Kĩ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP - Pdf 10

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ VĂN ĐOẠT
KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS
TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO TÍN CHỈ
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Chuyên ngành: Tâm lí học chuyên ngành
Mã số: 62.31.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS NGUYỄN XUÂN THỨC
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận án
Đỗ Văn Đoạt
i
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ, sơ đồ
VI N HÀN LÂM KHOA H C XÃ H I VI T NAMỆ Ọ Ộ Ệ 1
H C VI N KHOA H C XÃ H IỌ Ệ Ọ Ộ 1
Chuyên ng nh: Tâm lí h c chuyên ng nhà ọ à 1
Mã s : 62.31.80.05ố 1

TB Trung bình
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm
VTN Vị thành niên
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
VI N HÀN LÂM KHOA H C XÃ H I VI T NAMỆ Ọ Ộ Ệ 1
H C VI N KHOA H C XÃ H IỌ Ệ Ọ Ộ 1
Chuyên ng nh: Tâm lí h c chuyên ng nhà ọ à 1
Mã s : 62.31.80.05ố 1
2.1.1. M c ích nghiên c uụ đ ứ 62
Xây d ng khung lý thuy t c a lu n án, t ó xác nh quan i m ch ự ế ủ ậ ừđ đị để ủ
o c a lu n án trong vi c nghiên c u nh ng v n v các KN P v i đạ ủ ậ ệ ứ ữ ấ đề ề Ư ớ
stress trong ho t ng h c t p theo tín ch c a SV HSP, t ng quan ạ độ ọ ậ ỉ ủ Đ ươ
gi a các KN P v i các y u t nh h ng.ữ Ư ớ ế ốả ưở 62
2.1.2. N i dung nghiên c uộ ứ 62
iv
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Học chế tín chỉ đã được triển khai áp dụng ở nhiều trường đại học trên thế
giới và Việt Nam. Trong chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, người học được
tôn trọng và được phát huy các năng lực của bản thân. Có thể nói, học chế tín chỉ đã
đem lại nhiều mặt tích cực cho người học. Tuy nhiên, hình thức đào tạo này cũng
đặt ra những yêu cầu cao cho cả người dạy và người học. Đối với người học: Họ
phải hết sức tích cực, chủ động, biết cách tự học, thì mới có thể đáp ứng được yêu
cầu của chương trình đào tạo theo tín chỉ. Chính các yêu cầu cao này đã tạo ra
những áp lực, khó khăn cho sinh viên mà đòi hỏi sinh viên phải vượt qua, nhất là
khi sinh viên vẫn có thói quen học thụ động ở phổ thông, quen với phương thức đào
tạo theo niên chế và chưa có kĩ năng đương đầu hay giải quyết các tình huống vượt

[dẫn theo 79, tr28-31]. Ngoài ra, SV khi bị stress thường có những ý nghĩ tiêu cực,
chẳng hạn như: “Tôi không thể làm được điều này”, “Mình là kẻ kém cỏi”, “Mình
luôn gặp thất bại”,… và không có khả năng thoát ra khỏi những ý nghĩ tiêu cực này
[90]. Khi bị stress lâu ngày, một số biểu hiện tâm lý sẽ gia tăng như sợ hãi, tình cảm
bất ổn, khủng hoảng,… những phản ứng sinh lí biểu hiện chứng lo âu như run sợ,
đau nhức có mức độ rất trầm trọng đến nỗi bị lẫn lộn với các chứng trạng của bệnh
tim đang phát tác. Họ thường đột nhiên lo buồn, cáu gắt, giận dữ,… (đủ các loại
cảm xúc tiêu cực) [17, tr9]. Theo nghiên cứu của Trever Butlin (2006), khi bị stress,
SV có khuynh hướng thích sử dụng nhiều thức uống có cồn, luôn muốn thu mình
vào một chỗ, ngại tiếp xúc với mọi người. Nhiều SV tỏ ra thiếu kiên nhẫn, thiếu
kiềm chế, bối rối, sợ hãi, bực dọc, rất dễ có những hành vi gây gổ với bạn bè. Họ
làm việc thường mất rất nhiều thời gian nhưng hiệu quả công việc rất thấp. Thậm
chí, những người bị stress quá nặng còn có thể dẫn đến những hành vi thiếu kiềm
chế, mang tính chất phá hoại, nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Do vậy, tìm cách
ứng phó có hiệu quả, phù hợp với điều kiện bản thân là rất quan trọng. Đối với
2
SV, nếu có KNƯP những tình huống stress sẽ có vai trò to lớn đối với hiệu quả
học tập của chính họ, đồng thời góp phần từng bước giúp bản thân thích ứng với
chương trình đào tạo mới (chương trình đào tạo theo tín chỉ) và góp phần nâng
cao hiệu quả đào tạo. Thực tế cho thấy, nghiên cứu lí luận về KNƯP với stress
nói chung và KNƯP trong học tập theo tín chỉ nói riêng là vấn đề chưa được giải
quyết nên rất cần thiết tập trung nghiên cứu.
Về thực tiễn, ý thức được tầm quan trọng của KNƯP với stress trong cuộc
sống, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu để phổ biến và giảng dạy cho mọi
người. Tuy nhiên, kĩ năng này chưa được chú trọng đúng mức ở các trường
ĐHSP, SVSP còn tỏ ra lúng túng, yếu kém về kĩ năng giải quyết những tình
huống stress trong hoạt động học tập cũng như cuộc sống của họ. Kết quả là tinh
thần giảm sút, học tập không tiến bộ, thậm chí có những hành vi “bất mãn” với
cuộc sống,… Mặt hạn chế này do nhiều nguyên nhân, cả nguyên nhân chủ quan
lẫn nguyên nhân khách quan. Trong đó phải kể đến SVSP thiếu cơ hội rèn kĩ năng

và xã hội của ĐH Cần Thơ.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
4.1. Kĩ năng ứng phó với stress trong học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP bao
gồm: Nhóm kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress và biểu hiện của stress trong
học tập theo tín chỉ; Nhóm kĩ năng xác định các phương án ứng phó với stress
trong học tập theo tín chỉ; Nhóm kĩ năng thực hiện các phương án ứng phó nhằm
giảm stress và giải quyết vấn đề trong học tập theo tín chỉ. Mức độ biểu hiện các
nhóm kĩ năng ứng phó với stress trong học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP ở mức
trung bình và không đồng đều nhau, trong đó kĩ năng thực hiện các phương án
ứng phó với stress được SV quan tâm, thể hiện rõ nhất và SV quan tâm, thể hiện
yếu nhất ở kĩ năng nhận diện stress.
4.2. Các KNƯP với stress trong học tập theo tín chỉ ở SV ĐHSP chịu ảnh hưởng
bởi một số yếu tố chủ quan (nền tảng kiến thức của SV, kinh nghiệm sống của
SV, hứng thú học tập của SV và khí chất của SV) và một số yếu tố khách quan
4
(cách tổ chức đào tạo theo tín chỉ của nhà trường, vai trò của GV bộ môn, cố vấn
học tập). Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là không giống nhau, trong đó những
yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất là cách tổ chức đào tạo của nhà trường, cố vấn học
tập và nền tảng kiến thức của SV.
4.3. Có thể nâng cao KNƯP với stress trong học tập theo tín chỉ cho SV ĐHSP nhằm
giảm thiểu stress bằng biện pháp tổ chức bồi dưỡng kiến thức về KNƯP với stress và
tổ chức rèn luyện hình thành KNƯP với stress theo qui trình được xác định.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Xác định cơ sở lý luận của luận án: Làm rõ các khái niệm công cụ, tiêu chí, mức
độ và biểu hiện của các nhóm kĩ năng thành phần thuộc kĩ năng ứng phó với stress
trong hoạt động học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP
5.2. Phân tích làm rõ thực trạng KNƯP với stress cùng các yếu tố ảnh hưởng đến
KN này trong hoạt động học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP.
5.3. Đề xuất và tổ chức thực nghiệm các biện pháp tác động tâm lý-sư phạm
nhằm nâng cao KNƯP với stress trong học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP.

học tập và giải quyết các vấn đề stress trong học tập của SV ĐHSP.
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Theo quan điểm của Tâm lí học, quá trình
học của con người là một hệ thống cấu trúc bao gồm các thành tố vận động, phát
triển trong mối quan hệ biện chứng không thể tách rời. Từ những quan điểm đó,
đối tượng nghiên cứu của luận án sẽ được tiến hành xem xét và giải quyết một
cách toàn diện và đồng bộ với việc xem xét và giải quyết các thành tố khách
quan và chủ quan của việc ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín
chỉ của SV ĐHSP.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể (được trình bày ở chương 2)
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
- Phương pháp bài tập tình huống;
- Phương pháp phỏng vấn sâu;
6
- Phương pháp nghiên cứu điển hình;
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp thực nghiệm tác động;
- Phương pháp thống kê toán học.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Phân tích và hệ thống hoá các khái niệm cơ bản về kĩ năng ứng phó với
stress trong học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP: kĩ năng, ứng phó, kĩ năng ứng
phó, stress, stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ, kĩ năng ứng phó với
stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP.
- Chỉ ra được các nhóm kĩ năng thành phần của KNƯP với stress trong hoạt
động học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP: Nhóm kĩ năng nhận diện tác nhân gây stress
và biểu hiện của stress trong học tập theo tín chỉ; Nhóm kĩ năng xác định các
phương án ứng phó với stress trong học tập theo tín chỉ; Nhóm kĩ năng thực hiện các
phương án ứng phó nhằm giảm stress và giải quyết vấn đề trong học tập theo tín chỉ.
- Phát hiện thực trạng mức độ, biểu hiện của KNƯP với stress trong hoạt

Folkman và Lazarus (1980) đã xây dựng trắc nghiệm “Cách ứng phó”.
Trắc nghiệm đo hai kiểu ứng phó cơ bản nhất là: 1. Kiểu ứng phó tập trung cảm
xúc: đây là kiểu ứng phó chú ý nhiều đến cảm xúc cá nhân, kiểu ứng phó này có
mục đích làm giảm sự căng thẳng trong các tình huống mà con người gặp phải;
2. Kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề: là kiểu ứng phó hướng vào việc giải
quyết vấn đề hay định hướng để thay đổi hoàn cảnh.
Tuy vậy, trên thực tế cách ứng phó của con người không đơn giản chỉ là
hai cách như Folkman và Lazarus đã nêu, nó mang tính đa dạng. Nên, một trắc
nghiệm khác được ra đời. Đó là trắc nghiệm “Ứng phó” của Carver, Sheiner, và
8
Weintraub (1989). Các tác giả đưa ra 5 thang đo về cách ứng phó tập trung vào
vấn đề, 5 thang đo về cách ứng phó tập trung vào cảm xúc, 3 thang đo về cách ứng
phó không tích cực.
Bên cạnh những thang đo được liệt kê ở trên còn có nhiều trắc nghiệm,
thang đo khác nhưng ít được dùng hơn.
+ Ảnh hưởng của KNƯP đến thể chất và tinh thần:
Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định những hạn chế về KNƯP với
các hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống của vị thành niên ảnh hưởng tiêu cực
đến thể chất và tinh thần của họ.
Nezu và Ronan (1988) nghiên cứu về kĩ năng ứng phó của trẻ vị thành
niên. Họ chỉ ra rằng nếu vị thành niên không có kĩ năng phòng ngừa những tác
động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, trầm cảm và lo âu. Để giải quyết được
các vấn đề, vị thành niên cần có niềm tin dựa vào năng lực, xác lập được những
KNƯP với những hoàn cảnh khó khăn của bản thân. [67, tr1]
Kovacs (1989) lại cho rằng, có nhiều vấn đề về tâm thần của trẻ em liên
quan đến sự hiểu biết của các em về các kĩ năng xã hội. Đây là một trong những
nguyên nhân làm tăng ý tưởng và hành vi tự sát. [67, tr2]
Các tác giả khác như: Carver, Scheiner và Weintraub (1989) thì cho rằng:
Hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi là xu hướng ứng xử. Theo các
tác giả, con người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau.

được hình thành sẽ phản ánh mẫu hình giống như đã học được ở gia đình. Mặt
khác, giới tính và độ tuổi của vị thành niên quyết định mỗi kiểu ứng phó. [83]
+ Ảnh hưởng của các vấn đề tâm lí cá nhân và xã hội đến hành vi ứng phó
và cách ứng phó:
Cảm giác về một chỗ dựa tinh thần và vật chất, thông tin và cảm xúc ở
con người là một cảm giác dương tính, chi phối hoàn toàn đến cách ứng xử với
người khác, với môi trường xã hội cũng như với những tình huống khó khăn.
Đây là nghiên cứu về sự ủng hộ xã hội của các tác giả: Cobb .S (1976), Cohen và
Wills (1985), Cohen và Syme (1985), Kirkham, Schilling, Norelius, Schinke,
10
Yablin (1986), Zick và Temoshok (1987), Cohen S (1988), Hays, Turner và
Coats (1992). Các tác giả đều nhấn mạnh sự ủng hộ của xã hội là nhân tố trung
gian thúc đẩy sự vững tin của con người, khích lệ con người thực hiện những
hành động hiệu quả trong những tình huống khó khăn.
Bandura (1977), Thomson S.C (1981), Wallston K.A, Wallston, Smith, và
Dobbins (1987), Cohen S và Edwards (1989), Taylor S.E, Helgeson, Reed và
Skokan (1991) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kiềm chế tâm lí và cách ứng phó
có hiệu quả.
Nghiên cứu khác lại đánh giá những đặc điểm của nhân cách là nguồn lực
chính của hành vi ứng phó. Những đặc điểm đó là: tính tự tin, tính tự chủ, tính có
trách nhiệm, biết đồng cảm với người khác, tính sẵn sàng trải nghiệm,… Đây là
nghiên cứu của Holahan và Moos (1987, 1990, 1991), Worden và Sobel (1978),
Friedman (1993).
Terry D.J. (1991); Lees M.C., Neufeld R.W.J. (1999) nghiên cứu mối liên
quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận diện về các khía cạnh khác nhau
của stress với hành vi ứng phó. Theo họ, việc con người ứng xử như thế nào
trong hoàn cảnh khó khăn thường chịu ảnh hưởng của việc họ đánh giá về chính
hoàn cảnh đó, tình huống đó. [90]
Segersform S.C, Taylor S.E, Kemeny M.E, Fahey J.L (1998); Horowwitz,
Adler và Kegeles (1988) tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của cách ứng phó với

những lời khuyên của cha cố về sự bình yên trong tâm hồn đã hướng con người
đến cách ứng xử nhất định với hoàn cảnh.
Như vậy, các nghiên cứu theo khuynh hướng tìm kiếm mối quan hệ của các
nhân tố tâm lí xã hội và tâm lí cá nhân đã xác định được ảnh hưởng của các nhân tố
này đối với cách mà con người ứng xử trong những hoàn cảnh khó khăn.
+ Mối quan hệ giữa cách ứng phó với sự chuyển đổi xã hội:
McCubbin (1980) nghiên cứu ảnh hưởng có hại của cách ứng phó sai lầm
với stress trong gia đình và chỉ ra rằng cách ứng phó sai lầm có thể dẫn đến việc
phá huỷ hệ thống gia đình. Fosson lại chỉ ra những kiểu chuyển đổi trong gia
12
đình có thể dẫn đến stress và cách mà các thành viên ứng phó với những sự
chuyển đổi này.
Slavin (1991) phát hiện: chuyển đổi xã hội liên quan đến những vấn đề vĩ
mô như quan hệ dân tộc, tục lệ, lễ nghi, sự phân hoá kinh tế - xã hội và nó có liên
quan đến thói quen, văn hoá của mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Cuộc sống xã hội đòi
hỏi mỗi cá nhân phải thích nghi với chuyển đổi xã hội. Vì thế, hành vi ứng phó
của mỗi con người đều chịu ảnh hưởng của văn hoá. Sự lựa chọn cách ứng xử của
con người trước hoàn cảnh mới đã làm nên văn hoá hành vi, nhiều khi nó liên
quan đến chuẩn mực văn hoá, lễ nghi, tập tục ở cấp độ xã hội. Vì vậy, những
chương trình tự giáo dục, phân loại giá trị và chế ngự stress là những phương pháp
được đề nghị để ứng phó với những chuyển đổi xã hội. [dẫn theo 23, tr38-39]
Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu khác như: “Ứng phó với bệnh ung thư”
của B. Siegel, Carl và Simonton (1980); “Ứng phó với tình trạng mình là nạn nhân
của tội phạm” của Scheiner (1981), Berg và Jonhson (1979), Brooks (1981); “Ứng
phó với stress ở nơi làm việc” của Revicki và May (1985), Macke và Cooper
(1987), Adler và Matthews (1994); “Ứng phó với tiếng ồn, với những ảnh hưởng
của môi trường” của Cullen, Cherniack, Rosenstock (1990); “Cách ứng phó của
phụ nữ với việc nạo thai” của N. Sumer, C. Cozzarelli, B. Major (1998); “Cách
ứng phó với những khủng hoảng tinh thần, những tổn thương tâm lí” của E.A.
Holman, R.C. Silver (1998), … Các nghiên cứu này đã cho độc giả thấy được một

định và giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tương tác xã hội và kĩ năng tự
điều chỉnh [79, tr8-9].
Ngoài ra, những công trình của các tác giả nước ngoài cũng đề cập đến từ
“kĩ năng ứng phó” cho tác phẩm của họ nhưng khi đọc nội dung, chúng tôi thấy
không hợp về mặt khái niệm so với bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam vì họ coi kĩ
năng như là những liệu pháp, cách thức ứng phó với căng thẳng. Do đó, chúng
tôi không liệt kê ra đây.
Riêng nghiên cứu về kĩ năng ứng phó với stress trong học tập, chúng tôi
14
chưa tìm thấy bất cứ công trình nào.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu kĩ năng ứng phó với stress trong hoạt động học
tập theo tín chỉ ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về ứng phó với stress, stress trong học tập
Việt Nam hiện còn rất hiếm các nghiên cứu trực tiếp về ƯP với stress và
stress trong học tập.
Năm 2006, Viện Tâm lý học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam đã tiến
hành nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ VTN với hoàn cảnh khó khăn tại một
số trường THCS, THPT, học sinh thuộc các Trung tâm giáo dục thường xuyên ở
Hà Nội và một số trẻ ở Trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình. Nghiên cứu đã đưa
ra một số kết quả về những đặc điểm ứng phó của trẻ VTN Việt Nam với những
hoàn cảnh khó khăn trong đó có stress. [23]
Bên cạnh nghiên cứu của Viện Tâm lý học, Trung tâm Thông tin và
chương trình giáo dục Lê Thánh Tông, Sở Giáo dục và đào tạo TP. Hồ Chí Minh
với sự tài trợ của UNESCO và UNICEF đã biên soạn và triển khai chương trình
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Trong chương trình này, ứng phó với căng
thẳng (stress) được đề cập nhưng không sâu, còn mờ nhạt. [50]
1.2.2.2. Nghiên cứu về kĩ năng ứng phó với stress, stress trong học tập
Nghiên cứu về kĩ năng ứng phó với stress nói chung và stress trong học
tập theo tín chỉ nói riêng là vô cùng hiếm.
Năm 2008, Đỗ Thị Thu Hồng với đề tài nghiên cứu “Kĩ năng ứng phó với

phó với stress, stress trong hoạt động học tập vô cùng ít và mờ nhạt, đặc biệt kĩ
năng ứng phó với stress trong học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP thì không có.
Đây là khó khăn của người nghiên cứu trong việc tiếp cận các nghiên cứu ở cả
nước ngoài và Việt Nam về kĩ năng ứng phó với stress trong học tập nói chung
và học tập theo tín chỉ nói riêng. Bởi thế, đây là một khoảng trống cần được
nghiên cứu, làm rõ. Đề tài luận án “ Kĩ năng ứng phó với stress trong hoạt động
học tập theo tín chỉ của SV ĐHSP” được lựa chọn sẽ mang lại ý nghĩa lí luận và
thực tiễn to lớn, đặc biệt trong bối cảnh tất cả các trường đại học của Việt Nam
16
đã, đang triển khai triệt để chương trình đào tạo theo tín chỉ.
1.2. KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
THEO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1.2.1. Kĩ năng ứng phó
1.2.1.1. Khái niệm kĩ năng
Thuật ngữ “kĩ năng” được quan niệm dưới nhiều góc độ từ trước đến nay
trên thế giới. Nghiên cứu về kĩ năng dường như đã quen thuộc với nhiều đọc giả.
Dưới đây là sự hệ thống hoá hai hướng nghiên cứu chính về kĩ năng: Hướng thứ
nhất, coi KN là mặt kĩ thuật của hành động; Hướng thứ hai, coi KN là khả năng
của cá nhân trong hoạt động.
+ Quan niệm coi KN là mặt kĩ thuật của hành động:
A.V.Kruchetxki (1981) cho rằng: Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt
động (những cái mà con người đã nắm vững). Nghĩa là, khi con người nắm vững
vấn đề thì khi đó họ sẽ có cách thực hiện hành động. Tuy nhiên, tác giả chưa đề
cập đến hiệu quả của phương pháp đó trong hoạt động cụ thể. Bởi vì thực tế cho
thấy, có những cá nhân có cách thức thực hiện hành động tốt nhưng chưa chắc
đem lại hiệu quả cho hoạt động đó bởi có kết quả tốt còn phụ thuộc nhiều yếu tố
khác. Hơn nữa, nếu cá nhân chỉ có phương thức hành động đúng cũng không thể
kết luận rằng họ có KN hoạt động. [33]
A.G.Côvaliov (1994) thì cho rằng: KN là phương thức thực hiện hành
động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động. Ở quan niệm này,

động chưa quan tâm đến kết quả của hoạt động thì các tác giả theo khuynh
hướng này đã quan tâm đến kết quả của hoạt động khi định nghĩa KN. Tiêu biểu
là các tác giả như: K.K. Platônov, Xavier Roegiers, A.V. Petropxki, I.F.
Khaclamop (1978), Nguyễn Quang Uẩn (2005), Vũ Dũng (2000), Trần Quốc
Thành (1992), Hoàng Thị Anh (1992), Nguyễn Văn Đính (1997). Họ quan niệm,
KN không chỉ là sự vận dụng phù hợp các thao tác, mà còn đem lại kết quả cho
hoạt động. KN được đồng nhất với năng lực và hiểu tương đối khái quát: vừa là
18
mặt kĩ thuật, vừa là khả năng của cá nhân [2], [10], [11], [27], [45], [51], [60].
Khi quan niệm KN là khả năng cũng có nghĩa coi KN thể hiện linh hoạt,
ổn định, bền vững trong hoạt động. Theo K.K.Platônov, người có KN không chỉ
hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể, mà còn phải đạt kết quả tương
tự trong những điều kiện khác nhau [dẫn theo 42, tr20]. Ở đây, tri thức và sáng
tạo của cá nhân đóng vai trò quan trọng. Sự kết hợp với tri thức giúp sự vận dụng
kĩ năng phù hợp, linh hoạt và sáng tạo với từng điều kiện hoạt động.
Cho nên, theo khuynh hướng coi KN là khả năng của cá nhân, KN không
chỉ được hiểu là kĩ thuật, mà còn phải đem lại kết quả cho hoạt động. Đây có thể
nói là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về KN. Tuy vậy, các tác giả
theo khuynh hướng này vẫn chưa đi sâu phân tích mặt thao tác, hành động của KN.
Tóm lại, qua tổng hợp các quan niệm về KN theo hai hướng đã nêu ở trên
đã cho thấy: tuy có nhiều định nghĩa về KN nhưng các tác giả đều có chung một
quan niệm, đó là, gắn kĩ năng với hoạt động của cá nhân. Nó là phương thức
hành động phù hợp với điều kiện và yêu cầu của hoạt động và giúp mang lại hiệu
quả của hoạt động.
Từ đó, chúng tôi cho rằng: KN là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào
hoạt động cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động đó.
Với khái niệm này, những đặc điểm cần quan tâm ở KN là:
- KN được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân qua các
thao tác. Để tiến hành các thao tác, chủ thể phải có tri thức nhất định (tính nhận
thức) về hoạt động cũng như tổ hợp các thao tác, thực hiện đầy đủ các thao tác

lại những tình huống khác nhau theo những cách khác nhau, nên các phương
pháp đo lường nét riêng biệt của cá nhân thường ít có khả năng dự báo việc sử
dụng các cách ứng phó.
- Hướng tiếp cận tính đến những đòi hỏi riêng biệt của các loại hoàn
cảnh cụ thể:
Đó là nghiên cứu của Felton và Revenson (1984) [80]. Khái niệm ứng phó
được xem xét ở góc độ này không liên quan đến quá trình phòng vệ cũng như
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status