Mối quan hệ giữa mức độ tham gia của trẻ tiểu học trong hoạt động học tập với các kỹ năng xã hội cần thiết - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======***======= NGUYỄN THỊ KIỀU VÂN MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ THAM GIA CỦA TRẺ TIỂU
HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VỚI CÁC KỸ NĂNG
XÃ HỘI CẦN THIẾT
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số : 603180

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2013
Công trình đƣợc hoàn thành tại Hà Nội


Trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tham gia vào các
hoạt động phù hợp với lứa tuổi để phát triển tâm - sinh lý toàn diện.
Ngày nay, xã hội phát triển cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực khiến trẻ
em phải đối mặt với nhiều thách thức lớn hơn so với thế hệ trước,
trong khi cơ hội tham gia vào những hoạt động thích hợp lại không
đủ để trẻ có thể tự phát triển kỹ năng xã hội cho mình; điều đó đặt ra
một vấn đề là phải làm sao để trẻ có được các kỹ năng xã hội và trên
cơ sở đó sẽ thúc đẩy sự tham gia của trẻ vào các hoạt động tại gia
đình, nhà trường và cộng đồng; Ngược lại, sự tham gia lại chính là
nền tảng cho trẻ hình thành và rèn luyện các kỹ năng xã hội.
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, giáo dục ở bậc
tiểu học là khâu quan trọng, có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết
định đối với cuộc đời của mỗi cá nhân. Trẻ 6 tuổi đến trường, học từ
việc bắt chước các thao tác tay chân sang việc học cách tư duy, đây
là lần đầu tiên trẻ học cách học và hình thành kĩ năng làm việc trí óc,
kỹ năng sống.
Trong số các kỹ năng sống cần thiết, nhóm các kỹ năng xã
hội được coi là “nền tảng cho sự hội nhập của trẻ” là “chìa khóa của
học tập”. Khi trẻ có thể dùng các kỹ năng xã hội hợp lý, chúng có thể
biết những gì cần nói hoặc cần làm khi chúng đối xử với người khác
và có thể thành công hơn trong sự tương tác của chúng với môi
trường xung quanh, trưởng thành hơn và dễ thành công hơn trong
cuộc sống.
Một câu hỏi được đặt ra là các mức độ tham gia của trẻ trong
hoạt động học tập có mối liên hệ gì với các kỹ năng xã hội và biện
pháp nào để thúc đẩy sự tham gia vào hoạt động học tập, phát triển
các kỹ năng xã hội của trẻ; đồng thời hiện nay hệ thống lý luận về sự
tham gia của trẻ em, mối quan hệ giữa mức độ tham gia với các kỹ

4

4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

5
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa mức độ tham gia
của trẻ trong hoạt động học tập và các kỹ năng xã hội cần thiết.
- Khách thể nghiên cứu
+ Nhóm chính: nhóm trẻ tiểu học lớp 5
+ Nhóm bổ sung: Nhóm cha mẹ, nhóm giáo viên
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn, học viên chỉ nghiên cứu
trong phạm vi và giới hạn như sau:
- Không gian nghiên cứu: Trường tiểu học Thụy Phương, xã
Thụy Phương huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội và Cung Văn hóa thiếu
nhi Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013
- Nội dung nghiên cứu: mức độ tham gia của trẻ ở các môn
năng khiếu: mỹ thuật, thể dục, âm nhạc, giáo dục kỹ năng sống.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động học tập các môn
năng khiếu trong nhà trường thì trẻ có các kỹ năng xã hội tốt và
ngược lại.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Sử dụng trắc nghiệm đánh giá các kỹ năng xã hội dùng
cho học sinh tiểu học,
+ Sử dụng bảng hỏi đánh giá mức độ tham gia của trẻ vào
hoạt động học tập,
+ Phương pháp quan sát: Quan sát để đánh giá mức độ tham
gia của trẻ, mối quan hệ giữa mức độ tham gia và các kỹ năng xã hội

năng xã hội được triển khai khá rầm rộ trong tâm lý học, đặc biệt
trong tâm lý học Mỹ, do ý nghĩa đặc biệt của vấn đề này với cuộc
sống của cá nhân và xã hội. Những nghiên cứu về kỹ năng xã hội của
Jessica Masty & Yoni Schwab, Gresham & Elliot, O.V.Giapataia đã
chỉ ra thế nào là kỹ năng xã hội, cấu trúc của kỹ năng xã hội, kỹ năng
xã hội bao gồm những kỹ năng nhỏ lẻ nào, chỉ ra vai trò, ý nghĩa của

7
kỹ năng xã hội, đặt kỹ năng xã hội trong tương quan với kỹ năng
sống, .
Tuy nhiên, nghiên cứu và lý luận về sự tham gia, các kỹ năng
xã hội còn ít và chưa có nghiên cứu nào đề cập đến mối quan hệ giữa
mức độ tham gia và các kỹ năng xã hội của trẻ tiểu học trong hoạt
động học tập ở nhà trường. Nghiên cứu này nhằm chỉ ra mối quan hệ
đó cũng như đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường sự tham gia
và phát triển các kỹ năng xã hội của trẻ trong hoạt động học tập các
môn năng khiếu tại nhà trường.
1.2.Một số vấn đề lí luận cơ bản của đề tài
1.2.1.Các khái niệm công cụ
1.2.1.1. Tham gia
Sự tham gia bao gồm: Trẻ biết và hiểu về hoạt động mình thực
hiện; Trẻ thể hiện ý kiến, quan điểm; Trẻ khởi xướng, đề xuất hoạt
động; Trẻ mời người lớn và các bạn cùng tham gia vào hoạt động
phù hợp với độ tuổi và mức độ phát triển tâm sinh lý.
Để thực hiện theo đúng tính chất tham gia, trẻ cần có những kỹ
năng nhất định phù hợp với từng dạng hoạt động. Ví dụ, muốn tham
gia tốt vào hoạt động tập thể, trẻ cần có sự yêu thích với hoạt động
đó, có các kỹ năng để giải quyết ổn thỏa các vấn đề hay các hoạt
động phát sinh trong nhóm như: kỹ năng kiềm chế, tự kiểm soát, kỹ
năng đồng cảm,

Nhìn chung ở lứa tuổi này có những thay đổi cơ bản về những
đặc điểm giải phẫu sinh lí: Chiều cao và trọng lượng ; Hệ xương; Hệ
cơ; Hệ tuần hoàn; Hệ hô hấp; Hệ thần kinh.
*Quan niệm về trẻ em

9
Những thành tựu của tâm lí học đã khẳng định: Trẻ em không
phải là người lớn thu nhỏ lại, “trẻ em là trẻ em”; Trẻ em là con đẻ
của thời đại; Trẻ em ngày nay có sự gia tốc phát triển, đó là sự phát
triển nhanh về sinh lí, tâm lí của trẻ em.
1.2.2.2. Đặc điểm hoạt động học tập
Có thể lưu ý một số điểm sau ở hoạt động học:
Không phải bất cứ sự biến đổi nào của hoạt động và hành vi
đều là sự học tạo ra, thậm chí cả những biến đổi hợp lí nếu đó là sự
biến đổi của những thuộc tính bẩm sinh.
Sự biến đổi mang tính bền vững, ổn định, chứ không nhất
thời, tình cờ, may rủi (ví dụ, một cầu thủ ghi bàn thắng không có
nghĩa là anh ta học được cách ghi bàn).
Học là một nhu cầu, một hoạt động của con người.
* Đặc điểm của hoạt động học của học sinh tiểu học
- Là hoạt động xuất hiện lần đầu tiên trong đời sống của trẻ.
- Là hoạt động được hình thành nhờ phương pháp nhà trường.
- Là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học.
* Hoạt động học tập các môn năng khiếu
Học tập các môn năng khiếu có đặc trưng khác các môn học
khác là không chỉ yêu cầu tư chất bẩm sinh, sự luyện tập mà còn có
đặc trưng ở sự tương tác nhiều hơn giữa các em học sinh trong khi
học tập như: thiết lập những mối quan hệ hợp tác, đồng cảm, chia sẻ,
chủ động đề nghị người khác giúp đỡ, biết kiềm chế . Ví dụ khi trẻ
học môn kỹ năng sống, trẻ đóng vai nhân vật, trẻ cần hợp tác với các

6. Người lớn khởi xướng quyết định cùng trẻ em: Người lớn
khởi xướng, trẻ em tham gia vào tất cả các khâu lập kế hoạch và thực

11
hiện. Không những quan điểm của trẻ em được quan tâm xem xét mà
bản thân trẻ em cũng được tham gia vào việc quyết định.
7. Trẻ em khởi xướng và được chỉ dẫn: Ý kiến khởi xướng là
của trẻ em và trẻ em là người quyết định công việc phải được thực
hiện như thế nào. Người lớn luôn có mặt để hướng dẫn nhưng không
quản lý công việc.
8. Trẻ em khởi xướng, người lớn cùng quyết định: Trẻ em
khởi xướng công việc và mời người lớn tham gia cùng quyết định.
Như vậy, với 8 mức độ tham gia khác nhau, yêu cầu trẻ cần
có kiến thức và kỹ năng khác nhau như sự phối hợp, sự quyết đoán,
sự tự khẳng định, để phù hợp với từng mức độ tham gia, bởi sự
tham gia của trẻ ở mỗi mức độ khác nhau là khác nhau về hành động,
cách thể hiện, và mang lại những kết quả khác nhau trong hoạt
động mà trẻ tham gia. Trong nghiên cứu này, học viên sử dụng bậc
thang về các mức độ tham gia của Hart để đánh giá.
1.2.3.2. Các kỹ năng xã hội
Có nhiều quan điểm khác nhau khi phân chia các kỹ năng
thuộc kỹ năng xã hội. Có tác giả cho rằng các kỹ năng xã hội gồm
có: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết
định, kỹ năng xã hội tự điều khiển, kỹ năng tạo lập quan hệ với bạn
bè. Hay kỹ năng xã hội cần dạy cho học sinh gồm: hiểu biết và tin
tưởng lẫn nhau, giao tiếp rõ ràng, chấp nhận và hỗ trợ nhau, giải
quyết xung đột.
Theo Gresham và Elliot, kỹ năng xã hội bao gồm 4 nhóm kỹ
năng cơ bản là:
- Nhóm kỹ năng hợp tác: Đó là những hành vi giúp đỡ người

trong nghiên cứu này học viên sử dụng quan điểm phân chia kỹ năng
xã hội thành 4 nhóm kỹ năng của Gresham và Elliot để nghiên cứu.
1.2.4. Mối quan hệ giữa các mức độ tham gia và các kỹ
năng xã hội

13
L.N.Tônxtôi và K.D. Usinxki đã cho rằng: “Nếu người lớn
nhìn thấy được khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng có thể nhận xét
riêng của trẻ, khả năng hoàn thành nhiệm vụ bằng sức lực của trẻ và
biết dựa vào nó thì tác động của người lớn lên đứa trẻ sẽ đạt kết quả
cao hơn”.
Phát triển các kỹ năng xã hội, tăng cường sự tham gia của trẻ
chính là để phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng có thể nhận
xét riêng, khả năng hoàn thành nhiệm vụ bằng sức lực của trẻ. Các
kỹ năng xã hội và sự tham gia của trẻ có mối quan hệ chặt chẽ, tương
hỗ lẫn nhau, sự tham gia của trẻ có hiệu quả, tích cực vào các môn
học hay không phụ thuộc nhiều vào các kỹ năng xã hội mà trẻ có.
Càng có nhiều kỹ năng xã hội, trẻ càng tự tin, tích cực và chủ động
tham gia vào hoạt động học bấy nhiêu. Ngược lại, khi tạo được hứng
thú cho trẻ, khuyến khích được trẻ tham gia tích cực bao nhiêu thì
các kỹ năng xã hội càng được rèn luyện, củng cố một cách thành
thục. Việc phát huy sự tham gia cũng như xây dựng kỹ năng xã hội
sẽ giúp trẻ không chỉ học tập tốt hơn mà còn có các kỹ năng mềm để
ứng xử, trưởng thành hơn trong cuộc sống.
Dựa vào việc phân tích các khái niệm công cụ về mức độ
tham gia và các kỹ năng xã hội của trẻ, có thể nhận thấy như sau:
Khi tham gia ở mức độ 1, 2, 3 thì trẻ cần có nhóm kỹ năng hợp tác;
Trẻ tham gia ở mức độ 4, 5 thì trẻ cần có nhóm kỹ năng hợp tác, kỹ
năng quyết đoán, tự khẳng định, đồng cảm; Trẻ tham gia ở mức độ 6,
7, 8 thì trẻ cần có nhóm kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết đoán, tự

2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực tiễn
Đánh giá thực trạng kỹ năng xã hội và mức độ tham gia của
trẻ tiểu học trong hoạt động học tập: 60 trẻ tại trường tiểu học Thụy
Phương, Hà Nội và Cung Văn hóa thiếu nhi Hà Nội.

15
Có cơ sở để kiểm chứng mối quan hệ giữa kỹ năng xã hội và
mức độ tham gia của trẻ tiểu học trong hoạt động học tập, trên cơ sở
đó để đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường sự tham gia và phát
triển các kỹ năng xã hội.
2.2.2. Nội dung nghiên cứu thực tiễn
- Thực trạng kỹ năng xã hội của trẻ
- Thực trạng mức độ tham gia của trẻ trong hoạt động học tập
- Mối quan hệ giữa mức độ tham gia của trẻ với các kỹ năng
xã hội cần thiết trong hoạt động học tập các môn năng khiếu: Môn
mỹ thuật, môn thể dục, môn âm nhạc, môn giáo dục kỹ năng sống.
2.2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Học viên sử dụng phương pháp chính là: phương pháp điều tra
bảng hỏi, phương pháp trắc nghiệm. Hai phương pháp bổ sung là:
phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn sâu.
2.2.3.1. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
Học viên thiết kế bảng hỏi để nghiên cứu về sự tham gia của
trẻ em trong hoạt động học tập với 9 câu hỏi xoay quanh vấn đề tham
gia của trẻ em vào hoạt động học tập (phụ lục 1).
Sử dụng bảng hỏi với 60 trẻ đang học lớp 5: 30 trẻ học tại
trường Tiểu học Thụy Phương, Hà Nội, 30 trẻ tại Cung Văn hóa
thiếu nhi Hà Nội.
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo tiêu chí: Nhiệt tình tham
gia nghiên cứu; Đang học lớp 5; Số trẻ được lựa chọn được chia đều
trường Tiểu học Thụy Phương và Cung Văn hóa thiếu nhi Hà Nội;

kỹ năng theo quan điểm của Gresham và Elliot (nhóm kỹ năng hợp
tác, nhóm kỹ năng đồng cảm, nhóm kỹ năng quyết đoán, tự khẳng
định, nhóm kỹ năng kiềm chế, tự kiểm soát) và mạnh ở những yếu tố
nào trong từng nhóm kỹ năng, học viên sử dụng phần mềm SPSS để

17
tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của từng nhóm kỹ năng.
Nhóm kỹ năng nào có độ lệch chuẩn càng lớn thì mức độ đồng đều
của trẻ trong việc thực hiện kỹ năng này càng nhỏ, ngược lại nhóm
kỹ năng nào có độ lệch chuẩn càng nhỏ thì mức độ đồng đều của trẻ
trong việc thực hiện kỹ năng này càng lớn.
2.2.3.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu giáo viên, cha mẹ trẻ, trẻ. Trường Tiểu học Thụy
Phương: 1 giáo viên dạy bộ môn năng khiếu, 1 cha mẹ chọn ngẫu
nhiên và 1 trẻ chọn ngẫu nhiên. Cung Văn hóa thiếu nhi Hà Nội: 1
giáo viên dạy môn năng khiếu, 1 cha mẹ chọn ngẫu nhiên và 1 trẻ
chọn ngẫu nhiên. Nội dung phỏng vấn cụ thể như sau:
Phỏng vấn sâu giáo viên:
- Phương pháp nào để phát huy tính tích cực học tập, tăng cường
sự tham gia của các em học sinh lớp 4, 5 vào các môn học: thể dục,
mỹ thuật, kỹ năng sống,âm nhạc?
- Cần chuẩn bị giáo án, đồ dùng như thế nào để tăng cường sự
tham gia của trẻ?
- Theo anh/chị, trẻ tham gia vào các giờ học ở những mức độ
nào trong các mức độ sau (lấy ví dụ cụ thể về mức độ tham gia trong
1 môn học cụ thể): Trẻ biết và hiểu về hoạt động mình thực hiện; Trẻ
thể hiện ý kiến, quan điểm; Trẻ khởi xướng, đề xuất hoạt động; Trẻ
mời người lớn và các bạn cùng tham gia vào hoạt động.
- Theo anh/chị tại sao trẻ không tham gia tích cực vào các môn
học?

thường biểu lộ qua cử chỉ, nét mặt, điệu bộ rất hân hoan, vui sướng
khi thực hiện nhiệm vụ. Đôi khi kèm với các vận động tích cực, hoặc
thổ lộ bằng ngôn ngữ.

19
- Những kết quả công việc của trẻ: kết quả hoạt động của trẻ
thể hiện một quá trình trẻ có bắt chước – tái tạo tích cực hay sáng tạo
(đặc biệt là có những thay đổi trên kết quả của trẻ so với mẫu gợi ý,
tranh mẫu, hành động mẫu, ; sản phẩm của trẻ được thể hiện chi
tiết hoặc trau chuốt, ví dụ về nét vẽ, bố cục, tô màu, trang trí có ý
nghĩa, thao tác đẹp và mang màu sắc riêng, xử lý tình huống sáng tạo
hơn, )
- Mức độ hăng hái, chủ động tham gia: Khao khát tìm tòi,
hiểu biết, trẻ có thiện chí, sẵn sàng chia sẻ, trao đổi ý kiến với bạn,
với cô trong hoạt động và trả lời các câu hỏi của giáo viên. Chủ động
lựa chọn những thứ cần thiết để thực hiện bài học, có suy nghĩ lựa
chọn cách thể hiện đề tài. Muốn và phấn chấn bước vào giải quyết
vấn đề - thực hiện nhiệm vụ (ví dụ: trong môn vẽ: trẻ tham gia hoạt
động quan sát tranh mẫu hay tranh gợi ý, tham gia phân tích, thực
hiện tác phẩm). Trẻ có thể cần sự hỗ trợ nhưng sau đó trẻ vẫn hoạt
động một cách độc lập.
- Chú ý: Trẻ chăm chú lắng nghe cô và luôn hướng theo cô.
Trẻ vượt qua các tác động làm phân tán sự chú ý, trả lời nhanh, chính
xác các câu hỏi của giáo viên.
- Mức độ hành động ý chí: Có những biểu hiện kiên trì, vượt
khó, sẵn sàng và có những nỗ lực (dù là ban đầu) giải quyết vấn đề.
Cố gắng hoàn thành công việc khi sắp hết thời gian, sửa chữa những
sai sót đã được góp ý và không ỷ lại ngay cả khi được hỗ trợ.
Tiểu kết chƣơng 2
Chương 2 đã hệ thống tổ chức và phương pháp nghiên cứu

và tư duy khi thuyết phục.
3.2. Đánh giá chung về mức độ tham gia trong hoạt động
liên quan đến học tập của trẻ

21
Đánh giá thực trạng mức độ tham gia vào hoạt động học tập sử
dụng phương pháp bảng hỏi tham gia. Tổng hợp kết quả của phiếu
hỏi, thu được kết quả như sau:
Nhìn chung, cách ứng xử của thầy cô và bạn bè khi trẻ có ý
kiến là: từ phía thầy cô chủ yếu là lắng nghe ý kiến của em, có quan
tâm đáp ứng ý kiến của các em, có phần nào khuyến khích các em
góp ý kiến và có cư xử xin lỗi nếu em có việc làm chưa đúng, ít
trường hợp không muốn nghe em nói hay trách mắng em. Về phía
bạn bè, cách ứng xử của bạn bè chủ yếu là lắng nghe ý kiến của em, xin
lỗi em nếu có việc làm chưa đúng, quan tâm và khuyến khích em góp ý
kiến, ít trường hợp không muốn nghe em nói hay trách mắng em. Như
vậy, cách ứng xử của thầy cô và bạn bè có sự đồng nhất khi trẻ tham gia
ý kiến, chủ yếu là lắng nghe và khích lệ.
Khi để cho các em tự đánh giá mức độ tham gia của trẻ vào
hoạt động học tập, thu được kết quả như sau: mức độ tham gia chủ
yếu của trẻ là trẻ hiểu và làm theo người lớn và tham gia đóng góp ý
kiến với người lớn, bên cạnh đó là các mức độ tham gia được lựa
chọn thấp hơn như: bị lôi kéo, cùng người lớn xây dựng kế hoạch;
mức độ trẻ khởi xướng người lớn cùng quyết định rất thấp.
3.3. Mối quan hệ giữa mức độ tham gia và các kỹ năng xã hội
Để đánh giá định lượng về mối tương quan giữa mức độ tham
gia và các kỹ năng xã hội của trẻ, luận văn đã sử dụng ba phương
pháp: phương pháp trắc nghiệm kỹ năng xã hội, phương pháp bảng
hỏi tham gia và phương pháp quan sát.
3.3.1. Phân tích kết quả phƣơng pháp trắc nghiệm kỹ năng

với mức độ tham gia 1, 2, 5 và 6 còn có tương tác chặt chẽ với mức
độ tham gia 4, tức là trẻ có hiểu và làm theo người lớn hay không.
Mối tương quan này chỉ ra rằng khi trẻ biết tự kiềm chế kiểm soát
bản thân trẻ có thể hiểu và làm theo người lớn một cách tích cực, chủ
động hơn. Bởi khi đó trẻ hiểu công việc mình phải làm, kiểm soát nó,
xung phong thực hiện công việc và xác định mình có thể tham gia

23
vào công việc ở mức độ nào. Ví dụ, khi học kỹ năng sống, thầy cô
muốn tìm một người để đóng vai nhân vật, trẻ xung phong đảm
nhiệm vai đó, trẻ hiểu để đóng vai đó mình cần có lời thoại như thế
nào, biểu lộ cảm xúc ra sao, ở mức độ nào là hợp lý, và mình chỉ
tham gia đến đoạn nào của vở kịch thì hết vai nhân vật,….
Như vậy, có thể thấy rằng để tăng cường mức độ tham gia của
những trẻ trong nghiên cứu này, cần tăng cường và chú trọng trước
hết tới nhóm kỹ năng đồng cảm, tiếp đó là hợp tác, quyết đoán, tự
khẳng định và kiềm chế, tự kiểm soát.
Mối tương quan giữa các nhóm kỹ năng xã hội với các mức độ
tham gia còn được thể hiện cụ thể hơn ở nội dung hoạt động mà trẻ
tham gia.
3.3.2. Phân tích kết quả phƣơng pháp quan sát
Cũng trên nhóm học sinh đã đánh giá kỹ năng xã hội và mức
độ tham gia nói chung trong hoạt động liên quan đến học tập này,
học viên thực hiện việc quan sát đại diện để đánh giá mức độ tham
gia của trẻ. Qua đó thấy được trẻ có kỹ năng xã hội tốt, khá, trung
bình, yếu thì tham gia vào hoạt động học tập các môn năng khiếu
như thế nào, có những sự khác biệt gì.
Cụ thể, kết quả của quan sát như sau:
Những biểu hiện bên ngoài:
Trẻ có kỹ năng xã hội mức yếu: trẻ chưa thực sự chăm chú vào

Mức độ hăng hái, chủ động tham gia:
Trẻ có kỹ năng xã hội mức yếu: Đa phần trẻ có biểu hiện ít
hứng thú, ít khát khao tìm tòi và không chia sẻ ý kiến với bạn bè,
ngại hỏi giáo viên và ít giơ tay trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra trong
bài học. Khi được hỏi, có trẻ cho rằng, em cũng muốn hỏi cô nhưng

25
em cảm thấy sợ sợ và ngại ngại mình nói sai, đôi khi em không biết
diễn tả ý hiểu của mình như thế nào, em sợ các bạn cười chê.
Trẻ có kỹ năng xã hội mức trung bình: trẻ có biểu hiện tương
đối hứng thú trong việc tìm tòi, ít chia sẻ ý kiến với bạn bè, ngại hỏi
giáo viên và số lượng giơ tay trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra trong
bài học không nhiều.
Trẻ có kỹ năng xã hội mức khá và tốt: Trẻ có sự khao khát tìm
tòi, hiểu biết, trẻ có thiện chí, sẵn sàng chia sẻ, trao đổi ý kiến với
bạn, với cô trong hoạt động và trả lời các câu hỏi của giáo viên. Chủ
động lựa chọn những thứ cần thiết để thực hiện bài học, có suy nghĩ
lựa chọn cách thể hiện bài tập khi được giao bài. Dùng khả năng diễn
đạt, cách của mình để giảng giải cho bạn khác hiểu và thể hiện quan
điểm của mình với giáo viên.
Trẻ có kỹ năng xã hội mức yếu: Trẻ bị phân tán, không ngồi
yên nghe cô mà hay cựa quậy, trêu trọc bạn bên cạnh hoặc nói
chuyện riêng.
Trẻ có kỹ năng xã hội mức trung bình: Trẻ không chủ động
trêu trọc hay nói chuyện riêng nhưng chưa vượt qua được các tác
động làm phân tán sự chú ý khi nghe bài. Ví dụ, bị bạn bên cạnh hỏi
và trêu thì dễ hùa theo bạn.
Trẻ có kỹ năng xã hội mức khá, tốt: Trẻ chăm chú lắng nghe
cô và luôn hướng theo cô. Trẻ vượt qua các tác động làm phân tán sự
chú ý, trả lời nhanh, chính xác các câu hỏi của giáo viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status