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản
xuất phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác
động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản, là hình
thức ban đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như: du
lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế phát triển theo. Ngược lại, sự phát
6
Luận văn tốt nghiệp
triển của các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát
triển.
Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong qúa trình phát triển nền kinh tế đất
nước. Hiện nay, Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các
ngành kinh tế hướng vào xuất khẩu, khuyến khích các khu vực tư nhân mở rộng
xuất khẩu để giải quyết việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
2.2 Đối với doanh nghiệp.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện
tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Những yếu tố này đòi hỏi
các doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công
việc quản trị sản xuất và kinh doanh cho phù hợp với thời đại. Đồng thời xuất
khẩu còn tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp để tái đầu tư vào quá trình sản
xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động,
tạo ra thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng.
Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân vừa thu được lợi
nhuận.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường,
mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có
lợi. Vì vậy, đã giúp doanh nghiệp tăng được doanh số bán và lợi nhuận. Đồng thời
chia sẻ được rủi ro mất mát trong hoạt động kinh doanh tăng cường uy tín kinh
doanh của công ty. Từ đó có điều kiện học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên
tiến từ phía đối tác nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho các

3.2 Các hình thức xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng
những hình thức chủ yếu thường được các doanh nghiệp ngoại thương lựa chọn là:
3.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.
Đây là hình thức mà hàng hoá được mua hay bán trực tiếp của nước ngoài
không qua trung gian. Theo hình thức này, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực
tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương. Các doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra
mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó bán các sản phẩm này
cho các khách hàng nước ngoài (có thể qua một số công đoạn gia công chế biến).
Ưu điểm: của hình thức xuất khẩu này là lợi nhuận của đơn vị kinh doanh
xuất khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung
gian. Với vai trò là người bán trực tiếp, các đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh
doanh, có điều kiện tiếp cận thị trường, nắm bắt được các thông tin một cách nhạy
bén hơn để tự mình có thể thâm nhập thị trường, đưa ra được những ứng xử linh
8
Luận văn tốt nghiệp
hoạt, thích ứng với thị trường và do vậy có thể đáp ứng nhu cầu thị trường, gợi
mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị tổ chức hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại
hiệu quả kinh doanh cao, tự khẳng định mình về sản phẩm nhãn hiệu… dần dần
đưa được uy tín về sản phẩm trên thế giới.
Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải ứng trước một số vốn khá lớn để
sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro. Đối với đơn vị mới tham
gia kinh doanh thì áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện về vốn sản xuất hạn
chế, am hiểu thương trường quốc tế còn ít, uy tín nhãn hiệu còn xa lạ đối với
khách hàng.
3.2.2 Xuất khẩu gián tiếp.
Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian thương mại.
Ưu điểm: Người trung gian giúp cho người xuất khẩu tiết kiệm được thời
gian, chi phí, giảm bớt nhiều việc liên quan đến tiêu thụ hàng. Ngoài ra, người
trung gian còn có thể giúp cho người xuất khẩu tín dụng trong ngắn hạn và trung

tái xuất là loại hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: nhập khẩu để xuất khẩu hàng
đó, không qua chế biến, thu lãi tức thời. Người kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng,
bán lại hàng đó để thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch thực hiện ở ba nước: Nước
xuất khẩu, nước tái xuất, nước nhập khẩu. Giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên ở
ba nước.
3.2.5 Mua bán đối lưu.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với hoạt động nhập khẩu. Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu
về một khoản ngoại tệ mà là thu về một lượng hàng hoá khác tương đương với giá
trị của lô hàng xuất khẩu. Yêu cầu của buôn bán đối lưu là cân bằng về tổng giá trị
xuất nhập khẩu, chủng loại hàng hoá quý hiếm, giá cả. Doanh nghiệp có thể sử
dụng hình thức này để nhập khẩu nhiều loại hàng hoá mà thị trường trong nước
đang rất cần hoặc có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba.
3.2.6 Gia công quốc tế.
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một
bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt
gia công và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công).
Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến, được nhiều nước, đặc
biệt là các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng. Thông qua
hình thức này, họ vừa tạo cho người lao động có công ăn việc làm, lại vừa tiếp
nhận được công nghệ mới. Mặt khác, nước này lại không phải bỏ ra nhiều vốn và
cũng không lo về thị trường tiêu thụ.
10
Luận văn tốt nghiệp
Các nước đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng được nguồn nguyên
liệu phụ và nhân công dồi dào với giá rẻ của nước nhận gia công. Song hình thức
này cũng có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc vào nước đặt gia công
về số lượng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép về phí gia công.
4. Nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hoá.

Nghiên cứu thị trường tạo khả năng cho các nhà kinh doanh thấy được quy luật
vận động của từng hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, nguồn cung cấp
và giá cả hàng hoá đó trên thị trường, giúp họ giải quyết được các vấn đề thực tiễn
kinh doanh.
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị trường so
sánh, phân tích những thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu hướng vận động
của thị trường. Những kết luận này giúp cho nhà quản lý đưa ra được những nhận
định đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch Marketing. Nội dung chính
của nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường.
Nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai bước: Nghiên cứu khái quát và
nghiên cứu chi tiết thị trường.
Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp cho ta biết được những thông tin
về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị
trường như môi trường kinh doanh, môi trường chính trị - luật pháp, khoa học
công nghệ, môi trường văn hoá xã hội, môi trường sinh thái.
Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin về tập quán mua
bán, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi, mua hàng của người tiêu
dùng.
Nghiên cứu thị trường được tiến hành theo hai phương pháp chính: Nghiên
cứu tại bàn và nghiên cứu tại hiện trường. Nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu bằng
cách thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công khai và xử lý
các thông tin đó. Nghiên cứu tại hiện trường là việc thu thập thông tin chủ yếu
thông qua tiếp xúc trực tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập
được.
Nghiên cứu thị trường bao gồm:
1.1 Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Lựa chọn thị trường xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc lựa chọn thị
trường trong nước bởi vì các nước khác nhau có những nhu cầu, yêu cầu rất khác
nhau về mỗi loại hàng hoá. Do vậy, việc lựa chọn thị trường xuất khẩu đòi hỏi
phải tốn nhiều thời gian và công sức mới đưa ra được quyết định đúng đắn. Khi

thắng lợi hợp đồng xuất khẩu. Để lựa chọn đối tác kinh doanh người ta thường dựa
vào những căn cứ sau:
- Tình hình sản xuất, kinh doanh của đối tác để thấy được khả năng cung
cấp lâu dài.
- Quan điểm kinh doanh của đối tác trên thị trường trong nước cũng như
trên thị trường quốc tế.
- Lĩnh vực kinh doanh của đối tác.
13
Luận văn tốt nghiệp
- Khả năng tài chính và cơ sở vật chất của đối tác. Khả năng thanh toán của
đối tác trong ngắn hạn, dài hạn đảm bảo hợp đồng được thanh toán đúng thời hạn.
Nghiên cứu sức mạnh về vốn, về công nghệ của đối tác cho thấy được những ưu
thế trong thoả thuận về giá cả, điều kiện thanh toán.
- Thông tin và mối quan hệ trong kinh doanh.
2. Xây dựng kế hoạch và phương án xuất khẩu hàng hoá.
2.1 Xây dựng kế hoạch xuất khẩu hàng hoá.
Công ty cần phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ nhất
định và thống nhất với mục tiêu chiến lược. Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể đối
với toàn công ty và đối với từng bộ phận. Chẳng hạn, khi mục tiêu chiến lược của
công ty trong giai đoạn này là lợi nhuận thì mục tiêu kế hoạch chung của công ty
là phải đạt được bao nhiêu lợi nhuận trong năm…
Có thể vạch ra các mục tiêu định tính hay định lượng. Các mục tiêu định
lượng được coi là chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, bao gồm: Chỉ tiêu doanh số, chỉ
tiêu chi phí, chỉ tiêu lợi nhuận, dự trữ… Công ty cần xây dựng kế hoạch các công
việc cụ thể cần làm để hoàn thành các chỉ tiêu này.
Việc xây dựng kế hoạch xuất khẩu là điều kiện tiền đề cho việc hoàn thành
tốt chiến lược xuất khẩu và là một công việc rất cần thiết. Nó giúp công ty nắm bắt
những cơ hội và giảm thiểu rủi ro. Việc dự báo chính xác nhu cầu thị trường từ đó
xây dựng lên các kế hoạch thu mua, dự trữ… sẽ đảm bảo cho xuất khẩu thắng lợi.
2.2 Phương án xuất khẩu hàng hoá.

Đàm phán kinh doanh là bàn bạc, thoả thuận giữa hai hay nhiều bên để cùng
nhau nhất trí hay thoả hiệp giải quyết những vấn đề về kinh doanh có liên quan
đến các bên.
Đàm phán “hợp đồng kinh doanh quốc tế”: Là một loại đàm phán “hợp
đồng kinh doanh”, trong đó yếu tố quốc tế được thể hiện ở việc có ít nhất hai chủ
thể có quốc tịch khác nhau tham gia đàm phán để lập nên (ký kết) các hợp đồng
kinh doanh quốc tế.
Giao dịch đàm phán trong hoạt động xuất khẩu là một quá trình trong đó
diễn ra sự trao đổi, bàn bạc giữa doanh nghiệp ngoại thương và khách hàng nước
ngoài về các điều kiện mua bán một loại hàng hoá để đi đến thoả thuận, nhất trí
giữa hai bên.
Trong kinh doanh nói chung và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, người ta
có thể sử dụng một trong ba phương thức giao dịch, đàm phán sau:
- Giao dịch, đàm phán qua thư tín: Là phương thức được sử dụng phổ biến
trong kinh doanh. Phương thức này thường là sự khởi đầu và giúp cho việc duy trì
những giao dịch lâu dài. So với phương thức gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua thư tín
15
Luận văn tốt nghiệp
tiết kiệm được nhiều chi phí, các quyết định đưa ra thường được cân nhắc kỹ càng
và tranh thủ được nhiều ý kiến của tập thể.
- Giao dịch, đàm phán qua điện thoại: Là trao đổi bằng miệng. Trao đổi qua
điện thoại đảm bảo tính khẩn trương, đúng thời điểm cần thiết. Vì không có gì làm
bằng chứng nên phương thức này chỉ được sử dụng trong những trường hợp cần
thiết như sợ bị lỡ cơ hội kinh doanh hoặc chỉ chờ xác nhận một vài chi tiết của hợp
đồng.
- Giao dịch, đàm phán trực tiếp: Là giao dịch mà người mua và người bán
cùng thoả thuận, bàn bạc, thảo luận trực tiếp về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao
dịch, phương thức thanh toán… Phương thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải
quyết những bất đồng và nhiều khi là lối thoát duy nhất cho những cuộc đàm phán
như thư tín, điện thoại đã kéo dài quá lâu không có kết quả. Phương thức này phù

hành ký kết hợp đồng. Hợp đồng xuất khẩu là những thoả thuận về các điều kiện
mua bán hàng hoá như tên hàng, khối lượng, chất lượng, giá cả, thanh toán… giữa
doanh nghiệp xuất khẩu với khách hàng cụ thể. Về mặt pháp lý, hợp đồng xuất
khẩu là căn cứ pháp luật ràng buộc các trách nhiệm và quyền lợi của các bên. Vì
vậy, khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải xem xét lại các điều khoản
thoả thuận trước khi ký kết hợp đồng.
4. Triển khai thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
Sau khi hợp đồng xuất khẩu được ký kết doanh nghiệp cần phải tiến hành
triển khai các công việc để thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá đúng với
những điều khoản đã quy định trong hợp đồng.
Để thực hiện một hợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các
khâu công việc sau:
* Kiểm tra thư tín dụng (nếu thanh toán bằng L/C): Sau khi ký hợp đồng,
nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ mở L/C tại một ngân hàng có ngân hàng thông báo
tại Việt Nam. Bản chất của L/C là sự thoả thuận cam kết của ngân hàng với nhà
xuất khẩu. L/C độc lập với hợp đồng xuất khẩu nhưng lại dựa trên các điều khoản
17
Ký hợp đồng
xuất khẩu
Kiểm tra L/C Xin giấy phép
xuất khẩu
Chuẩn bị
hàng hoá
Uỷ thác
thuê tàu
Kiểm nghiệm
hàng hoá
Làm thủ tục
hải quan
Giao hàng lên

quá trình vận chuyển bốc xếp hàng hoá, tạo điều kiện cho việc nhận biết hàng hoá.
- Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu: Ký hiệu bằng số hay chữ, hình vẽ được ghi
ở mặt ngoài bao bì để thông báo những thông tin cần thiết cho việc nhận biết, giao
nhận, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá. Ký mã hiệu phải đảm bảo những nội dung cần
thông báo cho người nhận hàng đồng thời phải sáng sủa, rõ ràng.
* Thuê tàu: Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương việc
thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau đây: Những điều khoản
của hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải.
* Kiểm nghiệm hàng hoá: Trước khi giao hàng người xuất khẩu có nghĩa vụ
phải kiểm tra hàng về phẩm chất, số lượng, trọng lượng, bao bì… Đây là công việc
cần thiết, qua đó quyền lợi của khách hàng được bảo đảm và nâng cao uy tín của
18
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp xuất khẩu. Việc kiểm nghiệm và kiểm định được tiến hành ở hai
cấp: Kiểm tra ở cơ sở do phòng KCS tiến hành và kiểm tra ở cửa khẩu có tác dụng
kiểm tra lại kết quả kiểm tra lần trước đó.
* Làm thủ tục hải quan: Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để
xuất khẩu, nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan
gồm 3 bước chủ yếu sau đây:
- Khai báo hải quan: Chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờ khai
để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Tờ khai hải quan phải được xuất
trình kèm theo với một số chứng từ khác, mà chủ yếu là giấy phép xuất nhập khẩu,
hoá đơn, phiếu đóng gói, bảng kê chi tiết.
- Xuất trình hàng hoá: Hàng hoá xuất nhập khẩu phải được sắp xếp trật tự,
thuận tiện cho việc kiểm soát. Chủ hàng phải chịu chi phí và nhân công về việc
mở, đóng các kiện hàng.
- Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiểm soát giấy tờ hàng
hoá, hải quan sẽ ra quyết định và chủ hàng có nghĩa vụ thực hiện các quyết định
đó.
* Giao hàng lên tàu: Tuỳ theo thoả thuận về điều kiện cơ sở giao hàng mà

các căn cứ của các chứng từ kèm theo.
5. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu.
Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là rất quan trọng
và cần thiết. Qua đó, cho phép doanh nghiệp xác định được hiệu quả của mỗi hợp
đồng xuất khẩu cũng như một giai đoạn hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Nhờ các đánh giá đó doanh nghiệp sẽ có những biện pháp ứng xử phù hợp với việc
thực hiện các hợp đồng xuất khẩu tiếp theo. Hiệu quả xuất khẩu được đánh giá
thông qua hệ thống các chỉ tiêu:
5.1 Chỉ tiêu định tính.
Các tiêu chuẩn định tính là các tiêu chuẩn không thể hiện được dưới dạng
các số đo vật lý hoặc tiền tệ. Các chỉ tiêu định tính doanh nghiệp thường sử dụng
để đánh giá hiệu quả xuất khẩu là:
- Khả năng xâm nhập, mở rộng và phát triển thị trường: Kết quả của doanh
nghiệp trong việc thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu của mình trên thị trường xuất
khẩu, khả năng mở rộng sang các thị trường khác, mối quan hệ với khách hàng
nước ngoài, khả năng khai thác, nguồn hàng cho xuất khẩu… Các kết quả này
chính là những thuận lợi mà doanh nghiệp có thể khai thác để phục vụ cho quá
trình xuất khẩu tới độ thu được lợi nhuận cao, khả năng về thị trường lớn hơn.
- Kết quả về mặt xã hội: Những lợi ích mà doanh nghiệp có thể mang lại khi
thực hiện các hoạt động xuất khẩu nào đó thì cũng phải đem lại lợi ích cho đất
nước. Do vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích xã hội khi thực hiện các
20
Luận văn tốt nghiệp
hợp đồng xuất khẩu, kinh doanh những mặt hàng Nhà nước khuyến khích xuất
khẩu và không xuất khẩu những mặt hàng mà Nhà nước cấm.
5.2 Các chỉ tiêu định lượng.
5.2.1 Chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng
của doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động.

p = x 100 %
TC
Trong đó: p : Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu.
P : Lợi nhuận xuất khẩu.
TR : Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu.
TC : Tổng chi phí từ hoạt động xuất khẩu.
Nếu p > 1 thì doanh nghiệp đạt hiệu quả trong xuất khẩu.
p < 1 doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả trong xuất khẩu.
* Hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu:
Tx
Hx =
Cx
Trong đó: Hx: Hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu.
Tx: Doanh thu (bằng ngoại tệ từ việc xuất khẩu đơn vị hàng hoá, dịch
vụ (giá quốc tế)).
Cx: Tổng chi phí của việc sản xuất sản phẩm xuất khẩu, bao gồm cả
vận tải đến cảng xuất (giá trong nước).
Chỉ tiêu này cho ta biết số thu bằng ngoại tệ đối với đơn vị chi phí trong
nước.
Tổng giá thành xuất khẩu là tổng chi phí sản xuất hàng xuất khẩu, các chi
phí mua và bán xuất khẩu.
Thu ngoại tệ xuất khẩu là tổng thu nhập ngoại tệ của hàng hoá xuất khẩu
tính theo giá FOB.
Thu nhập nội tệ của hàng xuất khẩu là số ngoại tệ thu được do xuất khẩu
tính đổi ra nội tệ theo tỷ giá hiện hành.
Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu:
Thu nhập ngoại Giá thành nguyên
tệ xuất khẩu - liệu ngoại tệ
Tỷ lệ thu nhập =
Ngoại tệ XH Giá thành xuất khẩu nội tệ

Nếu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu < tỷ giá do ngân hàng Nhà nước công
bố thì nên xuất khẩu và ngược lại.
III.THỊ TRƯỜNG GỐM XÂY DỰNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GỐM XÂY DỰNG.
1.Thị trường xuất khẩu gốm xây dựng.
Theo quan niệm hiện nay, tất cả các sản phẩm gốm nào được sản xuất phục
vụ mục đích xây dựng đều thuộc phạm vi hàng gốm xây dựng. Do vậy, sản phẩm
gốm xây dựng bao gồm rất nhiều chủng loại khác nhau. Như vậy, mục đích là vật
23
Luận văn tốt nghiệp
liệu cho ngành xây dựng là yếu tố để phân biệt giữa gốm xây dựng với các sản
phẩm gốm sứ khác như gốm dân dụng hay gốm sứ mỹ nghệ. Ta có thể phân biệt
loại gốm xây dựng như sau:
- Nhóm các sản phẩm gốm cao cấp bao gồm các sản phẩm như: Sứ vệ sinh,
gạch ngói trang trí, các loại gạch ốp lát (Granite, Ceramic), các loại gạch ngói
tráng men cao cấp khác.
- Nhóm các sản phẩm gốm thô, bao gồm các loại gạch ngói xây dựng thông
dụng như: gạch xây, gạch chống nóng, gạch men rỗng, gạch chẻ, gạch lát hoa…
- Nhóm các sản phẩm gốm chuyên dụng, gồm gạch chịu lửa Chammot, gạch
chịu lửa tính kiềm, gạch sản phẩm Spinel và các loại vữa xây dựng tương ứng.
Sản phẩm gốm xây dựng có mặt trên thị trường vật liệu xây dựng ở Việt
Nam hiện nay rất đa dạng, phong phú cả về kiểu dáng, chất lượng giá thành sản
phẩm đến nguồn gốc xuất xứ. Phần lớn các sản phẩm đó đều được các đơn vị
trong nước sản xuất, bên cạnh đó còn có một lượng hàng không nhỏ được nhập
khẩu và nhập lậu vào thị trường Việt Nam.
Với nhận thức phát triển vật liệu xây dựng phải đi trước một bước nhằm đáp
ứng nhu cầu toàn xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước, ngành gốm xây dựng
đóng một vai trò quan trọng trong vật liệu xây dựng và hoàn thiện công trình.
Trong giai đoạn hiện nay, hàng loạt các khu đô thị mới được hình thành, nhà của
dân chúng cũng như các công trình cơ sở hạ tầng công cộng được xây dựng, cải

- Tình hình đầu tư các nhà máy gạch ốp lát Ceramic, Granite: Tính đến cuối
năm 2002, tổng công suất toàn ngành lên đến 110 triệu m
2
/năm. Trong tổng số 110
triệu m
2
đã và đang xây dựng, có 21 triệu m
2
gạch Granite. Về phân vùng sản
lượng tính cả các nhà máy đang xây dựng sẽ được đưa vào khai thác trong năm
2003: Ở Miền Nam chiếm 55%, Miền Bắc chiếm 30% và Miền Trung chiếm 15%.
- Về tình hình nhập khẩu gốm xây dựng. Năm 2002 cả nước nhập khẩu theo
đường hạn ngạch 1.734.725 USD gạch ốp lát từ Tây Ban Nha, Trung Quốc… và
nhập khẩu sứ vệ sinh với giá trị 1.385.657 USD (năm 2001là 1.021.472USD).
Bảng 1: Tình hình xuất nhập khẩu gốm sứ ở Việt Nam.
Đơn vị: USD
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Nhập khẩu sứ vệ sinh - 1.021.472 1.385.657
Nhập khẩu gạch ốp lát 327.740 1.736.015 1.734.725
Xuất khẩu sứ vệ sinh 1.118412 3.160.000 5.654.000
Xuất khẩu gạch ốp lát - 293.308 3.186.000
Nguồn: Tạp chí Thuỷ tinh và Gốm xây dựng số 1 năm 2003.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gốm xây dựng.
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô.
Sự thay đổi về mức độ giàu có trên thế giới đã và đang ảnh hưởng trực tiếp
đến toàn bộ giá trị hàng hoá lưu chuyển quốc tế. Tỷ lệ mậu dịch quốc tế đang có
xu hướng tăng nhanh hơn tỷ lệ tổng sản phẩm thế giới ở một thời kỳ dài. Điều này
có nghĩa là sự tương quan so sánh giữa kinh doanh và sản xuất không cố định mà
luôn thay đổi qua các thời kỳ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status