Tài liệu Đề tài " tình hình thu hút vốn đầu tư trên thị trường vốn việt nam hiện nay " - Pdf 10





Đề Tài : tình hình thu hút vốn đầu tư trên thị
trường vốn việt nam hiện nay


linh hoạt hơn , từ đó có thể đáp ứng một cách nhanh chóng những nhu cầu
khác nhau của các nhà đầu tư, đảm bảo được tính hiệu quả và thời gian cho
nhà đầu tư và những người cần vốn.
Ngoài ra , thông qua thị trường vốn thì chính phủ và địa phương có thể
huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình bằng việc phát
hành trái phiếu , công trái . Hơn nữa , nếu xét theo quan điểm kinh tế học thì
đây là hình thức có thể kiềm chế được lạm phát do không phải in thêm tiền
vào lưu thông để phục vụ cho chi tiêu của chính phủ .
Ở Việt Nam hiện nay thì vai trò này đã bắt đầu phát huy tác dụng
nhưng vẫn chưa thoả mãn nhu cầu về vốn hiện nay. Theo tính toán của các
nhà kinh tế thì tổng nhu cầu về vốn đầu tư của Việt Nam hiện nay : 258000 tỉ
đồng (năm 2004) , 300.000 tỉ đồng ( năm 2005) và khoảng từ 360.000-
2
370.000 tỉ đồng ( năm 2006) trong khi đó thì đến tháng 8/2006 chúng ta chỉ
mới huy động được một lượng rất nhỏ khoảng 8.000 tỉ đồng so với quy mô
đầu tư.
2. Thị trường vốn góp phần tạo lập cơ chế đầu tư hợp lý,
thúc đẩy quá trình sử dụng vốn một cách hợp lý.
Thị trường vốn là kênh huy động vốn theo tín hiệu cơ chế thị trường , là
van điều tiết hữu hiệu các khoản vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn , từ nơi sử
dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam hiện nay và liên tục
trong nhiều năm liền đã làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của Việt Nam
lên một trang mới, một tầm cao hơn.
Theo các chuyên gia, các nhà quản lý của các tổ chức quỹ đầu tư hàng
đầu thế giới nhận xét thì việc khả năng huy động vốn đầu tư của nước ngoài là
rất tốt và có triển vọng tăng cao hơn trong các năm tiếp theo.
Bà Johanna Chua, Giám đốc phân tích kinh tế và thị trường các nước
đang phát triển ở châu Á thuộc Ban phụ trách thị trường toàn cầu châu Á của
Citigroup nói việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 sẽ khuyến khích

tư trong nước cũng như ngoài nước.
Một khu vực tiềm tàng nữa mà có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài, đó chính là khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư
nhân. Hiện nay, có tới 97% của hơn 230.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động
tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân rất
năng động và phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một bộ phận quan trọng của
nền kinh tế.
Trong số đó, có một số không ít doanh nghiệp khẳng định được vị trí
của mình và đang trở thành những thương hiệu mạnh của Việt Nam. Tương
lai phát triển của các doanh nghiệp này càng trở nên rõ ràng hơn sau khi
Chính phủ ban hành hai bộ luật mới, đó là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
4
Ngoài các doanh nghiệp tư nhân và thuộc sở hữu Nhà nước, những
công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán cũng đang là những đầu mối
hút vốn gián tiếp quan trọng. thị trường chứng khoán Việt Nam cũng bắt đầu
có những sự khởi sắc nhất định trong giai đoạn vừa qua.
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 41 công ty niêm yết tại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng
7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất
7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng
ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
Sự phát triển chung của cả nền kinh tế cùng những cải cách mạnh mẽ
về thể chế và khuôn khổ pháp lý trong nỗ lực gia nhập WTO đã được các nhà
đầu tư nước ngoài chú ý.
4. Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế

của đất nước ta, để có thể phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực của đất
nước.Và, cũng từ đó thì thị trường vốn cũng dần dần mở cửa khi chúng ta hội
nhập kinh tế thế giới.
6
Thị trường vốn của nước ta trong những năm qua có sự phát triển mạnh
mẽ vượt bậc so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể thấy rất rõ
trên thị trường vốn quốc tế. Mặc dù, thị trường vốn của ta còn non trẻ nhưng
bước đầu khi hội nhập kinh tế thế giới đã khẳng định được vai trò của mình
trên trường quốc tế.
Hiếm thấy lần phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được
thành công như của Việt Nam" là nhận định được nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đưa ra. Bằng chứng là ngay ngày đầu tiên tại Hong Kong (19.10), số
lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái
phiếu Chính phủ Việt Nam định phát hành. Đến ngày 26.10, sau khi Chính
phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, số lượng các
nhà đầu tư đặt mua đã tăng lên tới hơn gấp 3 lần từ mức trên 1 tỷ USD lên
khoảng 3 tỷ USD. Ngày định giá trái phiếu, 29/10, số lượng các nhà đầu tư
đặt mua đã lên tới con số kỷ lục 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6 lần mức Chính phủ
Việt Nam phát hành trong đợt này. Đặc biệt, có ngân hàng của Malaysia còn
dùng cả tiền dự trữ để tham gia mua 50 triệu USD. Điều này chứng tỏ, sức hút
mạnh mẽ của trái phiếu Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế.
Ngoài ra thì cùng với tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế Việt
Nam, tình hình hoạt động kinh doanh của phần lớn công ty niêm yết (CTNY)
đều đạt những kết quả khả quan. Các công ty lớn trên thị trường như REE,
Gemadept, Sacom … đều hoàn thành kế hoạch lợi nhuận trong năm. Một số
công ty như Khahomex, Hacisco… cũng đã thành công trong việc phát hành
thêm cổ phiếu để huy động vốn cho các dự án đầu tư mới. Bên cạnh đó, nhờ
thị trường khởi sắc hơn và tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn
ra mạnh mẽ hơn nên hoạt động của các công ty chứng khoán cũng đa dạng
hơn và phần lớn đều đạt hiệu quả cao hơn mọi năm.

Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng
8
7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất
7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng
ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
6. Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính
sách kinh tế vi mô.
Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị
trường chứng khoán như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, của chính phủ và địa phương tạo
thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế.
Thị trường vốn hoạt động dựa theo những tín hiệu của thị trường như
lãi suất , hệ số tín nhiệm, độ rủi ro. Thị trường vốn như một cái van điều tiết
của nền kinh tế, điều tiết từ nơi sử dụng vốn không hiệu quả sang đến nơi sử
dụng vốn có hiệu quả hơn, từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Do đó thị
trường vốn đã góp phần giúp chính phủ và các tổ chức tài chính điều tiết cho
nền kinh tế.
Thông qua thị trường vốn, chính phủ và các địa phương có thể huy
động vốn cho các dự án đầu tư vào các công trình của mình hoặc huy động
vốn cho ngân sách bằng việc phát hành các loại công cụ nợ như trái phiếu,
công trái… nhìn từ thực tế ta thấy đây là hình thức huy động vốn rất tích cực,
nó góp phần vào việc kiềm chế lạm phát do không phải phát hành thêm tiền
vào lưu thông nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu .
Thực tế đã chính minh điều đó rất rõ, từ khi xuất hiện thị trường vốn thì

10
vốn hơn. Chẳng hạn như : Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/1/2005 của
Chính phủ về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài giúp Chính phủ xây
dựng một cơ chế quản lý nợ an toàn, hiệu quả, thống nhất, và mang tính
chuyên nghiệp; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở đảm bảo
sự nhất quán và đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành, đảm bảo
sự không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận nguồn vốn
của Chính phủ. Đạt được mục tiêu giám sát có hiệu quả hơn các nghĩa vụ dự
phòng và rủi ro tiềm ẩn đối với ngân sách Nhà nước và dự trữ ngoại tệ quốc
gia. Đồng thời tiến dần tới áp dụng các thông lệ được quốc tế thừa nhận rộng
rãi, nhằm hỗ trợ quá trình hội nhập kinh tế-tài chính khu vực và quốc tế của
nước ta. Môi trường đầu tư được cải thiện thông qua việc đổi mới chính sách
theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc ban hành Luật
Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất tạo sân chơi bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp. Việc theo dõi, thu thập, xử lý thông tin quản lý đảm bảo
thường xuyên, kịp thời đối với mọi hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý. Quy
trình huy động, đàm phán ký kết các Hiệp định vay, thủ tục giải ngân, thanh
toán, thu hồi vốn, trả nợ từ nguồn vốn nước ngoài đã được cải tiến theo hướng
giảm bớt thủ tục, thời gian và từng bước hài hoà với thông lệ quốc tế. Việc bố
trí sử dụng vốn đã được quy định một cách rõ ràng, trong đó xác định rõ
những loại dự án nào được ngân sách Nhà nước cấp, dự án phải vay lại, đồng
thời tăng thêm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc vay vốn thương
mại nước ngoài của các doanh nghiệp, gắn trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả,
tạo ra khả năng trả nợ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay và
viện trợ nước ngoài
Đối với các doanh nghiệp thì thị trường vốn là một căn cứ rất quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp, nhất là với các công ty cổ
phần , các công ty trách nhiệm hữu hạn có quy mô vốn hầu hết là vừa và nhỏ.
Để tăng quy mô sản xuất thì các doanh nghiệp cần phải áp dụng nhiều biện
pháp khác nhau,và một trong những yếu tố là cần phải tăng quy mô vốn để

lên đến hàng chục tỉ đô la Mỹ, và số tiền này chưa được đưa vào đầu tư, tuy
nhiên vẫn không thể so với nguồn vốn dồi dào từ các nhà đầu tư nước ngoài
của quốc tế nằm ở mức hơn hàng trăm tỷ USD vẫn còn chờ nơi để đầu tư chủ
yếu thông qua các định chế tài chính (financial institutions) và công ty quản lý
quỹ (fund managers).
Thị trường của Việt Nam hiện nay chủ yếu là sân chơi của các nhà đầu
tư nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm phân tích, mua bán nên thị trường thường xoay
chuyển theo “cảm xúc” và những tin đồn, nhưng khi các nhà đầu tư chuyên
nghiệp gồm các định chế tài chính và công ty quản lý quỹ bước vào, với các
công cụ phân tích chuyên nghiệp, thị trường sẽ hoạt động một cách bài bản
hơn, và có động lực mua bán nhiều hơn.
Số lượng các công ty quản lý quỹ hiện nay tại Việt Nam còn ít và đa số
là các đại gia của nước ngoài, có khả năng khống chế lớn hoạt động mua bán.
Vì sao? Hiện nay, thủ tục gia nhập thị trường vốn Việt Nam khá phức tạp, đặc
biệt là khâu xin Mã Giao Dịch (Trading Code). Đối với cá nhân thì công việc
này không có gì quá phức tạp, nhưng đối với các định chế tài chính thì tốn
khá nhiều thời gian. Nhận thức được vấn đề này, chúng tôi đã làm công việc
này giúp cho các nhà đầu tư nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn cho họ khi đến
Việt Nam kinh doanh. Thiết nghĩ, đây cũng là phương thức tốt để tạo môi
trường với nhiều người bán, người mua. Và trên hết, tạo thuận lợi, cạnh tranh
công bằng cho các quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam.
2. Thị trường vốn đầu tư gián tiếp
Theo các chuyên gia về lĩnh vực đầu tư và tài chính nước ngoài thì thị
trường vốn đầu tư gián tiếp của Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng.
Cùng với việc tăng trưởng GDP của Việt Nam và có thể duy trì ở mức
8%/năm trong năm năm tới, thậm chí còn có thể nhanh hơn nếu có chính sách
cởi mở, thông thoáng hơn. Thì việc các nhà đầu tư nước ngoài chấp nhận trái
phiếu quốc tế VN cũng là một tín hiệu tốt cho lĩnh vực đầu tư gián tiếp vào
VN.
13

tham gia vào các dự án bất động sản”.
Ngoài VinaLand, VinaCapital đang nỗ lực giải ngân nốt số tiền còn lại
chừng 50 triệu đô la Mỹ trong tổng số 171 triệu đô la Mỹ của Quỹ Vietnam
Opportunities Fund (VOF). Hướng đầu tư chính của VOF tiếp tục là cổ phiếu
OTC và địa ốc
VinaCapital không giấu tham vọng đặt chân vào các công trình giao
thông, cầu đường, bãi đậu xe bằng một quỹ chuyên đầu tư cho cơ sở hạ tầng
đang được gọi vốn. Công ty cũng có ý định năm sau sẽ khai sinh một quỹ mới
là Technology Fund để đầu tư vào các dự án công nghệ cao.
Không phải chỉ có VinaCapital nhận ra cơ hội đầu tư tài chính ở Việt
Nam đang bùng nổ. Dragon Capital, công ty quản lý quỹ có thâm niên nhất ở
Việt Nam, vừa nhận quản lý thêm một quỹ mới, Vietnam Dragon Fund, với
số vốn 35 triệu Đôla Mỹ.
Đây là quỹ thứ ba của Dragon Capital, cùng với hai quỹ khác là VEIL
(vốn 190 triệu đô la Mỹ) và Vietnam Growth Fund (90 triệu Đôla Mỹ). Công
ty Quản lý quỹ MekongCapital đã đầu tư gần hết số vốn 18,5 triệu Đôla Mỹ
của Mekong Enterprise Fund vào các doanh nghiệp cổ phần và tháng 5 này sẽ
ra mắt một quỹ mới với số tiền 40 triệu Đôla Mỹ.
Indochina cũng không đứng ngoài cuộc đua đầu tư gián tiếp khi họ
đang có trong tay hai quỹ, một địa ốc với 42 triệu đô la Mỹ và một quỹ chứng
khoán với 50 triệu Đôla Mỹ. Quỹ đầu tư Phan-xi-phăng (PXP) đã “đổ” 93%
của số tiền 25,8 triệu Đôla Mỹ vào 23 công ty niêm yết và chưa niêm yết,
đồng thời dự kiến phát hành thêm 3,5 triệu cổ phiếu để tăng vốn trong quí 2
năm nay.
Quỹ Finansa vốn 18 triệu Đôla Mỹ với những cổ đông chính như
Propaco (Pháp) và DIG (Đức) mới hình thành từ tháng 8/2005, nhưng cũng đã
đầu tư thành công vào một số doanh nghiệp nhỏ và vừa. Danh sách các quỹ
đầu tư nước ngoài sẽ dài thêm khi mà thời điểm họ gõ cửa Việt Nam được dự
15
báo là năm 2006 này. Trong số này, đáng chú ý là sự quay trở lại của Quỹ

lần này đã mở đường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trực tiếp huy
động nguồn vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư
phát triển kinh tế”.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế trên thế giới thì số lượng các
nhà đầu tư quốc tế tham gia mua trái phiếu đạt mức kỷ lục trên thị trường vốn
trong nhiều năm lại đây (lên tới 255 nhà đầu tư lớn). Các nhà đầu tư tham gia
mua trái phiếu của Chính phủ Việt Nam đều là những nhà đầu tư lớn, có uy
tín trên thị trường tài chính quốc tế. Điều đặc biệt là số trái phiếu này được
phát hành rộng khắp trên thế giới đó là Châu Á nắm 38%, Châu Âu nắm 32%
và Mỹ là 30%.
Sự đón nhận nhiệt tình đến bất ngờ đó được nhận định là do nhiều
nguyên nhân từ chính Việt Nam. Thứ nhất, các nhà đầu tư quốc tế tin tưởng
vào tương lai sáng sủa của nền kinh tế Việt Nam sau khi chứng kiến hơn 10
năm đổi mới vừa qua. Đến nay, hầu như toàn thế giới biết đến công cuộc cải
cách đổi mới ở Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam là một trong những ví dụ thành
công nhất về chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại, đổi mới làm thay đổi
gần như tất cả mọi mặt của cuộc sống kinh tế. Với chính sách đổi mới mở ra
nhiều phương thức tổ chức và quản lý kinh tế mới mẻ, góp phần cải thiện đời
sống; tạo ra nguồn động lực sáng tạo cho hàng triệu người Việt Nam có dịp sử
dụng một cách hiệu quả tiềm năng của mình.
Về cơ bản, kinh tế của Việt Nam đã được công nhận là đổi mới:
Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN; Từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng
XHCN; Chuyển một nền kinh tế khép kín, nhập khẩu là chủ yếu sang nền
kinh tế mở, chủ động hội nhập, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế
nhập khẩu những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế và có hiệu quả.

Thứ hai, các nhà đầu tư tỏ ra lạc quan với việc Việt Nam được coi là nền
17
kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thứ hai châu Á, chỉ sau Trung

động có duy nhất Công ty cổ phần giấy Hải Phòng (HAPACO) phát hành
thêm 01 triệu cổ phiếu mới (tương dương với số vốn 35 tỷ đồng) để huy động
vốn cho dự án giấy kraf.
Ngoài ra , khi nói đến thị trường sơ cấp không thể không nói đến vai trò
của các ngân hàng thương mại.
các ngân hàng thương mại đảm nhiệm vai trò trong việc bảo lãnh phát
hành chứng khoán cho đơn vị phát hành. Tuy nhiên tại Việt Nam, bảo lãnh
phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với trái phiếu Chính phủ. Với độ
tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các ngân hàng thương mại có ưu
thế lớn khi tham gia bảo lãnh phát hành.
Để phát triển thị trường sơ cấp nói riêng và thị trường chứng khoán nói
chung thì chính phủ đang có đề án phát triển thị trường sơ cấp thông qua việc
phát hành trái phiếu chính phủ. Đến ngày 30/6/2003 nếu tính cả vốn huy động
ngân sách Nhà nước thông qua dấu thầu và bảo lãnh phát hành, đã có 5.400 tỷ
đồng trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Quỹ hỗ trợ phát triển niêm yết trên thị
trường. Có 5 Công ty niêm yết phát hành thêm cố phiếu mới để mở rộng sản
xuất kinh doanh, tăng vốn điều lệ với tổng vốn tăng thêm 155,4 tỷ đồng.
Như vậy, ở thị trường chứng khoán của Việt Nam hiện nay chưa thực
sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, nó chỉ mới
đáp ứng một phần rất nhỏ trong tổng quy mô vốn đầu tư của cả nước.
4.2 Thị trường thứ cấp
Nếu thị trường sơ cấp là nơi kênh huy động vốn trung và dài hạn cho
nền kinh tế thì thị trường thứ cấp là nơi thu hút các nhà đầu tư mua bán lại
chứng khoán đó từ đó nâng cao tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
được giao dịch.
Ở thị trường thứ cấp của Việt Nam thì Thị trường thứ cấp lại hoạt động
trầm lắng, kém sôi động, tính thanh khoản của thị trường không cao là nguyên
nhân sâu xa dẫn đến hoạt động yếu kém của thị trường sơ cấp trong thời gian
19
gần đây. Nguyên nhân là do việc công bố thông tin của các doanh nghiệp

5. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường.
5.1 Thị trường cổ phiếu.
Người ta có thể có hàng trăm cách để đầu tư, muốn chọn được cách tốt
nhất thì nhà đầu tư trước hết phải tìm được thông tin cơ bản về các công cụ tài
chính mà họ đang xem xét. Trong thị trường chứng khoán thì cổ phiếu là công
cụ tài chính thường được sử dụng nhất , thường được buôn bán nhiều nhất do
tính đại chúng và lượng thông tin nhiều, được phổ biến rộng rãi.
Đối với các doanh nghiệp ,các công ty thì việc phát hành cổ phiếu có
lợi hơn là việc phát hành các chứng chỉ nợ. Vì công ty nắm giữ tiền mà không
phải trả lãi theo thời hạn định, đối với việc mua cổ phiếu các cổ đông được
nắm giữ cổ phiếu trong công ty, có nghĩa là các cổ đông mới sẽ được chia
quyền sở hữu đối với các cổ đông đầu tiên.
Cổ phiếu là một chứng thư, chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông
đối với một công ty cổ phần, hay cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư
vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần. Các cổ đông không phải là chủ
nợ của công ty mà là người hùn vốn cùng công ty hoạt động , là người chủ sở
hữu một phần của công ty. Cổ phiếu có thể có nhiều loại tuỳ thuộc vào đơn vị
phát hành như : cổ phiếu ưu đãi , cổ phiếu biểu quyết , cổ phiếu phổ thông …
Thứ nhất : Thị trường chứng khoán của Việt Nam mặc dù còn non trẻ
nhưng cũng đã góp phần rất lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Và được các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và được coi là thị trường
đầy tiềm năng. Bên cạnh đó thì chính phủ Việt Nam cũng đã và đang rất quan
tâm đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính phủ đã có các nghị quyết và chủ trương liên quan đến chiến lược
phát triển của toàn ngành chứng khoán, đẩy mạnh hơn nữa tiến trình cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nước đi đôi với phát triển thị trường chứng khoán. Uỷ
21
ban Chứng khoán Nhà nước được chuyển giao về Bộ Tài chính nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.
Những yếu tố trên đã khiến thị trường cổ phiếu sau một thời gian dài rơi

Một số công ty như Khahomex, Hacisco… cũng đã thành công trong việc
phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn cho các dự án đầu tư mới. Bên cạnh
đó, nhờ thị trường khởi sắc hơn và tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp
nhà nước diễn ra mạnh mẽ hơn nên hoạt động của các công ty chứng khoán
cũng đa dạng hơn và phần lớn đều đạt hiệu quả cao hơn mọi năm.
Năm nay cũng chứng kiến sự tham gia mạnh mẽ hơn của các quỹ đầu tư
chứng khoán như VEIL, PXP Fund, VF1 và các tổ chức đầu tư khác vào thị
trường chứng khoán Việt Nam. Nhờ sự tham gia của các tổ chức này mà thị
trường chứng khoán đã có sự ổn định cần thiết trong một số giai đoạn.
Thứ ba : Làn sóng tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ
phần . Vấn đề tăng cường nội lực tài chính. Sức mạnh từ nội lực sẽ là nguồn
gốc để tăng trưởng một cách bền vững chứ không dựa vào nguồn lực từ bên
ngoài .Do đó để phát triển thị trường chứng khoán nói chung thì cần phải tăng
cường nội lực, củng cố năng lực tài chính một cách vững mạnh. Hiện tại ,
theo ước tính cả nước ta có khoảng 34 ngân hàng thương mại cổ phần đang
hoạt động. Hầu hết là những ngân hàng có tiềm lực tài chính vừa và nhỏ so
với quy mô của thế giới, cho nên hầu hết các ngân hàng này đang thực hiện
chính sách thắt lưng buộc bụng để tăng vốn điều lệ, nhất là trong hai năm gần
đây. Nhờ có hệ số an toàn về vốn ngày càng tăng cao nên khả năng đáp ứng
những khoản vay lớn cũng như các dịch vụ hiện đại cho đông đảo khách
hàng. Một số đơn vị đã thành công với chiến lược tăng vốn của mình và trở
thành những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu, như: Sacombank hiện
có 505 tỷ đồng; ACB với 423,9 tỷ đồng. Kế đến là NHCP Xuất Nhập khẩu
với 300 tỷ đồng, ngân hàng quân đội 280 tỉ , ngân hàng VIB 180 tỉ .Các ngân
hàng đã thực hiện tăng vốn, mở rộng quy mô hoạt động; chuẩn bị cho thời kỳ
hội nhập với các tổ chức thương mại quốc tế và thực hiện cam kết Hiệp định
23
thương mại Việt - Mỹ; theo đó, ngân hàng sẽ phải đối đầu với những cạnh
tranh gay gắt.


trời, đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả và đem lại nhiều lợi nhuận cho các cổ
đông nhất. Vấn đề là làm sao khi mở rộng quy mô phải đảm bảo chất lượng
nguồn nhân lực để không ảnh hưởng tới khả năng phục vụ khách hàng, đồng
thời bài toán duy trì tỷ lệ cổ tức cao cũng là yêu cầu không hề dễ đối với ban
điều hành
Thứ tư : Quá trình nhảy vào của các ngân hàng nước ngoài vào thị
trường vốn ở Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước đã quyết định mức sở hữu tối đa của các nhà đầu
tư nước ngoài tại ngân hàng cổ phần trong nước là 30%, dự thảo Nghị định về
tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng trong nước do
NHNN soạn thảo đã được trình Chính phủ. Cho dù như vậy, các ngân hàng
nước ngoài dường như vẫn sẵn sàng cho một đợt tăng số tiền góp vốn trong
các ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các cổ đông chiến lược nước ngoài tới
đây sẽ được sở hữu tới 20% cổ phần tại một ngân hàng Việt Nam.
Mới đây, một số hãng thông tấn nước ngoài đã đưa tin về việc HSBC
và ANZ đã sẵn sàng tăng thêm vốn tại Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam
(Techcombank) và Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank). Cả hai ngân
hàng nước ngoài này đều là các cổ đông chiến lược tại các ngân hàng mà họ
đầu tư. Trong năm 2005, HSBC (ngân hàng lớn nhất châu Âu) và ANZ (ngân
hàng cung cấp tín dụng lớn thứ 3 tại Australia) đã bỏ ra tương ứng 17,3 triệu
USD và 27 triệu USD để mua 10% cổ phần tại Techcombank và Sacombank.
Theo tin đưa ra thì Đại hội cổ đông Techcombank đã thông qua Nghị
quyết có điểm cho phép bán thêm 10% cổ phần cho HSBC khi Nhà nước cho
phép mở room lên 20% đối với cổ đông chiến lược nước ngoài. Trả lời Báo
Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc Techcombank
đã xác nhận thông tin này. Theo ông Vinh, việc bán thêm 10% cổ phần cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status