Kiểm định mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính với quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM


NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI
VIỆT NAM.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM


NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI
VIỆT NAM.
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301


BCLCTT

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC

Báo cáo tài chính

BTC

Bộ tài chính

CBTT

Công bố thông tin

CK

Chứng khoán

CSH

Chủ sở hữu

DN

Doanh nghiệp

HĐKD


UBCK, SGDCK

Ủy ban chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán


2. Danh mục viết tắt tiếng Anh
Chữ viết tắt
IAS
IASB

VAS

GAAP

Giải nghĩa tiếng Anh

Giải nghĩa tiếng Việt

International accounting standards Chuẩn mực kế toán quốc tế
International Accounting

Hội đồng chuẩn mực kế toán

Standards Board

quốc tế

Vietnamese accounting standards

Generally accepted accounting

xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận
Thống kê mô tả dữ liệu.biến mức độ CBTT, biến quản trị
lợi nhuận DA và các biến kiếm soát từ các mẫu được chọn
Kết quả hồi quy định giả thuyết H1
Kết quả hồi quy khi loại biến không phù hợp cho giả
thuyết H1
Kết quả hồi quy định giả thuyết H2
Kết quả hồi quy khi loại biến không phù hợp cho giả
thuyết H2

59

62
63
65
67
68

Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 2.1

Quy trình nghiên cứu

52


DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1.1: Chỉ số đo lường mức độ CBTT- Chỉ số chất lượng.
Phụ lục 2.1: Danh sách tổng thể 380 công ty niêm yết từ năm 2010 đến 2013.

1.1.4.1 Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán ............................................... 12


1.1.4.2 Yêu cầu CBTT của các DN niêm yết .......................................................... 13
1.1.5 Nguyên tắc CBTT trên thị trường chứng khoán ................................................ 14
1.1.5.1 Nguyên tắc chính xác, trung thực và đầy đủ: .............................................. 14
1.1.5.2 Nguyên tắc kịp thời và liên tục .................................................................. 16
1.1.6 Đo lường mức độ CBTT của DN ..................................................................... 16
1.1.6.1 Một số lý thuyết về đo lường mức độ CBTT .............................................. 16
1.1.6.2 Các chỉ số đo lường mức độ CBTT............................................................. 17
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN .............................. 19
1.2.1 Khái niệm về quản trị lợi nhuận: ....................................................................... 19
1.2.2 Cơ sở và mục đích của hành vi quản trị lợi nhuận ............................................ 21
1.2.3 Các hành vi về quản trị lợi nhuận ...................................................................... 24
1.2.4 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu thực
nghiệm ........................................................................................................................ 32
1.2.5 Hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận thông qua chi phối các hoạt động kinh
tế phát sinh .................................................................................................................. 37
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CBTT VÀ QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN. ........................................................................................................ 38
1.3.1 Các lý thuyết nền tảng ...................................................................................... 38
1.3.2 Mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và thông tin bất cân xứng ........................ 40
1.3.3 Mối quan hệ giữa CBTT và thông tin bất cân xứng .......................................... 41
1.3.4 Các nghiên cứu về mối quan hệ CBTT và quản trị lợi nhuận ........................... 42
CHƯƠNG 2: KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VỚI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM ...................................................................... 45
2.1 Phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị .................................. 45
2.2 Quy trình nghiên cứu ............................................................................................. 50
2.2.1 Giới thiệu tổng thể nghiên cứu và lựa chọn mẫu nghiên cứu ............................ 50

Kết luận: ........................................................................................................................... 80
Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo: .................................................. 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
TÀI LIỆU TIẾNG ANH
PHỤ LỤC


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp đang
đứng trước nhiều cơ hội và thử thách khác nhau thì vấn đề nâng cao chất lượng thông tin
công bố đặc biệt là thông tin lợi nhuận là vô cùng cần thiết để giúp các nhà đầu tư giảm
được những chi phí trung gian, giảm thiểu rủi ro và đưa ra những quyết định đầu tư chính
xác, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội huy động vốn và quảng bá doanh nghiệp, và hơn
nữa là tăng khả năng cạnh tranh của thị trường chứng khoán Việt Nam trong quá trình hội
nhập. Để đạt được điều đó thì chất lượng thông tin của các doanh nghiệp nói chung và
chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) nói riêng cần phải thể hiện tính tin
cậy, kịp thời, chính xác, đầy đủ và nhất quán theo cách mà người sử dụng có thể tiếp cận
một cách thuận lợi. Trong bối cảnh đó, vấn đề quan tâm chính là chất lượng của thông tin
được công bố.
Với thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động gần 15 năm, tuy nhiên thông tin
tài chính của các công ty niêm yết được trình bày và công bố thiếu sự minh bạch, chất
lượng thông tin thiếu sự kiểm soát. Việc công bố thông tin (CBTT) của các DN niêm yết
đang xem nhẹ, thông tin công bố không kịp thời cho người sử dụng và một điều đáng
quan tâm là số liệu tài chính sau khi được kiểm toán là một con số hoàn toàn khác so với
trước khi kiểm toán trong đó xuất hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Những hành vi quản trị
lợi nhuận theo mục đích của nhà quản lý có thể làm cho BCTC không còn phản ánh được


sản niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp định tính và định lượng, dữ liệu là BCTC của 19 công ty thuộc lĩnh
vực bất động sản của năm 2010-2011. Trong bài nghiên cứu tác giả đã đưa ra 9 biến ảnh
hưởng đến mức động CBTT của các công ty trong lĩnh vực bất động sản bao gồm: Văn
bản pháp luật về nội dung CBTT, văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm CBTT, chuẩn
mực kế toán, văn bản pháp luật liên quan đến ngành bất động sản, quy mô DN, tỷ lệ vốn
sỡ hữu của nhà nước, chủ thể kiểm toán, tỷ suất nợ, tỷ suất lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu
cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT như sau: Văn bản pháp luật về nội
dung CBTT càng hợp lý thì mức độ CBTT của công ty càng cao, Văn bản pháp luật về
xử phạt vi phạm CBTT càng có tính răn đe thì mức độ CBTT của các công ty càng cao .
Chuẩn mực kế toán Việt Nam càng hợp lý thì mức độ CBTT càng cao, Văn bản pháp luật
liên quan đến ngành bất động sản có mối quan hệ thuận chiều với mức độ CBTT, các


3

công ty bất động sản hoạt động có lợi nhuận cao thường CBTT tốt hơn để giúp người sử
dụng có thể thu thập nhiều thông tin.
 Phạm Thị Thu Đông (2013) – Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
CBTT trong BCTC của các DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Bài
nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian, kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, sử dụng mô hình nghiên cứu thông qua mẫu được lựa chọn là BCTC
năm 2012 của 80 DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Bài nghiên cứu đã
đưa ra 7 nhân tố ảnh hường đến mức độ CBTT bao gồm: quy mô DN, khả năng sinh lời,
đòn bẩy nợ, chủ thể kiểm toán, tài sản cố định, thời gian hoạt động của DN, khả năng
thanh toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 nhân tố là khả năng sinh lời và tài sản cố
định có mối quan hệ đồng biến tới mức độ CBTT của các DN niêm yết trên sở chứ khoán
Hà Nội.
Từ ba nghiên cứu cho thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT. Ở khu

Zhou. Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa chất lượng thông tin công bố và quản trị
lợi nhuận. Bài nghiên cứu đã sử dụng số liệu trên BCTC của 2531 công ty giai đoạn
1990-1995, và sử dụng mô hình Dechow, Sloan and Sweeny (1995) để đo lường quản trị
lợi nhuận. Từ đó tác giả xây dựng mô hình để đo lường mối quan hệ giữa chất lượng
CBTT và quản trị lợi nhuận. Kết quả cho thấy chất lượng CBTT và quản trị lợi nhuận có
mối quan hệ nghịch biến.
 Information disclosure quality and Earnings Management Evidence from Tehran
Stock Exchange (2013)- Fereydoun Ohadi, Tahmineh Shamsjahan. Bài nghiên cứu khảo
sát mối quan hệ giữa chất lượng công bố thông tin và quản trị lợi nhuận từ thị trường
chứng khoán Tehran. Mẫu nghiên cứu là 74 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Tehhran giai đoạn 2005 đến 2010. Tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy như
Logistics..để thực hiện kiểm định giả thuyết, kết quả cho thấy rằng chỉ số tài chính của
các công ty có mức độ công bố thông tin cao hơn thì rất khác biệt so với những công ty
công bố thông tin ít, đồng thời những công ty ít sử dụng biến dồn tích có điều chỉnh thì
khả năng quản trị lợi nhuận cũng thấp hơn những công ty còn lại.
Tóm lại qua các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận ra rằng thông tin công bố và
quản trị lợi nhuận có mối quan hệ với nhau, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu thực
nghiệm cho các công ty niêm yết tại Việt Nam để xác định được mối quan hệ này. Đây là
hướng nghiên cứu mà đề tài sẽ phát triển và có thể so sánh với các nghiên cứu ở các quốc
gia khác.


5

3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
 Mục tiêu chung:
 Xác định được mối quan hệ giữa mức độ CBTT trên BCTC với quản trị lợi
nhuận.
 Mục tiêu cụ thể:



6

2010 đến 2013 và không bao gồm những công ty tài chính, ngân hàng, công ty
chứng khoán.
-

Trong đó mức độ CBTT chỉ sử dụng chỉ số số lượng mà không sử dụng chỉ số chất
lượng và chỉ số phạm vi.

5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng.
Tổng quan về CBTT và quản trị lợi nhuận thông qua phân tích định tính để đưa ra cái
nhìn khái quát về mối quan hệ giữa hai đối tượng này. Đồng thời, sử dụng phương pháp
định lượng và sử dụng mô hình phân tích hồi quy dữ liệu bảng từ những mô hình đưa ra
dựa trên cơ sở lý thuyết được chọn phù hợp với tình hình tại Việt Nam để khảo sát mối
quan hệ giữa mức độ CBTT và quản trị lợi nhuận theo số liệu trên BCTC của các công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.
6. Đóng góp mới của đề tài
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng
như thực tiễn:


Về mặt khoa học: Thông qua đề tài tác giả đã hệ thống hóa được hệ thống

lý thuyết về CBTT và quản trị lợi nhuận, tìm hiểu được mối quan hệ giữa CBTT và quản
trị lợi nhuận, tính cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng của CBTT nhằm hạn chế hành
vi quản trị lợi nhuận.


quản trị lợi nhuận.
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm về CBTT, mức độ CBTT
Theo Owusu-Ansah (1998) CBTT là quá trình cung cấp các thông tin liên quan
đến tình hình tài chính, vị thế và triển vọng phát triển của đơn vị, đặc biệt là các khoản
mục được xác định bằng tiền cho các bên có quan tâm và có lợi ích liên quan đến đơn
vị .
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện
quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể
tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời.
Từ khái niệm về CBTT, theo nhận định của tác giả trong luận văn này mức độ
CBTT được hiểu như sau:
Mức độ CBTT là bậc gần hay xa so với tiêu chuẩn của CBTT, trong đó tiêu chuẩn
của CBTT chính là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, công bố các thông tin
liên quan đến tính hình tài chính, vị thế , triển vọng phát triển của đơn vị để thực hiện
quy trình minh bạch của DN.
 Khái niệm về thông tin trên BCTC và CBTT tài chính
Thông tin trên BCTC là thông tin có được thông qua BCTC (như thông tin về
doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả…) do DN cung cấp và chủ yếu thu
thập từ bộ phận kế toán thông qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết


9

quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh trên BCTC.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì thông tin trên BCTC là kết quả của quá
trình tạo lập và công bố trên BCTC, sản phẩm của công tác kế toán, do vậy hai cụm từ
“thông tin trên BCTC” và “ thông tin kế toán” là tương đồng.
CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp

10

củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cổ đông cũng như đối tác khác của DN. Đó chính là chìa
khóa cho sự thành công và phát triển bền vững của thị trường chứng khoán. Có thể nói
CBTT là ngôn ngữ giao tiếp giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư bên ngoài. Việc công bố
thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể sau:
-

Đối với nhà đầu tư: Việc tìm hiểu một cách chủ ý cũng như tiếp cận thông tin từ

DN là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả. Công ty niêm yết cung cấp
thông tin qua các BCTC định kỳ và đột xuất giúp nhà đầu tư nắm bắt được thời cơ kinh
doanh cũng như xây dựng một danh mục đầu tư phù hợp. Đây là vấn đề đáng quan tâm
nhằm giảm bớt sự bất cân xứng về thông tin.
-

Đối với nhà quản lý thị trường (Uỷ ban chứng khoán (UBCK), Sở giao dịch chứng

khoán (SGDCK)): Thông tin từ công ty niêm yết giúp nhà quản lý thị trường có thể đánh
giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết, từ đó có thể điều
chỉnh hoạt động của họ như cho phép niêm yết, hủy bỏ niêm yết hay tái niêm yết, và
cũng là căn cứ để đưa ra quyết định khen thưởng hay xử lý vi phạm một cách công bằng
và hợp lý.
-

Đối với bản thân các công ty niêm yết: Việc CBTT thể hiện trên BCTC hay

những thông tin khác đã phản ánh trung thực hiệu quả hoạt động của công ty. Nó là một
phương tiện quảng bá tốt nhất, khách quan nhất về hình ảnh, thương hiệu, uy tín của công
ty trên thương trường và mang lại một mức giá cao xứng đáng cho cổ phiếu của họ, tạo

CBTT bắt buộc: là những CBTT được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định
của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo
những quy định của luật kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế
toán, GAAPs và các chuẩn mực kế toán
CBTT tự nguyện là sự lựa chọn của DN, không bắt buộc. Có nghĩa là một công
ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin mà pháp luật không yêu cầu nhằm
thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài DN.
1.1.3.2 Phân loại theo tính chất định kỳ hoặc bất thường
Các loại thông tin công bố định kỳ thường là BCTC năm, BCTC bán niên kèm
theo báo cáo kiểm toán, BCTC quý. Nội dung CBTT về BCTC của các công ty niêm
yết bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu
chuyển tiền tệ, bản thuyết minh BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán.
Các loại thông tin công bố bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định


12

như tài khoản công ty tại ngân hàng bị phong tỏa, tổn thất tài sản có giá trị 10% vốn
chủ sở hữu trở lên….
1.1.3.3 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý
Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường
Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin đã được thống kê lại từ những thông
tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau.
1.1.4 Yêu cầu CBTT
Yêu cầu CBTT được quy định rõ trong chuẩn mực kế toán của Việt Nam và trong
các văn bản pháp lý về CBTT dành cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Nội dung dưới đây được rút ra từ yêu cầu chung của chuẩn
mực kế toán và của thông tư hướng dẫn về CBTT theo văn bản pháp lý của Việt Nam.
1.1.4.1 Yêu cầu về CBTT trong chuẩn mực kế toán
Theo chuẩn mực kế toán VAS 01- Chuẩn mực chung, thông tin kế toán cần được

(có hiệu lực từ ngày 1/06/2012) hướng dẫn về việc CBTT nhằm giải quyết một số hạn
chế của thông tư 09/2010/TT-BTC và các thông tư trước đó. Do thời gian nghiên cứu
của đề tài từ năm 2010-2013 nên cơ sở lý thuyết về yêu cầu CBTT vẫn được tác giả sử
dụng thông tư 09/2010/TT-BTC và Thông tư số 52/2012/TT-BTC.
Theo thông tư 09/2010/TT-BTC việc CBTT tài chính phải tuân thủ theo:
 Để CBTT tài chính phải lập trang thông tin điện tử với đầy đủ các chuyên mục về
quan hệ cổ đông, trong đó phải có điều lệ công ty, quy chế quản trị nội bộ, báo cáo
thường niên, BCTC định kỳ phải công bố theo quy định và các vấn đề liên quan đến kỳ
họp Đại hội đồng cổ đông.
 Việc CBTT tài chính, tổ chức niêm yết phải công bố BCTC năm đã được kiểm
toán, BCTC bán niên (6 tháng) đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán. Các tổ chức niêm
yết phải báo cáo giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp; hoặc
tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu thế chung của thị trường,
thay vì các tổ chức niêm yết phải giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên
liên tiếp như trước đây.


14

Theo thông tư 52/2012/TT-BTC việc CBTT tài chính có thay đổi một số điểm
sau:
 Thông tư 52 bỏ quy định khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên
tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường thì tổ chức niêm yết phải công bố các
sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu. Chỉ có công ty niêm yết và
công ty đại chúng có quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số
lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) mới phải CBTT bất thường khi giá cổ phiếu
niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp trở lên.
 Với thông tin nghiêm trọng, các DN CBTT hoặc đính chính thông tin trong vòng
24 giờ kể từ khi nhận được thông tin hoặc theo yêu cầu từ ủy ban chứng khoán.
 Đối với các BCTC kiểm toán năm, thời gian tối đa để DN công bố được rút ngắn,

những thông tin quan trọng về DN một cách đầy đủ nhất để từ đó nhà đầu tư có thể đưa
ra quyết định đầu tư chính xác. Chính vì thế sự đầy đủ của thông tin trong BCTC của các
DN niêm yết trình bày đầy đủ là điều trước tiên mà nhà đầu tư, cổ đông, ngân hàng quan
tâm. Qua những số liệu được trình bày đầy đủ mà các đối tượng sử dụng thông tin công
bố có thể dễ dàng nhận thấy, phân tích, đánh giá được tình hình tài chính cũng như triển
vọng trong tương lai.
Thực tế cho thấy, các chủ thể CBTT thường có sự mâu thuẫn về lợi ích với nhà
đầu tư về mặt CBTT. Đặc biệt các tổ chức niêm yết thường không muốn tiết lộ các thông
tin bí mật của ban quản trị, chiến lược kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận vì sợ đối thủ cạnh
tranh sẽ sử dụng thông tin này để cạnh tranh không lành mạnh gây những nguy hại. Ví dụ
như thông tin về phát triển sản phẩm được tiết lộ bởi một công ty có thể được sử dụng
cho lợi ích của một đối thủ cạnh tranh (Verrecchia, 1983). Hơn nữa, chi phí vụ kiện có
thể xảy ra khi một công ty bị kiện liên quan đến CBTT của mình nếu các thông tin sau đó
hóa ra là sai lầm (Skinner, 1998). Ngược lại các nhà đầu tư lại muốn biết các thông tin
này càng nhiều càng tốt. Những thông tin sai lệch hoặc không chính xác sẽ gây hiểu
nhầm cho nhà đầu tư. Do đó, một quyết định để cung cấp thêm thông tin cho công chúng,
về mặt lý thuyết, nên được dựa trên một phân tích chi phí-lợi ích mặc dù dự toán chi tiết
của tất cả các chi phí và lợi ích là khó khăn (Healy và Palepu,1993)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status