Lời mở đầu
Thực hiện đờng lối đổi mới của nền kinh tế của Đảng và Nhà nớc bắt
đầu từ phơng hớng do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vạch ra và tiếp tục
đợc khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991-
1996), lần thứ VIII (1996-2000). Trong những năm qua hoạt động tiền tệ, tín
dụng ngân hàng đã thực hiện chiến lợc đổi mới mạnh mẽ các hoạt động của
mình. Hoạt động ngân hàng đã đạt đợc những thành tích về mọi mặt góp
phần quan trọng vào việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ
cao
Cùng với sự vận động của nền kinh tế hệ thống ngân hàng cũng đã và
đang vận hành kịp thời để thích nghi với đIều kiện mới, công cuộc đổi mới
đã và đang diễn ra với những chuyển biến nhanh chóng, sâu sắc song cũng
không tránh khỏi những khó khăn vớng mắc. Cũng nh các Ngân hàng thơng
mạI khác hệ thống Ngân hàng Công thơng Việt Nam đã xác định đợc mục
tiêu chính trong năm 2000 và những năm tiếp theo là xây dựng ngân hàng
Công thơng theo mô hình Ngân hàng thơng mạI có tổ chức và bộ máy tinh
gọn phù hợp với hoạt động kinh doanh và tiến tới có đủ đIều kiện hội nhập
khu vực và quốc tế.
Ngân hàng Công thơng là doanh nghiệp quốc doanh thực hiện chủ tr-
ơng của Đảng và nhà nớc là huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nớc và
ngoàI nớc thành nguồn vốn trực tiếp để dầu t phát triển trong đó nguồn vốn
trong nớc mang tính quyết định.
Trong các doanh nghiệp nguồn vốn là yếu tố không thể thiếu đợc. Do
đó ngay từ những ngày đầu của kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế từ 1996
đến 2000. Đảng và Nhà nớc ta đã xác định vốn là nhu cầu mang tính cấp
bách, nó đòi hổi các cấp, các ngành, các doanh nghiệp đặc biệt tàI chính và
ngân hànglà những cơ quan tham gia trực tiếp cần đI sâu nghiên cứu để có h-
ớng đI cùng nh giám sát thực tế nhằm tạo ra nguồn vốn đủ sức đáp ứng cho
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
1
Là một cán bộ trong ngành ngân hàng nói chung và Chi nhánh Ngân
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần
phảI có vốn. Vốn là công cụ chủ yếu quyết định đến năng lực kinh doanh. Do
đó các doanh nghiệp phải tạo ra nguồn vốn ban đầu cần thiết trớc hết là phảI
có đủ vốn đIều lệ nh luật định đồng thời trong quá trình hoạt động, phảI
chăm lo làm cho vốn tăng trởng để đáp ứng nhu cầu của quá trình phát triển
và mở rộng sản xuất kinh doanh. Riêng đối với kinh doanh ngân hàng, vốn
không những là phơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tợng kinh doanh
chủ yếu của các ngân hàng thơng mạI. Do vậy nguồn vốn và chính sách huy
độnh vốn là vấn đề không chỉ quyết định đến khả năng phát triển mở rộng
kinh doanh mà nó còn quyết định đến sự tồn tạI của ngân hàng.
Ngân hnàg là tổ chức kinh doanh loạI hàng hoá đặc biệt trên thị trờng.
Những ngân hàng có khối lợng vốn lớn, tính ổn định cao là những ngân hàng
có thế mạnh trong hoạt động kinh doanh.
Chính vì vậy có thể nói nguồn vốn là đIểm xuất phát đầu tiên trong
chu kỳ kinh doanh của các ngân hàng và quyết định đến quy mô hoạt động
tín dụng cũng nh các hoạt động khác của các ngân hàng thơng mạI. Nói cách
khác: Nguồn vốn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thể hiện ở những đIểm sau:
3
- Nguồn vốn quyết định đến quy mô hoạt động của ngân hàng
Quy mô hoạt động của ngân hàng phụ thuộc vào khối lợng vốn của
ngân hàng cụ thể là: Với khối lợng vốn càng lớn thì quy mô hoạt động của
ngân hàng càng lớn (trong đIều kiện phảI cân đối đợc nguồn vốn và sử dụng
vốn, nếu nguồn vốn nhiều mà không cho vay đợc thì sẽ trở thành ứ đọng
vốn). Một ngân hàng đợc đánh giá là lớn hay nhỏ trớc hết là phảI xem nguồn
vốn và sử dụng vốn lớn hay nhỏ. Nói chung ngân hàng nhỏ về mọi mặt nh: sự
quản lý, sự đa dạng của nguồn vốn và các nghiệp vụ cùng với uy tín của ngân
hàng đó trên thị trờng kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng nhỏ ít có chiều
sâu về công tác quản lý hơn, tiền lơng ít hơn, cơ hội phát triển thị trờng ít
Thực tế chứng minh rằng ngân hàng có vốn đầu t lớn, rình độ nghiệp vụ
cao, phơng tiện kỹ thuật hiện đạI thì sẽ có nhiều khả năng tang đợc nguồn
vốn huy động. Một ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ thuận lợi trong việc mở
rộng quan hệ tín dụngđối với các thành phần kinh tế về quy mô, khối lợng
vốn cho vay, chủ động về thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãI suất
vừa phảI cho khách hàng, u đãI các khách hàng có quan hệ thờng xuyên có
uy tín với ngân hàng. ĐIều đó đã thu hút khách hàng đến với ngân hàng ngày
càng nhiều làm cho doanh số hoạt động tăng lên nhanh chóng.
Vốn đI vay của ngân hàng thơng mạI chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng
nguồn vốn, hay nói cách khác đó là nguồn vốn mà ngân hàng thơng mạI đã
huy động đợc trong nền kinh tế. Để có đợc nguồn vốn đa dạng và phong phú
ngân hàng thơng mạI phảI tạo ra đợc quỹ dự trữ cần thiết sơ cấp và thứ cấp,
đồng thời đa dạng hoá nguồn vốn, cụ thể là phảI có nguồn vốn trung và dàI
hạn thích hợp để thực hiện chức năng của ngân hàng đa năng, luôn giữ đợc
thế cạnh tranh và uy tín không ngừng đợc nâng cao.
II. Nội dung kết cấu và tính chất nguồn vốn của ngân
hàng thơng mạI
1. Vốn tự có
Vốn tự có là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập nên và thuộc về
sở hữu của ngân hàng còn gọi là vốn riêng có của ngân hàng
5
1.1. Các bộ phận cấu thành vốn tự có
a. Vốn đIều lệ
Vốn đIều lệ là mức vốn đợc ghi trong đIều lệ hoạt động của ngân hàng
khi thành lập, vốn đIều lệ của ngân hàng không nhỏ hơn mức vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định phảI có khi
ngân hàng mới thành lập
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng vốn đIều lệ không
đợc ngừng bổ sung tăng thêm từ các nguồn vốn đó là:
+ Nguồn từ lợi nhuận đợc giữ lạI để bổ sung tăng vốn cho ngân hàng
- Các quỹ nh: Quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi, vốn ngân sách của nhà nớc
đIều cho ngân hàng cho vay dàI hạn
Các nguồn vốn trên thuộc quyền sở hữu của ngân hàng tạo thành vốn tự
có
Ngân hàng là chủ nguồn vốn và sử dụng vào mục đích kinh doanh chịu
trách nhiệm trớc Nhà nớc trong việc bảo toàn vốn làm cho nguồn vốn đó sinh
lời không ngừng tăng lên
1.2. Tính chất của nguồn vốn tự có
Vốn tự có mang tính chất thờng xuyên ổn định, mức vốn của nguồn vốn
này và sự tăng trởng của nó thể hiện năng lực và thế phát triển của một ngân
hàng thơng mại. Nó ổn định hơn rất nhiều so với vốn huy động
Mức vốn tự có của ngân hàng cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực kinh
doanh và năng lực tàI chính. Một ngân hàng muốn có nguồn vốn trớc hết
phảI có vốn tự có bởi vì:
+ Vốn tự có quyết định năng lực và khả năng cho vay của ngân hàng,
quyết định mức cho vay tối đa với một khách hàng (hay quyết định về sử
dụng vốn)
+ Vốn tự có quyết định khả năng xây dựng, mua sắm về tàI sản, về cơ
sở vâth chất kỹ thuật của ngân hàng
7
1.3. Vai trò của vốn tự có
- Vốn tự có là cơ sở để thiết lập ngân hàng và đi vào hoạt động đồng thời là
cơ sở để đảm bảo tối thiểu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Vốn tự có là nguồn vốn duy nhất để mua sắm tàI sản cố định, các phơng
tiện là việc cho ngân hàng, bởi vậy nó quyết định đến khả năng hiện đạI
hoá của ngân hàng
- Mức và tốc độ tăng trởng của vốn tự có thể hiện thế và lực của ngân
hàngtren thị trờng
- Vốn tự có ảnh hởng trực tiếp đến quy mô huy động và quy mô sử dụng
vốn của ngân hàng thơng mạI vì các Ngân hàng Trung ơng luôn đa ra một
Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loạI:
- LoạI 1: Tiền gửi thanh tóan
Tiền gửi thanh tóan là loạI tiền gửi đợc gửi vào ngân hàng với mục đích
tạo ra phơng tiện sẵn sàng phục vụ cho việc thanh toán chi trả trong quan hệ
mua bán, trao đổi vật t hàng hoá và dịch vụ giữa các khách hàng
Khách hàng gửi vào tiền ngân hàng để phục vụ cho quá trình sản xuất
kinh doanh đảm bảo thuận tiện chính xác, an toàn nhanh chóng trong quá
trình thanh toán
Bản chất của khoản tiền này là dể thanh toán vì nó là tiền chờ: Đối với
khách hàng đây là tàI sản mà họ uỷ thác cho ngân hàng bảo quản và thực
hiện các nghiệp vụ liên quan theo yêu cầu của họ. Nh vạy khách hàng gửi
tiền vào ngân hàng không mất quyền sở hữu và không mất quyền sử dụng số
tiền ấy. Họ có quyền lấy ra và chi trả cho bất kỳ ai và vào bất kỳ lúc nào
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ mà ngân hàng luôn luôn phảI chuẩn
bị đủ phơng tiện thanh toán để trả cho khách hàng vào bất kỳ lúc nào
Với loạI tiền gửi này, hiện nay ngân hàng không tính và trả lãI cho
khách hàng mà thờng chi trả một cách gián tiếp. Do vậy nếu có khả năng huy
9
động vốn và sử dụng vốn tốt nguồn tiền gửi nỳa sẽ cho phép ngân hàng hạ
thấp đợc chi phí huy động vốn và có u thế cạnh tranh về giá với các ngân
hàng hàng, cho nên muốn huy động tốt nguồn vốn này ngân hàng cần quan
tâm làm tốt công tác thanh toán đầy đủ kịp thời cho khách hàng
- LoạI 2: Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý
LoạI tiền gửi này giữa khách hàng và ngân hàng cũng không thoả thuận
về thời hạn rút tiền nhng không mang tính chất là tiền gửi thanh toán
Xét về tính chất đây là những nguồn tiền gửi tạm thời nhàn rỗi của các
chủ thể khác nhau trong xã hội. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục
đích an toàn thuận tiện trong việc sử dụng tàI sản và để hởng một mức lãI
nhất định từ khoản tiền đó
Cũng giống nh tiền gửi thanh toán loạI tiền này cũng có tính chất biến
Nguồn vốn nàychủ yếu là bộ phận thu nhập cha đợc sử dụngtiêu dùng
trong hiện tạI của các ca nhân, các hộ gia đình. Họ gửi tiền vào ngân hàng
với mục để dành tiền một cách an toàn và đợc hởng thu nhập từ số tiền của
họ
b. Nguồn vốn huy động khác
Khi có nhu cầu sử dụng vốn, các nguồn vốn tự có và các nguồn vốn huy động
không đủ đáp ứng, các ngân hàng thơng mạI đợc phép hy động dới các hình
thức khác nhauthông qua việc phát hành các phiếu nợ ngắn hạn, dàI hạn
Mục đích của việc phát hành các phiếu nợ này là huy động các khoản tiền để
dành của các cá nhân và doanh nghiệp kinh tế
Việc huy động dới các hình thức này các ngân hàng thơng mạI phảI trả
lãi suất cao hơn so với các loạI tiền gửi huy động khác
3. Nguồn vốn đI vay
3.1. Vay Ngân hàng Trung ơng
Ngân hàng thơng mạI có thể vay vốn từ Ngân hàng Trung ơng thông
qua việc xin táI chiết khấu các thơng phiếu hoặc một số loạI phiếu nợ ngắn
hạn khác hoặc xin vay có sự bảo đảm của các phiếu này
11
- Vay táI chiết khấu: Các ngân hàng thơng mạI thiếu vốn có thể đem các
thơng phiếu hoặc các khế ớc nhận nợ đến ngân hàng Trung ơng để xin vay
táI chiết khấu
- Ngân hàng Trung ơngcó thể cho các ngân hàng thơng mạI vay để bổ sung
vốn ngắn hạn theo kế hoạch
- Ngân hàng Trung ơng cho các ngân hàng thơng mạI vay để đáp ứng nhu
cầu vốn thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thơng mạI với nhau
3.2. Vốn vay các ngân hàng thơng mạI và các tổ chức tín dụng khác
Vào một thời đIểm nhất định có những ngân hàng tạm thời thừa vốn mà
họ không gửi vào ngân hàng Nhà nớc, trong khi đó có những ngân hàng th-
ơng mạI lạI tạm thời thiếu vốn do đó họ có thể cho vay lẫn nhau trên thị
truờng liên ngân hàng với đIều kiện là:
Ngân hàng chỉ phảI bỏ ra những chi phí về quản lý tàI khoản hoặc trả lãI rất
ít cho số tiền đó. Ngân hàng có thể lợi dụng đIều này để kiếm nhiều khoản
lợi nhuận, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng thời kỳ trong năm và khả năng
của ngân hàng trong việc dự đoán về biến động trên số d tiền gửi không kỳ
hạn này
ở Việt Nam, tiền gửi thuộc loại này đợc gửi dới các hình thức: tàI
khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế hoặc tàI khoản tiền gửI
cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt nam còn quá
thấp, để khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng,các ngân
hàng thơng mạI ở Việt nam đã trả lãI cho khoản tiền này với mức lãI suất u
đãI, ở các nớc phát triển, loạI tiền gửi này chiếm vị trí khá là quan trọng
trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng thơng mạI. Chẳng hạn ở Mỹ các tàI
khoản thuộc loại này chiếm khoảng 95% tiền gửi của ngân hàng. Vì lẽ đó, để
tạo nguồn tiền gửi trên tàI khoản thanh toán, việc thu hút và giữ khách hàng
đợc các ngân hàng rất coi trọng
13
2. Tạo vốn qua huy động tiền gửi có kỳ hạn
Khác với tiền gửi không kỳ hạn có số d tăng giảm phụ thuộc vào tình
hình sản xuất kinh doanh của chủ tàI khoản thì quá trình tạo vốn này đợc
thực hiện duới 2 hình thức sau:
- Tiền gửi có kỳ hạn
Các khoản này chủ yếu đợc thể hiện bằng chứng chỉ tiền gửi đợc ghi rõ
hạn định và giá trị thanh toán. Việc rút tiền trớc hạn sẽ bị phạt và mức hạn có
thể vợt quá khoản lãI đợc hởng tính tới ngày rút tiền, ngân hàng thờng cấp
cho khách hàng cần rút vốn một khoản tín dụng mà coi khoản tiền gửi theo
kỳ hạn là khoản đảm bảo cho tín dụng đó
Mức lãI suất đối với các chứng chỉ tiền gửi có thể cố định hoặc linh hoạt
tuỳ theo sự lựa chọn cuả khách hàng, và đối với các chứng chỉ tiền gửi có lãI
suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trớc hạn định. Các chứng chỉ
tiền gửi đợc đa dạng hoá nhằm đáp ứng sự cạnh tranh trong huy động vốn
nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn
của mình.
3. Tạo vốn qua phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn:
Việc huy động các chứng chỉ tiền gửi thuộc loại này có ý nghiã quan
trọng trong việc quản lý tài sản nợ hơn là biện pháp để các ngân hàng thơng
mại huy động vốn, bởi nó chỉ đợc sử dụng khi cần thiết. Chẳng hạn, ở Mỹ
các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn 100.000 USD hoặc nhiều hơn đã trở
thành công cụ đáng chú ý trong việc quản lý tài sản nợ các ngân hàng lớn.
Mức lãi đợc trả cho các chứng chỉ tiền gửi loại này đợc qui định bằng
cách thoả thuận trực tiếp giữa khách hàng và ngân hàng hoặc đợc qui định ở
mức mà ngời gửi tiền có thể chấp nhận đợc.
Xuất phát từ thực tế khách quan những ngời mua chứng chỉ tiền gửi này rất
nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất. Để huy động đợc vốn nhằm đáp ứng
các nhu cầu thanh toán hay nhu cầu tín dụng, các ngân hàng thơng mại có thể
đa ra mức lãi suất cao hơn so với các chứng chỉ tiền gửi khác (hoặc cũng có
thể cao hơn mức lãi suất của trái phiếu kho bạc trong điều kiện ở Việt Nam).
15
4. Tạo vốn qua đi vay
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của
các ngân hàng thơng mại không chỉ về mặt qui mô mà chủ yếu mang ý nghĩa
nh là một biện pháp quản lý các mục tài sản nợ. Các ngân hàng có thể đi vay
ở nhiều nguồn khác nhau:
-Vay ngân hàng trung ơng: Hình thức thờng gặp là vay tái chiết khấu.
Với vai trò là ngời cho vay cuối cùng. Ngân hàng trung ơng luôn cho các
ngân hàng thơng mại vay với một mức giá nhất định: đó là lãi suất tái chiết
khấu. Lãi suất tái chiết khấu đợc ngân hàng trung ơng sử dụng nh một công
cụ điều tiết vĩ mô, tuỳ vào yêu cầu điều tiết của nền kinh tế mà lãi suất này
có đợc nâng cao hoặc hạ thấp. Các ngân hàng thơng mại có thể vay ngân
hàng trung ơng khi có nhu cầu, nhng hầu hết các ngân hàng trung ơng đều
không cho phép các ngân hàng thơng mại lạm dụng khả năng đó bằng các
IV. Các nhân tố ảnh hởng tới công tác huy động vốn
của ngân hàng thơng mạI
Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng phải không ngừng tăng khả năng
cạnh tranh của mình trên thơng trờng. Khả năng đầu tiên cần phải nói đến là
khả năng huy động vốn nguồn tài nguyên cho hoạt động của ngân hàng.
Hiện nay, các ngân hàng thơng mại trên thế giới đang cung cấp những
điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền tiết kiệm của dân chúng, của các tổ chức
kinh tế và của chính phủ bằng cách đa ra những phơng thức thuận tiện nhất.
ở Việt Nam trong những năm gần đây, Nhà nớc chủ trơng phát huy sức
mạnh của các thành phần kinh tế nên số tiền gửi tiết kiệm ngày càng tăng
trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thơng mại. ở nớc ta các
khoản tiết kiệm trong dân tồn tại chủ yếu dới dạng tiền mặt, dân chúng cha
quen với những phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng,
gây khó khăn cho công tác điều hoà lu thông tiền tệ của ngân hàng trung -
ơng. Vì vậy ngân hàng nhà nớc luôn luôn có những điều chỉnh, sửa đổi về
chính sách đối với loại tiền gửi này, nhằm tăng khả năng thu hút tiền nhàn rỗi
góp phần tăng nguồn vốn cho đầu t phát triển kinh tế Hình thức huy động
17
vốn này phụ thuộc lớn vào thu nhập bình quân đầu ngời, tỷ lệ tiết kiệm trên
tổng thu nhập của dân c cũng nh đặc đIểm tâm lý của dân chúng trong địa
bàn hoạt động của ngân hàng.
18
Chơng II: Thực trạng công tác huy động vốn
của Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Lu
Xá
I- Một số nét về tình hình kinh tế xã hội liên quan tới
hoạt động của Chi nhánh
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Lu Xá là một chi nhánh trực thuộc
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng tỉnh tháI Nguyên là một bộ phận cấu thành