Tiểu luận Incotermes và thực tế ứng dụng tại Việt Nam - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
     MÔN : QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU
ĐỀ TÀI:

Nhóm SVTH : Nhóm 2
Lớp : K15 NT002
GVHD : TS. Bùi Thanh Tráng

Thành phố Hồ Chí Minh 04 – 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
    

MÔN : QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1. Tổng quan về Incoterms 2
1.1. Giới thiệu chung về Incoterms 2
1.2. Incoterms 2010 3
1.2.1. Giới thiệu về incoterm 2010 3
1.2.2. Một số đặc điểm nổi bật của Incoterms 2010 4
1.2.3. Các điều kiện của Incoterms 2010 8
1.2.3.1. Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải 8
1.2.3.2. Các điều khoản chỉ sử dụng cho vận tải biển hoặc thủy nội địa 13
1.3. Sự khác biệt giữa Incoterms 2000 và 2010 17
2. Tình hình xuất khẩu tại Việt Nam 18
2.2. Tại sao các doanh nghiệp VN xuất FOB 19
2.3. Lợi ích khi xuất khẩu theo CIF, CFR, CPT, CIP 20
3. Đề xuất các giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các điều CIF, CFR,
CPT, CIP khi xuất khẩu 22
KẾT LUẬN 25

việc dẫn chiếu đến Incoterms sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên,
làm giảm nguy cơ rủi ro có thể gặp phải về mặt pháp lý. Chính vì vậy các bên tham gia
giao dịch TMQT cần phải nắm rất rõ đặc điểm sử dụng của Incoterms để ứng dụng
trong các giao dịch một cách linh hoạt.

2 NỘI DUNG
1. Tổng quan về Incoterms
1.1 . Giới thiệu chung về Incoterms
 Khái niệm Incoterms:
Incoterms (International Commerce Terms - Các điều khoảnthương mại quốc
tế) là bộ qui tắc do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) phát hành để giải thích các điều
kiện thương mại quốc tế.
 Mục đích:
Mục đích của Incoterms là cung cấp một bộ qui tắc quốc tế để giải thích những
điều kiện thương mại thông dụng nhất trong ngoại thương (Incoterms 2010 đã mở rộng
cho cả thương mại nội địa).
Incoterms làm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình
chuyển hàng từ người bán đến người mua.
 Phạm vi áp dụng:
Phạm vi áp dụng của Incoterms chỉ giới hạn trong những vấn đề liên quan tới
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với việc giao
nhận hàng hóa được bán với nghĩa “hàng hóa hữu hình”, chứ không bao gồm “hàng
hóa vô hình”.
 Lý do và sự cần thiết phải sửa đổi Incoterms 2000

nguyên nhân thúc đẩy Incoterms được điều chỉnh đúng chu kỳ 10 năm/lần.
1.2. Incoterms 2010
1.2.1. Giới thiệu về incoterm 2010
 Những điều lưu ý khi sử dụng Incoterms 2010
- Dẫn chiếu các điều kiện Incoterms 2010 vào hợp đồng mua bán hàng hóa
Muốn áp dụng các quy tắc Incoterms 2010 vào hợp đồng mua bán hàng hóa thì
phải làm rõ điều đó trong hợp đồng bằng cách dùng các từ ngữ, như: “[Điều kiện được
chọn, tên địa điểm, Incoterms 2010]”.
- Lựa chọn điều kiện Incoterms phù hợp
Điều kiện Incoterms được chọn phải phù hợp với hàng hóa, phương tiện vận tải
và quan trọng hơn cả là phải xem các bên có ý định đặt ra cho người mua hoặc người
bán các nghĩa vụ bổ sung, ví dụ như nghĩa vụ tổ chức vận tải và mua bảo hiểm. Hướng
dẫn sử dụng trong từng điều kiện Incoterms cung cấp những thông tin đặc biệt hữu ích
cho việc lựa chọn các điều kiện. Dù chọn điều kiện Incoterms nào, các bên vẫn cần
biết rằng việc giải thích hợp đồng còn chi phối mạnh mẽ hơn tập quán riêng của từng
cảng hoặc từng địa phương có liên quan.

4

- Quy định nơi hoặc cảng càng chính xác càng tốt
Điều kiện Incoterms được lựa chọn chỉ làm việc tốt khi các bên chỉ định một
nơi hoặc một cảng, và sẽ là tối ưu nếu các bên quy định chính xác nơi hoặc cảng đó.
Chẳng hạn cần quy định như: “FCA 38 Cours Albert 1er, Paris, France Incoterms
2010”.
Theo các điều kiện như: Giao tại xưởng (EXW), Giao cho người chuyên chở
(FCA), Giao tại bến (DAT), Giao tại nơi đến (DAP), Giao hàng đã nộp thuế (DDP),
Giao dọc mạn tàu (FAS), Giao lên tàu (FOB), thì nơi được chỉ định là nơi diễn ra việc
giao hàng và là nơi rủi ro chuyển từ người bán sang người mua. Theo các điều kiện:
Cước phí trả tới (CPT), Cước phí và bảo hiểm trả tới (CIP), Tiền hàng và cước phí
(CFR), Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí (CIF), thì địa điểm được chỉ định khác với

Giống như các điều kiện thuộc nhóm D của Incoterm 2000, các điều kiện mới
đều là điều kiện “giao tại nơi đến”, theo đó, người bán chịu mọi chi phí (trừ các chi phí
liên quan tới thủ tục thông quan nhập khẩu, nếu có) và rủi ro trong quá trình đưa hàng
tới nơi đến được chỉ định.
 Incoterms 2010 được chia thành hai nhóm
Nếu trong Incoterms 2000 người ta đặc biệt chú ý đến đặc điểm chung của các
nhóm điều kiện, nên phân các điều kiện của Incoterms thành 4 nhóm E, F, C và D thì
trong Incoterm 2010, người ta lại chú trọng đến phương thức vận tải thích hợp được sử
dụng trong từng điều kiện nên 11 điều kiện Incoterms 2010 được chia thành hai nhóm
riêng biệt.
 Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
EXW: Giao tại xưởng
FCA: Giao cho người chuyên chở
CPT: Cước phí trả tới
CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới
DAT: Giao tại bến
DAP: Giao tại nơi đến
DDP: Giao hàng đã nộp thuế
 Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
FAS: Giao dọc mạn tàu
FOB: Giao lên tàu
CFR: Tiền hàng và cước phí
CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất này bao gồm bảy điều kiện có thể sử dụng cho bất cứ phương
tiện vận tải nào kể cả vận tải đa phương thức. Nhóm này gồm các điều kiện EXW,
FCA,CPT,CIP, DAT, DAP, DDP.

6

Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tới người

hiểm hàng hóa được sửa đổi và tính đến những thay đổi của các điều kiện này.

7

Incoterms 2010 đưa ra nghĩa vụ về thông tin liên quan tới bảo hiểm trong các
mục A3/B, mục quy định về hợp đồng vận tải bảo hiểm. Những điều khoản này được
chuyển từ mục A10/B10 trong Incoterms 2000 vốn được qui định chung chung hơn.
Ngôn từ liên quan tới bảo hiểm trong các mục A3/B3 cũng đã được hiệu chỉnh nhằm
làm rõ nghĩa vụ của các bên về vấn đề này.
Thủ tục an ninh và các thông tin cần thiết để làm thủ tục
Hiện nay, mối quan tâm về an ninh trong quá trình vận tải hàng hóa ngày càng
gia tăng, đòi hỏi phải có bằng chứng xác nhận hàng hóa không gây nguy hiểm cho con
người hoặc tài sản vì bất cứ lý do gì trừ bản chất tự nhiên của hàng hóa.
Do đó Incoterms 2010, trong các mục A2/B2 và A10/B10 của nhiều điều kiện,
đã phân chia thành nghĩa vụ giữa người mua và người bán về việc tiếp nhận sự hỗ trợ
để làm thủ tục an ninh, như là thông tin về quy trình trông nom, bảo quản hàng hóa.
Phí xếp dỡ tại bến bãi (THC)
Theo các điều kiện CPT, CIP, CFR, CIF,DAT và DDP người bán phải tổ chức
việc vận chuyển hàng hóa tới nơi đến theo thỏa thuận.
Dù người bán trả cước phí nhưng thực chất người mua mới là người chịu cước
phí và chi phí này thường đã bao gồm trong tổng giá bán. Chi phí vận tải đôi khi bao
gồm cả chi phí xếp dỡ và di chuyển hàng hóa trong cảng hoặc bến container và người
chuyên chở hay người điều hành bến bãi có thể buộc người mua trả phí này khi nhận
hàng.
Trong những trường hợp như vậy, người mua không muốn phải trả cùng một
khoản chi phí tới hai lần: một lần trả cho người bán dưới dạng tổng giá hàng và một
lần trả độc lập cho người chuyên chở hoặc người điều hành bến bãi. Incoterms 2010 đã
cố gắng khắc phục điều này bằng cách phân chia rõ ràng các chi phí này tại mục
A6/B6 của các điều kiện kể trên.
Bán hàng theo chuỗi

- Nghĩa vụ hạn chế của người mua trong việc cung cấp thông tin vềxuất khẩu
(thuế, báo cáo).
- Hỗ trợ trong việc xin giấy phép xuất khẩu, ủy quyền chính thức, thông qua an
ninh – nếu người mua yêu cầu.
Chuyển giao rủi ro
- Khi giao hàng và quyền định đoạt cho người mua tại điểm đã thống nhất (nếu
có) tại điểm giao hàng.
 FCA –Free Carrier – Giao cho người chuyên chở (tên địa điểm giao hàng)
Incoterms 2010
Người bán giao hàng

9

Đã xong thủ tục thông quan xuất khẩu cho người vận tải hoặc một người khác
do người mua chỉ định tại địa điểm đã thống nhất vào ngày đã thống nhất hoặc trong
thời hạn đã thống nhất.
Lưu ý hướng dẫn
- Địa điểm giao hàng được lựa chọn có ảnh hưởng đến các nghĩa vụ bốc/dỡ hàng
của người bán.
- Địa điểm giao hàng được lựa chọn:
 Tại cơ sở của người bán – người bán chịu trách nhiệm bốc hang.
 Tại một nơi bất kì nào khác: người bán không chịu trách nhiệm bốc
hàng, và thậm chí dỡ hàng – chỉ giao hàng cho người vận chuyển trên phương
tiện vận tải của người bán, hàng sẵn sàng để dỡ.
- Phù hợp cả với thương mại nội địa và thương mại quốc tế.
- Cần nêu rõ chỗ nào trong địa điểm giao hàng, nếu không thì người bán có
quyền lựa chọn chỗ giao hang.
- Giao vào ngày đã thống nhất hoặc trong thời hạn đã thống nhất.
Những vấn đề chính:
- Thông quan xuất khẩu, giấy phép, ủy quyền chính thức, thủ tục hải quan cho

- Hai điểm mấu chốt: giao hàng (rủi ro); và điểm đích đến
Lưu ý hướng dẫn
- Nêu rõ chỗ trong địa điểm giao hàng, nếu không thì người bán có thể chọn.
- Vào ngày đã thống nhất hoặc trong thời hạn đã thống nhất
- Nêu rõ chỗ trong địa điểm đến đã thống nhất. Nếu người bán chịu chi phí dỡ
hàng theo hợp đồng vận tải thì không được quay lại đòi người mua trừ khi hai bên đã
thống nhất từ trước Các vấn đề chính như:
 Thông quan xuất khẩu, giấy phép, ủy quyền chính thức, các thủ tục hải
quan cho xuất khẩu.
 Hợp đồng vận tải – người bán phải thuê vận tải từ điểm giao hàng đã
thống nhất đến điểm đích đã thống nhất
 CIP – Carriage and Insurance Paid To – Cước phí và bảo hiểm trả tới (tên
nơi đến quy định) Incoterms 2010
Người bán giao hàng
- Đã được thông quan cho xuất khẩu.
- Cho người vận tải hoặc người khác do chính anh ta chỉ định, sắp xếp và thanh
toán cho việc vận tải cho đến điểm đích cụ thể.
- Rủi ro đối với hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua khi hàng hóa
được giao cho người vận tải đầu tiên, người bán mua hợp đồng bảo hiểm.
- Hai điểm chính: giao hàng (rủi ro), và đích đến.

11

Lưu ý hướng dẫn
- Nêu rõ chỗ trong địa điểm giao hàng, nếu không thì người bán có thể chọn.
- Vào ngày đã thống nhất hoặc trong thời hạn đã thống nhất.
- Nêu rõ chỗ trong địa điểm đến đã thống nhất. Nếu người bán chịu chi phí dỡ
hàng theo hợp đồng vận tải thì không được quay lại đòi người mua trừ khi hai bên đã
thống nhất từ trước Các vấn đề chính:
 Hợp đồng vận tải – người bán phải thuê vận tải từ điểm giao hàng đã

- Thông quan xuất khẩu, giấy phép, ủy quyền chính thức, các thủ tục hải quan
cho xuất khẩu.
- Hợp đồng vận tải – người bán phải thuê người vận tải đến ga cụ thể tại cảng cụ
thể hay điểm đích đã được thống nhất
- Nếu không nêu ga cụ thể thì người bán có thể chọn
 DAP – Delivered At Place – Giao tại nơi đến (tên nơi đến quy định)
Incoterms 2010
Người bán giao hàng
- Người bán giao hàng, đã được thông quan cho xuất khẩu.
- Trên phương tiện vận tải đến, giao vào quyền định đoạt của người mua, trong
tình trạng sẵn sàng dỡ xuống, tại điểm đích cụ thể.
Lưu ý hướng dẫn
- Nêu rõ chỗ trong điểm đích.
- Vào ngày cụ thể hoặc trong thời hạn đã thống nhất.
Các vấn đề chính
- Thông quan xuất khẩu, giấy phép, ủy thác chính thức, các thủ tục hải quan cho
xuất khẩu.
- Hợp đồng vận tải – người bán phải thuê người vận tải đến điểm đích cụ thể.
- Nếu không nêu rõ chỗ, người bán có thể chọn.
- Nếu người bán phải chịu chi phí dỡ hàng tại điểm đích theo hợp đồng vận tải thì
không được quyền quay lại đòi người mua trừ phi hai bên có thỏa thuận từ trước.
 DDP – Delivered Duty Paid – Giao hàng đã nộp thuế (tên nơi đến quy
định) Incoterms 2010
Người bán giao hàng
- Đã thông quan cho xuất khẩu và nhập khẩi.
- Đặt vào quyền định đoạt của người mua, đã thông quan nhập khẩu trên phương
tiện vận tải đến, sẵn sàng để dỡ tại điểm đích.
- Người bán phải chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan đến việc mang hàng đến
điểm đích và có nghĩa vụ làm thủ tục thông quan cả xuất và nhập khẩu, thanh toán cả
thuế xuất và nhập khẩu, và thực hiện mọi thủ tục hải quan.

- Tuy nhiên, nếu người mua yêu cầu hoặc nếu theo thông lệ thương mại và người
mua không có chỉ thị khác kịp thời, thì người bán có thể thuê người vận tải theo những
điều khoản thông thường nhưng người mua vẫn chịu chi phí và rủi ro.
- Trong cả hai trường hợp, người bán có thể từ chối thuê người vận tải, và nếu
như vậy thì phải kịp thời thông báo cho người mua.

14

 FOB - Free On Board – Giao lên tàu (tên cảng xếp hàng qui định)
Incoterms 2010
Người bán giao hàng:
- Đã thông quan xuất khẩu.
- Lên boong tàu do người mua chỉ định tại cảng đi.
- Người bán phải giao hàng lên boong tàu hoặc mua hàng đã được giao lên
boong. Việc nói đến từ “mua” là để chỉ trường hợp mua bán nhiều lần theo chuỗi, rất
thông dụng trong buôn bán hàng nguyên liệu.
Lưu ý hướng dẫn:
- FOB có thể không phù hơp khi hàng hóa được giao cho người vận tải trước khi
được xếp lên boong tàu, ví dụ hàng hóa trong container, mà thường là được giao tại
một ga/trạm nào đó. Trong những trường hợp như vậy, nên sử dụng qui tắc FCA.
Các vấn đề chính:
- Thông quan xuất khẩu, giấy phép, ủy quyền chính thức, các thủ tục hải quan
cho xuất khẩu.
- Hợp đồng vận tải – không có nghĩa vụ
- Tuy nhiên, nếu người mua yêu cầu hoặc nếu theo thông lệ thương mại và người
mua không có chỉ thị khác kịp thời, thì người bán có thể thuê người vận tải theo những
điều khoản thông thường nhưng người mua vẫn chịu chi phí và rủi ro
- Trong cả hai trường hợp, người bán có thể từ chối thuê người vận tải, và nếu
như vậy thì phải kịp thời thông báo cho người mua
Chuyển giao rủi ro:

- Các bên nên nêu càng rõ càng tốt chỗ tại cảng đích, bởi vì các chi phí chuyển
hàng đến chỗ đó sẽ do người bán chịu.
Các vấn đề chính:
- Người bán phải thuê hoặc mua hợp đồng vận tải hàng hóa từ chỗ giao hàng
(nếu có) tại địa điểm giao hàng đến cảng đích được chỉ định, hoặc nếu đã thống nhất,
đến một chỗ cụ thể tại cảng đích đó.
- Hợp đồng vận tải phải được kí kết theo những điều khoản thông thường và
người bán chịu chi phí, và qui định vận chuyển bằng tuyến đường thông thường mà
một con tàu cùng loại thường đi để vận chuyển loại hàng hóa tương tự.
 CIF - Cost, Insurance and Freight – Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí
(tên cảng xếp hàng qui định) Incoterms 2010
Người bán giao hàng
- Đã thông quan xuất khẩu
- Lên boong tàu tại cảng đi được chỉ định và hàng đã được mua bảo hiểm

16

- Người bán phải giao hàng giao hàng lên boong tàu hoặc mua hàng đã được xếp
lên boong tàu tại cảng đi. Việc nói đến từ “mua” là để chỉ trường hợp mua bán nhiều
lần theo chuỗi, vốn rất thông dụng trong buôn bán hàng nguyên liệu.
Lưu ý hướng dẫn
- Qui tắc này có hai điểm mấu chốt bởi vì rủi ro và chi phí được chuyển giao tại
các nơi khác nhau. Mặc dù trong hợp đồng luôn nói đến cảng đích, nhưng có thể lại
không nêu tên cảng đi, mà đó mới chính là nơi rủi ro chuyển từ người bán sang người
mua. Nếu người mua đặc biệt quan tâm đến cảng đi thì hai bên nên nêu càng rõ càng
tốt về cảng đi trong hợp đồng mua bán.
- CIF có thể không phù hợp khi hàng được giao cho người vận tải trước khi được
xếp lên boong, ví dụ hàng trong container thường được giao tại ga/trạm. Trong những
trường hợp như vậy, nên sử dụng qui tắc CIP.
- Các bên nên nêu càng rõ càng tốt chỗ tại cảng đích, bởi vì các chi phí chuyển

Tiêu chí so sánh Incoterms 2000 Incoterms 2010
1
Số các điều kiện thương
mại
13 điều kiện
EXW, FCA, CPT, CIP,
DDP, FOB, FAS, CFR,
CIF, DAF, DES, DEQ,
DDU
11 điều kiện
EXW, FCA, CPT, CIP,
DDP, jFOB, FAS,
CFR, CIF, DAT, DAP
2
Số nhóm được phân
4 nhóm:
- Nhóm E: EXW
- Nhóm F: FCA, FOB,
FAS
- Nhóm C: CIP, CFR
- Nhóm D: DAF, DES,
DEQ, DDU
2 nhóm:
- Các điềju kiện áp
dụng cho mọi phương
thức vận tải: EXW,
FCA, CPT, CIP, DDP,
DAT, DAP
- Các điều kiện áp dụng
cho vận tải biển và

mục A10/B10
Qui định rõ ở mục
A3/B3
8
Thủ tục an ninh và các
thông tin cần thiết để
làm thủ tục
Qui định không rõ ràng
Có qui định A2/B2;
A10/B10
9
Phí xếp dỡ tại bến bãi
(điều kiện CPT, CIP,
CFR, CIF,DAT và
DDP)
Người mua có thể trả chi
phí hai lần: một là trong
tổng giá mua và một là
cho người chuyên chở
hay người điều hành bến
bãi
Phân chia rõ ràng chi
phí ở qui định A6/B6
10
Nơi chuyển rủi ro của
điều kiện FOB, CFR,
CIF
Lan can tàu Hàng xếp xong trên tàu
11
Bán hàng theo chuỗi

tổng chi phí đó sẽ cao hơn giá CIF trong bản chào thứ hai. Đó là do họ đã cam kết với
nhau tất cả cùng hạ phí. Hơn nữa, khi nhà sản xuất hạ giá sản phẩm nhưng có thể sẽ
được hưởng hoa hồng từ nhà bảo hiểm và hãng tàu, còn hãng tàu và nhà bảo hiểm thì
không mất chi phí tiếp thị và tìm kiếm khách hàng nên hạ giá thành thì cũng hợp lý.
Để thực hiện được điều này là do các doanh nghiệp FDI có kinh nghiệm và mạng lưới
rộng lớn trong việc xuất nhập khẩu hàng.
- Cạnh tranh về vốn
Vốn của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hay nhập khẩu một lô hàng là vốn đi
vay từ các ngân hàng, họ không đủ vốn để trả cước phí vận tải và bảo hiểm, trong khi
đó nhiều trường hợp các doanh nghiệp khi xuất khẩu được khách hàng ứng trước.
Còn các doanh nghiệp FDI thì có vốn nhiều, nguồn hàng có nên dễ tạo điều
kiện như chiết khấu cho sản phẩm hàng hóa tăng cạnh tranh đối với doanh nghiệp xuất
nhập khẩu Việt Nam.
 Hàng hóa xuất nhập khẩu
Hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô, gia công hoặc sơ chế
có giá trị thấp nên tỉ lệ cước phí so với tiền hàng khá lớn. Và đối với mặt hàng là các
sản phẩm gia công thì khách hàng họ thuê tàu cả chuyến đi và về nên doanh nghiệp
Việt Nam sẽ không xuất CIF được.Thông thường tiền cước vận chuyển chiếm từ 7%
đến 10% giá CIF của hàng hóa, nhưng do hàng xuất khẩu của Việt Nam thường cồng
kềnh, giá trị thấp, nên tỷ lệ này thường cao hơn - có mặt hàng lên tới 50%.

20

 Các doanh nghiệp FDI có sự hỗ trợ mạnh về vốn đầu tư khi các doanh
nghiệp FDI kinh doanh thua lỗ
Do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ hàng, chủ tàu, và các nhà bảo hiểm Việt
Nam nên nhiều khi có tình trạng có hàng để xuất khẩu nhưng lại thiếu tàu chở hoặc
ngược lại.
Tóm lại thực trạng xuất FOB, nhập CIF hiện vẫn đang rất phổ biến ở Việt Nam.
Dựa trên những nguyên nhân tồn tại thực trạng này, nên chăng cần nghĩ tới những biện

Xuất Khẩu

47.54 (+) 3.32 50.86 (+) 2.31
Nhập khẩu

48.55 (-) 3.65 52.2

21

- Tỷ lệ cước tàu từ 5 – 10% trên trị giá CIF, tuỳ theo tỷ trọng của hàng hoá, địa
điểm giao hàng, phương tiện vận chuyển (tàu hoặc container).
- Tỷ lệ bảo hiểm (I) và cước tàu (F): Theo bảng tính trên lấy trung bình là 7%.
Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tàu (hoặc container): Các
công ty này của Việt nam rất thiếu việc làm, nếu các nhà xuất khẩu liên hệ mua bảo
hiểm hàng hoá và thuê tàu (container) trong nước, chắc chắn sẽ làm tăng doanh số cho
các doanh nghiệp này, giải quyết thêm việc làm cho cộng đồng của chúng ta, hơn là để
các công ty nước ngoài thu được phí bảo hiểm và cước tàu.
Đối với các cán bộ nghiệp vụ trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Theo
thông lệ của các công ty bảo hiểm và hãng tàu, luôn luôn trích lại một tỷ lệ gọi là “tiền
hoa hồng - commission” cho những người giao dịch trực tiếp với họ. Số tiền này
không hề ảnh hưởng đến tiền hàng (cost) của doanh nghiệp. Thay vì phí bảo hiểm và
cước tàu nước ngoài được hưởng, nếu các cán bộ nghiệp vụ trình Giám đốc phương án
xuất khẩu theo điều kiện CIF, thì họ rất xứng đáng được nhận khoản hoa hồng trên,
chúng ta không nên coi đó là tiền hối lộ, như lâu nay nhiều người thường quan niệm.
 Tăng nguồn vốn vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp
Nếu xuất khẩu theo điều kiện nhóm C, sẽ thu được trị giá ngoại tệ cao hơn, so
với việc xuất khẩu theo điều kiện nhóm F. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thiếu vốn, có
thể dùng thư tín dụng (L/C) thế chấp tại ngân hàng, sẽ vay được số tiền cao hơn.
Doanh nghiệp rất chủ động trong việc giao hàng, không phải lệ thuộc vào việc điều tàu
(hoặc container) do người nhập khẩu chỉ định. Đôi khi vì lệ thuộc vào khách nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status