CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: Chất lượng tín dụng ngân hàng, hiện
trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
tín dụng tại NHTMCP Eximbank Hà Nội
2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Eximbank Hà Nội 31
3. Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại về chất lượng tín dụng 43
3.1. Nguyên nhân bên ngoài 43
3.2. Nguyên nhân bên trong 45
Chương III. những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tín dụng eximbank Hà
Nội 48
1. Quan điểm và định hướng nâng cao chất lượng tín dụng 48
1.1. Quan điểm nâng cao chất lượng tín dụng 48
1.2. Mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trong thời gian tới .49 2
1.3. Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng 50
2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Eximbank Hà Nội 51
2.1. Giải pháp xây dựng và sử dụng quỹ bù đắp rủi ro cho hoạt động tín
dụng 51
2.2. Củng cố công tác mạng lưới và khoán tài chính đến nhóm và người
lao động 52
2.3. Nâng cao chất lượng nghiệp vụ đánh giá khách hàng để có biện pháp
đầu tư tín dụng thích hợp 54
2.4. Thiết lập mối quan hệ tốt và bền lâu với khách hàng 56
2.5. Tăng cường công tác quản lý nợ và giải quyết nợ quá hạn 58
2.6. Từng bước quy chuẩn đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ 62
3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý 64
3.1. Đối với Chính phủ 64
3.2. Đối với NHNN 65
3.3. Đối với Eximbank Việt Nam 66
Kết luận 68
Tài liệu tham khảo 69
trường chưa ổn định, do vậy tình hình đặt ra đối với các ngân hàng Thương
mại Cổ phần cũng không nằm ngoài bối cảnh trên. Ngoài ra, trong quá trình 4
hoạt động với đặc tính riêng có của mình, các NHTMCP đã có những phát
huy nhất định đóng góp vào sự nghiệp xây dựng chung của đất nước, tuy
nhiên, bên cạnh những mặt được, đã bộc lộ những mặt hạn chế. Từ những lí
do thực tế trên, cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo ân cần của thầy Nguyễn
Quang Ninh, tập thể cán bộ của NHTMCP Eximbank em đã mạnh dạn chọn
đề tài: “Chất lượng tín dụng ngân hàng, hiện trạng và giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng tại NHTMCP Eximbank Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu và đánh giá chất lượng tín dụng, thực trạng hoạt động kinh
doanh tín dụng của NHTMCP trong nền kinh tế thị trường.
- Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng tín dụng từ đó
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của khối các NHTMCP.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu chủ yếu về chất lượng tín dụng và những vấn đề
tồn tại của nó tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, phân
tích tổng hợp, hệ thống hoá lý luận…
5. Kết quả và những vấn đề mới của luận văn:
- Nêu được tổng quan về tín dụng ngân hàng, chất lượng trong hoạt động
tín dụng của NHTM.
- Nghiên cứu, hệ thống hoá các biện pháp có thể áp dụng tại Việt Nam
trong việc nâng cao chất lượng tín dụng.
- Một số kiến nghị với Chính phủ, NHNN, Eximbank với mục đích nâng
cao chất lượng tín dụng.
1.2. Vai trò tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong cơ chế thị
trường hiện nay. Điều đó được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
* Tín dụng Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa
sử dụng trong tất cả các thành phần kinh tế để cho các doanh nghiệp và cá
nhân vay vốn góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Tín dụng Ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người
thừa vốn và người thiếu vốn. Nó đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn góp phần 6
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong quá trình hoạt động đó, Ngân hàng thu
được lợi tức cho vay để duy trì và phát triển hoạt động của chính Ngân hàng.
Tuy vậy trong cơ chế thị trường hiện nay, huy động và cho vay bao
nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, thu
hồi vốn có đúng hạn không là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động
tín dụng của Ngân hàng. Bởi vì nếu đầu tư tín dụng không có hiệu quả, không
thu hồi được nợ thì Ngân hàng sẽ lỗ và đi đến phá sản. Do vậy, mỗi Ngân
hàng trong môi trường cạnh tranh phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải
tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiềm tàng với chi
phí rẻ trong nền kinh tế để kinh doanh tín dụng có hiệu quả. Có thể nói, trong
nền kinh tế thị trường, tín dụng Ngân hàng góp phần vào quá trình vận động
liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong xã hội và góp
phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng của nền kinh tế.
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ
giao lưu kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của
một nước luôn phải gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới. Sự hợp tác
hoá bình đẳng cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang
được phát triển mạnh mẽ. Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh
xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác quốc tế thông dụng và phổ
quan chức năng phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt
chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người vay và người cho vay.
2. Chất lượng tín dụng - nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
2.1. Chất lượng tín dụng
* Khái niệm:
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi
tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự
tồn tại, phát triển của Ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo 8
đảm từ hai phía là Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng hoạt động
của Ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân của Ngân hàng mà còn
phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. * Chất lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử
dụng của khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút
được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu
thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng
trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết
tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.
- Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng
phải phù hợp với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh
tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Như vậy chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ
tiêu tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừu tượng (thể
Ta biết rằng chất lượng hoạt động tín dụng có ý nghĩa rất to lớn đối với
sự tồn tại và phát triển của các NHTM và của toàn xã hội. Để quản lý chất
lượng tín dụng đồng bộ, đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của các nhân tố ảnh
hưởng chính, đó là các nhân tố: kinh tế, xã hội, pháp lý
* Nhân tố kinh tế:
Điều kiện kinh tế của khu vực mà Ngân hàng phục vụ ảnh hưởng lớn tới
chất lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
các khoản tín dụng có chất lượng cao, còn nền kinh tế không ổn định thì các
yếu tố lạm phát, khủng hoảng sẽ làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả
nợ vay biến động lớn làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nợ khi cho vay của
Ngân hàng.
Giới hạn của mở rộng qui mô tín dụng có ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng. Nếu mở rộng tín dụng quá giới hạn cho phép sẽ làm cho giá cả tăng quá
mức, xảy ra lạm phát tốc độ cao, các NHTM sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng tiền 10
mất giá, chất lượng tín dụng bị giảm thấp. Ngoài ra, chính sách kinh tế của
nhà nước điều tiết để ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một
lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng.
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng.
Trong thời kỳ đình trệ sản xuất - kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động tín dụng
gặp nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực. Nhu cầu vốn tín dụng giảm trong
thời kỳ này và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện cũng khó có thể sử dụng
có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Ngược lại, thời kỳ hưng
thịnh, nhu cầu vốn tín dụng tăng rủi ro tín dụng có ít đi, nhưng cũng không
loại trừ trường hợp do chạy đua trong sản xuất kinh doanh, nạn đầu cơ tích
trữ, làm cho nhu cầu vốn tín dụng lên quá cao và có nhiều khoản tín dụng
được thực hiện. Những khoản này cũng có thể khó được hoàn trả nếu sự phát
nên góp phần quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng của
Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm
phát có kết quả. Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của
một Ngân hàng thương mại. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút
được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên
cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước
và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng
phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của NHTM có đúng đắn hay
không. Bất cứ NHTM nào muốn có chất lượng tín dụng đều phải có chính
sách tín dụng rõ ràng, thích hợp của Ngân hàng mình.
* Công tác tổ chức của ngân hàng:
Tổ chức Ngân hàng phải sắp xếp một cách có khoa học, đảm bảo sự phối
hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng Ngân hàng, trong
toàn bộ hệ thống Ngân hàng cũng như giữa Ngân hàng với các cơ quan khác
như tài chính, pháp lý sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
hàng, giúp Ngân hàng theo dõi, quản lý sát sao các khoản cho vay, các khoản 12
huy động vốn. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và
quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng.
* Chất lượng nhân sự:
Đây là một nhân tố quan trọng. Sự thành công trong hoạt động tín dụng
phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệm của cán bộ tín dụng, họ là người trực tiếp
quản lý toàn bộ số vốn từ khi đầu tư cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng.
Họ cần phải phân tích kỹ tình hình tài chính của doanh nghiệp, phân tích dự
án mà khách hàng vay vốn, quản lý và giám sát tình hình sử dụng vốn vay. Xã
hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể
đáp ứng kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động tín
dụng. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi về chuyên
điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế
hoạch đã định, nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng.
* Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín
dụng. Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyết
định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho
vay. Thông tin tín dụng có thể thu được từ những nguồn sẵn có ở Ngân hàng
(Hồ sơ vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của các cán bộ
tín dụng ) từ khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực
tiếp), từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng ở trong và ngoài nước, từ
các nguồn thông tin khác (báo, đài, toà án). Số lượng, chất lượng của thông
tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích,
nhận định tình hình thị trường, khách hàng để đưa ra những quyết định phù
hợp. Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn diện thì
khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn, chất lượng
tín dụng càng cao.
* Kiểm soát nội bộ:
Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo Ngân hàng có được các thông
tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh 14
doanh đang được xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục
tiêu đã định. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời
nguyên nhân các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín
dụng của công tác kiểm soát nội bộ để có biện pháp khắc phục kịp thời. Để
kiểm soát nội bộ có hiệu quả, Ngân hàng cần có cơ cấu tổ chức hợp lý, cán bộ
kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, trung thực và có chính sách thưởng phạt vật chất
nghiêm minh.
* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng :
càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để đáp ứng
nhu cầu giao dịch trong xã hội. Trong điều kiện đó, nâng cao chất lượng tín
dụng là vấn đề ngày càng được quan tâm vì:
- Nâng cao chất lượng tín dụng để đưa hoạt động tín dụng thích nghi với
điều kiện kinh tế thị trường, phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường.
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để Ngân hàng làm tốt chức
năng trung tâm thanh toán, vì khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng
vòng quay vốn tín dụng. Nó tạo điều kiện cho Ngân hàng làm tốt chức năng
trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư, tín dụng góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần tăng vòng quay vốn, huy
động tới mức tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ làm giảm tối thiểu lượng tiền thừa
trong lưu thông. Nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng
kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình đầu tư vốn
phát huy tác dụng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại
vào hoạt động Ngân hàng theo xu hướng của thế giới, phương thức sản xuất
áp dụng những thành tựu của những nền công nghệ cao như công nghệ sinh
học, thông tin, vật liệu, năng lượng mới để nhanh chóng nâng cao chất lượng
tín dụng thúc đẩy sản xuất ở trong nước và hội nhập với hệ thống tài chính
tiền tệ quốc gia. 16
- Nâng cao chất lượng tín dụng để có khả năng hợp tác cạnh tranh. Khi
sản xuất cùng phát triển, nhu cầu vốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội là
rất lớn mà mỗi Ngân hàng riêng lẻ không thể đáp ứng được, đòi hỏi phải có
sự hợp tác giữa các Ngân hàng trong việc tài trợ cho khách hàng (đồng tài trợ
Chất lượng tín dụng củng cố mối quan hệ xã hội của Ngân hàng, điều đó
cũng có ý nghĩa là tạo được môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động Ngân
hàng.
Với những ưu thế trên, việc củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng củ
NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của
NHTM. Cũng chính vì vậy, chất lượng tín dụng luôn luôn phải được cải tiến. 18
CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động và chất lượng
Tín dụng tại exim bank hà nội.
* VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam ra đời và
hoạt động trong bối cảnh chung của nền kinh tế đang chuyển mình đổi mới.
Cuối năm 1989, những tiến bộ đạt được trong nền kinh tế cho phép Việt Nam
chuyển thời kỳ đưa ra thực thi các chính sách và mô hình Ngân hàng thích
hợp với cơ chế thị trường trong nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần. Nhà
nước chủ trương cải cách hệ thống Ngân hàng thành hai cấp : Cấp quản lý
Nhà nước do NHNN đảm nhận, cấp kinh doanh do các NHTM đảm nhận,
hoạt động Ngân hàng đã có sự chuyển biến, cơ bản mở rộng mạng lưới hoạt
động và phục vụ cho mọi thành phần kinh tế. Đồng thời trong thời kỳ này
Nhà nước có chủ trương thành lập một số NHTM cổ phần nhằm thực hiện sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Theo đề nghị của ông Đào Duy Thành, Chủ tịch Phòng thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, ngày 24/05/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra
quyết định 140/CT cho phép thành lập Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
dưới hình thức là Ngân hàng cổ phần chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng
và dịch vụ Ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất và chế biến hàng xuất nhập
khẩu và kinh doanh xuất nhập khẩu.
Vietnam Eximbank, của Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc Ngân hàng.
1. thực trạng hoạt động tín dụng tại nhtmcp eximbank hà nội :
1.1. Những nét chung:
Chi nhánh Eximbank Hà Nội là chi nhánh đầu tiên được thành lập theo
giấy chấp thuận số 0002 ngày 22/09/1992 của NHNN và theo giấy phép đặt
văn phòng chi nhánh số 00503/GP - UB của UBND thành phố Hà Nội. Tháng 20
11/1992 Eximbank Hà Nội bắt đầu đi vào hoạt động, có trụ sở chính đặt tại 19
phố Trần Hưng Đạo.
SƠ ĐỒ TỔNG THỂ CHI NHÁNH EXIMBANK HÀ NỘI Eximbank Hà Nội có một giám đốc điều hành trực tiếp và một đội ngũ
cán bộ đủ mạnh, vừa thông thạo nghiệp vụ vừa có kinh nghiệm trong chỉ đạo
điều hành, trình độ chuyên môn cao, biết ngoại ngữ, bước đầu thích nghi với
cơ chế thị trường, hoà nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới.
Ngân hàng có bẩy phòng chức năng : Phòng tổ chức hành chính, phòng
ĐẦU
T
ƯPHÒNG
KẾ
TOÁN
TỔ
PHÁP
CHẾ
PHÒNG
NGÂN
QUỸ 21
Ra đời trong điều kiện nền kinh tế mở với sự điều tiết của cơ chế thị
trường tạo môi trường kinh tế phù hợp để chi nhánh hoạt động kinh tế và phát
triển. Trong tám năm hoạt động và trưởng thành (11/1992-11/2000) dưới sự
chỉ đạo sáng suốt của Hội đồng Quản trị, sự lãnh đạo sát sao và hỗ trợ to lớn
về các mặt của Hội sở Trung ương, cũng như sự tín nhiệm của các cổ đông và
các đơn vị khách hàng, tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên của chi nhánh
Eximbank Hà Nội đã tích cực công tác đưa chi nhánh ngày càng lớn mạnh và
trở thành một trong những Ngân hàng kinh doanh có hiệu quả nhất trong địa
bàn Hà Nội.
1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Eximbank chi nhánh Hà Nội :
31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999
chỉ tiêu
Số tiền Tỉ trọng
( % )
Số tiền Tỉ trọng
( % )
Số tiền Tỉ trọng
( % )
Tổng nguồn 420.279
100 326.220 100 492.845 100
Theo đối tượng:
Tiền gửi TCKT 319.412
76 123.964 38 149.484 30
Tiền gửi tiết kiệm 100.867
24 202.256 62 343.361 70
Theo cơ cấu:
TG không kỳ hạn 306.804
73 114.177 35 111.225 22,6
TG có kỳ hạn 113.475
27 212.043 65 381.620 77,4
Nguồn : Báo cáo công tác tín dụng năm 97, 98, 99 tại Eximbank Hanoi.
Trong đối tượng huy động giữa các thành phần kinh tế của Ngân hàng có
thích ứng với tình hình kinh tế mới Ngân hàng đã ngày càng mở rộng hoạt
động kinh doanh thu hút thêm số lượng khách hàng. Eximbank Hà Nội còn
mở rộng khai thác nguồn vốn ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài
nước thông qua hạn mức tín dụng của Hội sở Trung ương phân bổ hoặc chi 24
nhánh từ giao dịch liên hệ. Tuy nhiên tình hình kinh tế và thực trạng hoạt
động của NHTM nói chung có nhiều biến động do vậy cũng ảnh hưởng đến
nguồn vốn này.
Tóm lại, mặc dù có những khó khăn khách quan và chủ quan, nhưng
Eximbank Hà Nội đã luôn cố gắng vượt qua và kinh doanh có hiệu quả tốt.
Trong năm 1999, cho dù Eximbank Hà Nội có nhiều cố gắng trong việc huy
động vốn nhưng nguồn vốn huy động chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Đây chính là điểm yếu của Ngân hàng Eximbank Hà Nội vì bình quân lãi suất
huy động đầu vào cao, đồng thời Ngân hàng luôn phải chịu sức ép về dự trữ
thanh khoản do VND bị mất giá so với USD. Tuy nhiên đây là bước đi tất yếu
trên con đường hội nhập mà Ngân hàng Eximbank đang tìm cách tháo gỡ để
vươn lên.
* Về sử dụng vốn :
Hiện nay, nghiệp vụ tín dụng vẫn là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các
NHTMViệt Nam nói chung và của chi nhánh Eximbank Hà Nội nói riêng.
Là một NHTMCP, vốn hoạt động là do các cổ đông đóng góp, huy động
tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế nên hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng sẽ vô cùng khó khăn nếu chỉ lơ là một chút thôi thì hậu quả rủi ro tín
dụng sẽ khôn lường. Nhận thức được điều này, Eximbank Hà Nội rất chú
trọng đến khâu tín dụng, coi đó là hoạt động trọng tâm của Ngân hàng. Ngân
hàng luôn thực hiện cho vay với 3 mục tiêu cơ bản : Hiệu quả, an toàn vốn
đầu tư và phát triển.
Nhờ làm tốt công tác huy động vốn, Eximbank Hà Nội đã tích cực nhanh