Tài liệu Các giai đoạn trong quá trình phát sinh loài người - Pdf 10

Các giai đoạn trong quá trình
phát sinh loài người

vài triệu năm và đã trải qua các giai đoạn
chính sau đây:
Vượn người hoá thạch:
+ Parapitec là vượn người cổ nhất:
Người tối cổ (người vượn) gồm:
Read More
+ Pitêcantrop
+ Xinantrop
+ Hayđenbec
- Người cổ Nêandectan
- Người hiện đại Cromanhon.

Hình 23: Vượn - Thuỷ tổ của loài người
A. Rhesus monkey
B. Chimpanzee
1. Một số phát hiện mới về nguồn gốc
loài người ở Đông Phi
Nhiều phát hiện mới ở Đông Phi đã làm
cho người ta phải thay đổi nhận thức về
giai đoạn chuyển tiếp từ con vượn sang
con người, nghĩa là từ ostralopitec đến
pitecantrop.
Phát hiện của Louis Leakey (1960) ở
Onduvai, phía Bắc Tanzania cho thấy
những di cốt mà tác giả gọi là Homo
habilis có tuổi địa chất là 1,85 - 2 triệu
năm. Thể tích não Homo habilis lớn hơn
ostralopitec, nhưng bé hơn pitecantrop.

triệu năm về trước, nghĩa là khoảng cuối
thế kỷ thứ ba như Ch. R. Darwin đã tiên
đoán.
2. Giả thuyết của Machusin về nguồn gốc
loài người
Machusin (1982) giải thích rằng quá
trình đột biến do phóng xạ tự nhiên ở
vùng Đông Phi vào cuối kỷ Plioxen đã
làm xuất hiện dáng đi thẳng của vượn
người hoá thạch, tăng thể tích bộ não và
một số biến đổi khác. Để có thể tồn tại
trước hoàn cảnh sống khó khăn, tổ tiên
loài người bắt buộc phải chuyển sang
hoạt động lao động có hệ thống. Theo
Machusin sự biến đổi có ý nghĩa sinh học
trên cơ sở vượn người hoá thạch (tổ tiên
của loài người) xảy ra bởi các đột biến do
phóng xạ tự nhiên sinh ra từ các kẽ nứt
của vỏ trái đất, núi lửa, động đất và sự
đảo cực địa từ. Những tác nhân này làm
tăng dần số đột biến, tăng áp lực chọn lọc
tự nhiên, do đó tăng tốc độ cải biến
genotyte của các nhóm vượn người hoá
thạch, và điều đó đã xảy ra do đột biến số
lượng NST từ chỗ 48 NST ở vượn người
giảm xuống còn 46 NST ở người, kèm
theo những biến đổi về cấu trúc đã đưa
đến những biến đổi về thể chất và tiềm
năng trí tuệ của loài người.
Cần lưu ý rằng, giả thiết của Machusin

thai vượn. Quê hương của hoá thạch
Australopitecus (tổ tiên của con người)
và Homo Habilis (những con người đầu
tiên) là ở Nam và Đông Phi, cũng chính
là nơi có những vỉa quặng Urani dầy nhất
thế giới có nhiêu Macma phóng xạ và
sự hoạt động mạnh mẽ của núi lửa làm
tăng bức xạ tự nhiên ở khu vực này.
Cần nói rằng điều kiện quyết định cho
quá trình hình thành loài người là lao
động và "sức mạnh của bầu trời".
Những quan sát thiên văn học vào giữa
thế kỷ XIX cho phép xác nhận sự hình
thành các vệt đen trên mặt trời - là một
quá trình rất phức tạp và xảy ra theo chu
kỳ trung bình 11, thực tế chu kỳ ấy từ 7 -
17. Ngoài ra, một số nhà thiên văn còn
cho rằng có các chu kỳ 22, 33, 72, 266
năm và
Lần đầu tiên, A.L. Trygiopxky - người
sáng lập môn sinh học Nhật xa
(heliobiology) đã xác lập biểu đồ của các
vụ nổ trên mặt trời đến sản lượng cây
trồng, sự ra hoa của thực vật, sự sinh sản
và di cư của côn trùng, chim cá Người
ta giải thích rằng sự hoạt động của các
axit nucleic là cơ sở cho cơ chế đồng hồ
sinh học.
Sự biến đổi của từ trường trái đất và sóng
điện từ mặt trời đều có ảnh hưởng tới con

trình đột biến của họ người sống ở đó. Tổ
tiên con người đã biến đổi do kết quả đột
biến và mất khả năng tồn tại bình
thường và buộc phải chuyển sang sử
dụng có hệ thống các công cụ và chế tạo
công cụ. Những kết quả biến đổi các đặc
tính di truyền của họ người là do những
đột biến lớn và tổ tiên con người chỉ có
một con đường duy nhất khỏi bị diệt
vong là hoạt động xã hội và lao động.
Như đã biết có khả năng nhiều nguyên
nhân và là những nguyên nhân quan
trọng có thể gây nên sự sắp xếp lại bộ
máy di truyền của tổ tiên con người,
trong đó có sự kết dính các NST. Thực
nghiệm đã chứng minh rằng bức xạ có
thể gây nên sự giảm số lượng NST do
chúng kết dính lại với nhau. Có thể sự
kết dính các NST (từ 48 còn 46 NST) là
nguyên nhân của những biến đổi có tính
chất di truyền của tổ tiên con người.
Đến nay cũng chưa thể xác định chính
xác thời điểm bắt đầu của các biến đổi
sinh học ở tổ tiên con người,nhưng kết
quả của các quá trình đó thì đã biết rõ.
Australopitecus là tổ tiên trực tiếp và
cũng là con người sơ khai. Nó tồn tại
trong khoảng thời gian từ 5,5 đến một
triệu năm trước đây. Thời gian chuyển
một bộ phận của dòng Australopitecus

khoảng 400.000 năm trước đây.
- Người cận đại (Homo sapiens) xuất
hiện trong khoảng 300.000 đến 150.000
năm trước đây.
- Người hiện đại (Homo sapiens sapiens)
xuất hiện cách đây khoảng 40.000 đến
35.000 năm.
Đến nay các cuộc khai quật vẫn đang tiếp
diễn cung cấp thêm nhiều số liệu mới, cụ
thể hơn về nguồn gốc và quá trình phát
sinh loài người. Tuy vậy nghiên cứu
nguồn gốc loài người gặp phải 2 khó
khăn lớn: (1) Việc xác định niên đại hoá
thạch phụ thuộc các phương pháp đo
đồng vị phóng xạ, do đó các kết quả có
sai khác nhau; (2) Số mẫu vật thu nhận
được còn quá ít nên có thể nhầm lẫn
xương con đực và con cái khác nhau lại
được xem là 2 loài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status