TIỂU LUẬN
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỌC THUYẾT
QUẢN TRỊ MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 4
I) Lý do chọn đề tài 4
II) Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
III) Giới hạn – phạm vi nghiên cứu 5
IV) Phương pháp nghiên cứu 5
V) Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
Phần 2: NỘI DUNG 7
I) Bối cảnh lịch sử 7
1. Những vấn đề về tổ chức và quản trị trước thế kỷ 18 7
2. Hai sự kiện quan trọng trước thế kỷ 20 8
2. Trường phái quản trị châu Á 38
2.1/ Thuyết KAIZEN 38
2.2/ Thuyết Z 39
IV) Kết luận 41
Phần 3: TỔNG KẾT 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
4
Phần 1
MỞ ĐẦU
I) LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, quản trị là một lĩnh vực rất được nhiều người quan tâm. Nó không
chỉ tồn tại ở những tổ chức, công ty có quy mô lớn mà còn hiện diện ngay trong
cuộc sống hàng ngày, hết sức phổ biến và vô cùng cần thiết. Để tồn tại trong xã
hội, không ai có thể sống riêng lẻ một mình mà cần sự giúp đỡ, hợp tác từ mọi
người. Từ chính những nhu cầu đó, quản trị đã hình thành và phát triển, tạo ra sự
thống nhất, giúp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Quản trị là một lĩnh vực khoa học. Nó hình thành nên cơ sở lý thuyết về quản
trị tổ chức, tích lũy nhiều năm và kế thừa kết quả của nhiều môn khoa học khác
như: toán học, kinh tế học,….Để giải quyết vấn đề quản trị, chúng ta cần phải sử
dụng những suy luận khoa học chứ không phải là ý kiến chủ quan của cá nhân.
Bên cạnh đó, tính linh hoạt áp dụng của mỗi người quản trị trong thực tiễn đời
sống là khác nhau, thể hiện mặt nghệ thuật của quản trị. Nói tóm lại, quản trị là
một lĩnh vực rất thú vị, nó là sự kết hợp tuyệt vời của cả khoa học và nghệ thuật.
Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, đã có rất nhiều học thuyết quản trị ra
đời, từ những tư tưởng sơ khai, cổ điển thời F.Taylor đến những tư tưởng hiện đại
ngày nay, mỗi học thuyết có những đúc kết, giải thích hiện tượng và dự đoán
2. Quan sát, tổng kết từ thực tiễn: Đưa ra ví dụ, dẫn chứng minh họa
cho từng học thuyết, những tình huống thực tế.
3. So sánh: Phân tích ưu, khuyết đối chiếu giữa những học thuyết hay
giữa từng thời kì với nhau.
V) TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu nhóm tác giả tìm thấy tiểu luận của sinh
viên Nguyễn Thị Mỹ Ngọc
với đề tài: Các lý thuyết quản trị
(*)
. Đề tài này tập
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
6
trung nghiên cứu các tư tưởng quản trị nửa đầu thế kỉ 20, có nhận xét về đóng
góp, hạn chế và đưa ra ví dụ minh họa.
Đánh giá chung:
Với đề tài: “ Sự phát triển của các học thuyết quản trị”, nhóm tác giả
một phần kế thừa những nghiên cứu đã có, làm tiền đề phân tích, bổ
sung, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn.
Cái mới của đề tài này so với tiểu luận của sinh viên Nguyễn Thị Mỹ
Ngọc là phạm vi nghiên cứu rộng hơn. Nhóm tác giả có bổ sung thêm
trường phái hội nhập trong quản trị (quản trị tiến trình, quản trị theo
tình huống) và trường phái quản trị hiện đại. Từ đó cung cấp một cái
nhìn tổng quát hơn về sự phát triển, tiến bộ qua từng giai đoạn của các
học thuyết. Bên cạnh đó, đề tài này còn so sánh giữa các học thuyết
cũng như từng giai đoạn thời kì với nhau.
trong kho, chức năng nhân sự để quản lý lực lượng lao động và một hệ thống kế
toán để theo dõi doanh thu và chi phí.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
8
2. Hai sự kiện quan trọng
Những ví dụ trong quá khứ đã chứng tỏ các tổ chức đã tồn tại khoảng vài
nghìn năm và công việc quản lý cũng được thực hiện trong khoảng thời gian tương
đương. Tuy nhiên hai sự kiện xảy ra trước thế kỷ 20 đã đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc thúc đẩy việc nghiên cứu hoạt động quản trị.
Học thuyết kinh tế cổ điển của Adam Smith năm 1776
Trong tác phẩm The Wealth of Nations, Adam Smith đã chỉ ra những lợi thế
kinh tế mà các tổ chức hay một xã hội có thể đạt được từ sự phân công lao động, tức
là phân chia các công việc tổng thể thành các nhiệm vụ nhỏ hơn và lặp đi lặp lại.
Ông đã đi đến kết luận rằng phân công lao động sẽ làm tăng năng suất nhờ tăng kỹ
năng cũng như sự khéo léo của từng công nhân và tiết kiệm được thời gian mất đi
trong việc thay đổi thao tác, và bằng các phát minh ra máy móc tiết kiệm sức lao
động. Trong thế giới hiện nay, rất nhiều ví dụ đã chứng minh cho học thuyết của
Adam Smith như các bác sĩ trong một ca phẫu thuật đảm nhiệm các thao tác khác
nhau theo thứ tự, các nhân viên làm việc trong nhà bếp đảm nhiệm các khâu chuẩn
bị thức ăn hoặc rõ ràng nhất là trong một đội bóng, các cầu thủ chơi ở các vị trí khác
nhau thì thực hiện các nhiệm vụ khác nhau nhưng họ đều phối hợp với nhau để đạt
được kết quả tốt nhất.
Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đầu thế kỷ 18
Đóng góp chủ yếu của cuộc Cách mạng công nghiệp là thay thế sức người
bằng sức máy và kết quả là đã làm cho việc sản xuất hàng hóa diễn ra tại các công
xưởng kinh tế thay vì tại gia đình. Các công xưởng này hoạt đông chủ yếu nhờ máy
móc chạy nên rất cần kỹ năng quản trị của con người. Do đó, nhà quản trị là người
sẽ dự đoán và quyết định nhu cầu nguyên vật liệu cần cho sản xuất, phân công
10
Frederick Winslow Taylor (F. W. Taylor)
sinh năm 1856, trong một gia đình giàu có ở
Philadelphia, Pennsylvania. Sau khi tốt nghiệp, Taylor
học tại trường ĐH Luật Harvard.
Sự nghiệp của Taylor tiến triển vào năm 1878
khi ông trở thành một người lao động ở cửa hàng máy
tại Midvale Steel Works. Tại Midvale, Taylor được
thăng chức thành quản đốc, giám đốc nghiên cứu, và
cuối cùng là kỹ sư trưởng của công trình.
1.2/ Học thuyết
a) Hoàn cảnh ra đời
Taylor - một kỹ sư cơ khí tại nhà máy thép Midvale & Bethlehem- luôn cảm
thấy lo lắng về năng suất kém của công nhân. Những người công nhân làm cùng
một việc nhưng lại sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, vừa làm vừa nghỉ ngơi.
Taylor tin rằng năng suất của những người công nhân đó chỉ bằng một phần ba so
với khả năng anh ta có thể làm được. Lúc đó chưa có khái niệm về tiêu chuẩn làm
việc, công nhân không quan tâm đến khả năng và năng khiếu cần có để thực hiện
công việc. Nhà quản trị và công nhân lại thường xuyên xung đột. Taylor đã phải
mất hơn hai thập kỉ theo đuổi một cách nhiệt tình triết lý “cách tốt nhất” cho mỗi
công việc cần thực hiện. Kinh nghiệm làm việc ở nhà máy Midvale đã giúp Taylor
xác định được những nguyên tắc định hướng rõ ràng để nâng cao hiệu suất sản xuất.
b) Nội dung
Quản lý theo khoa học (còn được gọi là Chủ nghĩa Taylor - Taylorism,
Phương pháp Taylor - Taylor system, Luật phối hợp cổ điển - Classical Perspective)
là lý thuyết quản lý dựa trên quá trình phân tích, tổng hợp các quy trình công việc
Frederick Winslow Taylor
(29/31856 – 21/3/1915)
lệ về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực
của công nhân.
4. Phân chia công việc và trách nhiệm giữa người quản trị và công nhân. Các
nhà quản trị thực hiện tất cả các công việc phù hợp với họ thay vì để công
nhân làm hết.
Ví dụ: Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý. Cấp cao tập
trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp
dưới làm chức năng điều hành cụ thể. Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức
năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục.
1.3/ Đánh giá
Ưu điểm
Tối ưu hóa quá trình sản xuất (qua hợp lý hóa lao động, xây dựng định mức
lao động).
Tiêu chuẩn hóa phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp; phân công
chuyên môn hóa (đối với lao động của công nhân và đối với các chức năng
quản lý)
Cuối cùng là tư tưởng “con người kinh tế” (qua trả lương theo số lượng sản
phẩm để kích thích tăng năng suất và hiệu quả sản xuất).
Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp, tạo
được bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XX
cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy.
Khuyết điểm
Định mức lao động ngặt nghèo đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực.
Công nhân bị gắn chặt với dây chuyền sản xuất, làm việc như người máy biết
nói. Tâm sinh lý của họ bị biến dạng, nhân cách khủng khoảng.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
13
Việc ứng dụng quản lý theo khoa học đôi khi gặp thất bại bởi hai khó khăn
cố hữu:
Nó không kể đến sự khác biệt cá nhân, đó là việc cách thức làm việc
Những hướng dẫn của Taylor và những người khác đưa ra đến nay vẫn được
sử dụng trong công tác tổ chức. Khi các nhà quản trị tiến hành phân tìch các nhiệm
vụ cơ bản cần phải thực hiện, sử dụng nghiên cứu thời gian và thao tác để loại bỏ
những thao thác thừa, thuê những công nhân có tay nghề cao đáp ứng được công
việc…chính là họ đang áp dụng quản trị bằng phương pháp khoa học.
2. Học thuyết quản trị hành chính
Hai nhà nghiên cứu nổi bật nhất của trường phái quản trị hành chính là Henri
Fayol và Max Weber.
2.1. Max Weber
2.1.1/ Tác giả
Maximilian Carl Emil Weber (1864-1920)
là nhà kinh tế chính trị học và xã hội học người
Đức, ông được nhìn nhận là một trong bốn người
sáng lập ngành xã hội học và quản trị công đương
đại.
Các công trình nghiên cứu chính của Weber
tập trung vào việc hợp lý hóa ngành xã hội học tôn
giáo và chính quyền học, nhưng ông cũng đóng góp
đáng kể cho ngành kinh tế học. Tác phẩm nổi tiếng
nhất của ông là “Đạo đức Kháng Cách và tinh thần
chủ nghĩa tư bản”, đánh dấu sự khởi đầu của một loạt khảo cứu của ông về ngành
xã hội học tôn giáo.
Max Weber
(21/4/1864-14/6/1920)
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
15
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
16
là lý luận tổ chức xí nghiệp. Tác phẩm nổi tiếng của ông là “Quản trị công nghiệp
và quản trị tổng quát” (1916)
2.2.2/ Học thuyết
a) Hoàn cảnh ra đời
Fayol tiến hành nghiên cứu cùng thời điểm với Taylor. Nhưng trong khi
Taylor tập trung vào việc quản trị ở cấp thấp nhất trong tổ chức và sử dụng phương
pháp khoa học thì Fayol lại tập trung trực tiếp vào tất cả các họat động của tất cả
các nhà quản trị. Fayol viết ra từ kinh nghiệm bản thân với tư cách là người thực
hành vì ông là giám đốc điều hành của một công ty khai thác mỏ rất lớn ở Pháp.
b) Nội dung
Tư tưởng chủ yếu của thuyết Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể tổ
chức quản lý xí nghiệp, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ
máy lãnh đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý. Ông cho rằng thành
công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu
nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ sử
dụng. Với các nhà quản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới
thì khả năng chuyên môn là quan trọng nhất. Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ
thống kinh doanh hiện đại, và từ những nguyên lý đó (trong công nghiệp) có thể vận
dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc lĩnh vực khác.
Chức năng quản lý chỉ tác động đến con người, là sự quản lý của tổ chức xã
hội đối với con người (không phải là trực tiếp tác động đến nguyên liệu, thiết bị…).
Với quan niệm đó, thực chất thuyết Fayol là lý thuyết về tổ chức xã hội. Cũng qua
đó, Fayol phân biệt rõ lãnh đạo với quản lý, trong đó quản lý chỉ là một công cụ bảo
đảm sự lãnh đạo nhằm đạt được mục đích của cả tổ chức; và do đó hoạt động chủ
yếu của người lãnh đạo là phát huy cao tác dụng của quản lý, thông qua hoạt động
quản lý để thúc đẩy các hoạt động của tổ chức.
2. Quyền hạn và trách nhiệm: Các nhà quản trị phải có nhiệm vụ đưa ra mệnh
lệnh. Quyền hạn tạo cho họ quyền này.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
18
3. Kỷ luật: Nhân viên phải tuân thủ và tôn trọng những nguyên tắc do tổ chức
đề ra.
4. Thống nhất mệnh lệnh: Mọi nhân viên chỉ nhận mệnh lệnh từ một người cấp
trên duy nhất.
5. Thống nhất định hướng: Tổ chức phải có một kế hoạch hành động duy nhất
để định hướng các nhà quản trị và nhân viên.
6. Lợi ích cá nhân đặt dưới lợi ích chung: Lợi ích của bất kì nhân viên hay một
nhóm nhân viên nào không được đặt trên lợi ích của cả tổ chức.
7. Trả lương: Công nhân phải được trả lương công bằng tương xứng với lao
động của họ.
8. Mức độ Tập trung hóa: Mức độ trong đó cấp dưới tham gia vào quá trình ra
quyết định.
9. Dây chuyền quyền lực: Đường quyền hạn từ cấp quản trị cao nhất đến những
cấp thấp nhất trong dây chuyền quyền lực hình thang.
10. Trật tự: Con người và nguyên vật liệu cần được sắp xếp đúng chỗ, đúng lúc.
11. Công bằng: Quản trị viên phải đối xử tốt và công bằng đối với cấp dưới.
12. Ổn định nhân sự: Nhà quản trị phải có được những kế hoạch nhân nhân sự
hợp lý và đảm bảo luôn có đủ người bổ sung vào các chỗ trống.
13. Tự chủ và sáng tạo: Nhân viên được phép phát triển và triển khai những kế
hoạch sẽ có nỗ lực cao trong công việc.
14. Tinh thần đồng đội: Khuyến khích tinh thần đồng đội từ đó tạo nên sự hòa
hợp thống nhất bên trong tổ chức.
Trong 14 nguyên tắc đó, nguyên tắc 4 (thống nhất chỉ huy) và nguyên tắc 9 (hệ
thống cấp bậc) được coi là hai nguyên tắc quyết định, phản ánh thực chất của
thuyết quản lý Fayol.
2.2.3/ Đánh giá
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
20
yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của
con người.
Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi
các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại
nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của
con người, một yếu tố quan trọng để quản trị
3.2/ Học thuyết
Trường phái này có các tác giả sau:
- Robert Owen (1771 - 1858): là kỹ nghệ gia người Anh, là người đầu tiên nói đến
nhân lực trong tổ chức. Ông chỉ trích các nhà công nghiệp bỏ tiền ra phát triển máy
móc nhưng lại không chú ý đến sự phát triển nhân viên của doanh nghiệp.
- Hugo Munsterberg (1863 - 1916): nghiên cứu tâm lý ứng dụng trong môi trường
tổ chức, ông được coi là cha đẻ của ngành tâm lý học công nghiệp. Ông cho rằng
năng suất lao động sẽ cao hơn nếu công việc giao phó cho họ được nghiên cứu phân
tích chu đáo, và hợp với những kỹ năng cũng như tâm lý của họ.
- Mary Parker Follett (1863 - 1933): là nhà nghiên cứu quản trị ngay từ những năm
20 đã chú ý đến tâm lý trong quản trị, bà có nhiều đóng góp có giá trị về nhóm lao
động và quan hệ xã hội trong quản trị.
- Abraham Maslow (1908 - 1970): là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý thuyết về
nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao theo thứ tự: (1) nhu
cầu vật chất, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng và
(5) nhu cầu tự hoàn thiện.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
21
T
T
ự
ự
t
t
ô
ô
n
nt
t
r
r
ọ
ọ
n
n
g
gN
N
h
h
u
uc
c
ầ
ầ
u
ua
a
n
nt
t
o
o
à
à
n
nN
N
h
h
u
u
Quan điểm cơ bản của lý thuyết này cũng giống như quan điểm của lý thuyết
quản trị khoa học. Họ cho rằng sự quản trị hữu hiệu tùy thuộc vào năng suất lao
động của con người làm việc trong tập thể. Tuy nhiên, khác với ý kiến của lý thuyết
quản trị khoa học, lý thuyết tâm lý xã hội cho rằng, yếu tố tinh thần có ảnh hưởng
mạnh đối với năng suất của lao động.
Từ nhận thức đó, các nhà lý thuyết tâm lý quản trị cho rằng các nhà quản trị
nên thay đổi quan niệm về công nhân. Họ không phải là những con người thụ động,
thích được chỉ huy, thích được giao việc cụ thể. Trái lại, họ sẽ làm việc tốt hơn,
năng suất cao hơn, phát huy sáng kiến nhiều hơn, nếu được đối xử như những con
người trưởng thành, được tự chủ động trong công việc. Ngoài ra, nhà quản trị phải
cải thiện các mối quan hệ con người trong tổ chức, từ mối quan hệ giữa thủ trưởng
với nhân viên, đến mối quan hệ giữa các đồng sự ngang hàng, vì con người sẽ làm
việc tốt hơn trong một môi trường quan hệ thân thiện.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
22
- D. Mc. Gregor (1906 - 1964): Mc. Gregor cho rằng các nhà quản trị trước đây đã
tiến hành các cách thức quản trị trên những giả thuyết sai lầm về tác phong và hành
vi của con người. Những giả thiết đó cho rằng, phần đông mọi người đều không
thích làm việc, thích được chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm, và hầu hết mọi người
làm việc vì lợi ích vật chất, và như vậy các nhà quản trị đã xây dựng những bộ máy
tổ chức với quyền hành tập trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với một hệ
thống kiểm tra giám sát chặt chẽ. Gregor gọi những giả thiết đó là X, và đề nghị
một giả thuyết khác mà ông gọi là Y. Thuyết Y cho rằng con người sẽ thích thú với
công việc nếu được những thuận lợi và họ có thể đóng góp nhiều điều hơn cho tổ
chức. Mc Gregor cho rằng thay vì nhấn mạnh đến cơ chế kiểm tra thì nhà quản trị
nên quan tâm nhiều hơn đến sự phối hợp hoạt động.
Thuyết X Thuyết Y
- Con người không thích làm việc, ít
khát vọng.
quan tâm đến yếu tố ngoại lai.
4. Lý thuyết định lượng trong quản trị
4.1/ Tác giả
Những tác giả tiêu biểu cho lý thuyết này có thể kể đến Robert McNamara và
Charles Tex Thornton.
4.2/ Học thuyết
a) Hoàn cảnh ra đời
Thế chiến thứ II đặt ra nhiều vấn đề mới cho quản trị. Nước Anh đã thành
lập một đội nghiên cứu hành quân để chống lại quân Đức. Kết thúc thế chiến thứ II,
các nhà công nghiệp Mỹ ngày càng quan tâm và áp dụng các kỹ thuật định lượng
vào việc nghiên cứu, nhằm tăng tính chính xác của các quyết định quản trị. Trong
bối cảnh đó, một lý thuyết mới ra đời: lý thuyết định lượng về quản trị. Lý thuyết
này được gọi với nhiều tên khác nhau: lý thuyết hệ thống, lý thuyết định lượng về
quản trị, lý thuyết khoa học quản trị. Tất cả tên gọi này nhằm để biểu đạt ý nghĩa về
lý thuyết quản trị mới này được xây dựng trên nhận thức cơ bản rằng: “Quản trị là
quyết định” và muốn việc quản trị có hiệu quả, các quyết định phải đúng đắn.
Sự phát triển của các học thuyết quản trị
24
b) Nội dung
Do sự bùng nổ của cách mạng thông tin, xã hội loài người có những chuyển
biến mang tính cách mạng mạnh mẽ, dẫn đến những sự thay đổi mang tính cách
mạng trong việc đưa khoa học kỹ thuật vào quá trình lao động. Cùng với những trào
lưu này, trường phái quản trị định lượng với cơ sở là lý thuyết quyết định, đã áp
dụng thành công thống kê vào quá trình làm quyết định và đặc biệt là sự phát triển
của môi trường toán kinh tế với sự trợ giúp đắc lực của máy tính điện tử.
Khác xa với quan điềm của hai trường phái quản trị khoa học và tâm lý xã
hội xem năng suất lao động là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của
quá trình lao động, lý thuyết định lượng về quản trị nhấn mạnh và đề cao tính đúng
biến đổi sẽ trở thành những sản phẩm hay dịch vụ. Sự thành công của hệ thống
doanh nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào mối quan hệ với môi trường. Những sản
phẩm, dịch vụ ở đầu ra nếu có lợi nhuận sẽ bù đắp những chi phí đã bỏ ra ở yếu tố
đầu vào, nếu dư thừa để đầu tư phát triển và cải thiện đời sống nhân viên. Nếu
không đủ để bù đắp chi phí, doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ và khó có thể tồn tại.
Trường phái định lượng trong quản trị tiếp cận trên 3 hướng cơ bản là quản
trị khoa học, quản trị tác nghiệp và quản trị hệ thống thông tin.
Quản trị khoa học
Một trong những áp dụng chính của trường phái này là quản trị khoa học.
Chúng ta cần phân biệt quản trị khoa học ở đây với trường phái khoa học quản trị
của Taylor ra đời đầu thế kỷ này. Quản trị khoa học là áp dụng những mô hình toán
học và xác suất thống kê dưới sự trợ giúp của máy tính điện tử vào quá trình ra
quyết định. Khoa học quản trị có nguồn gốc sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi kỹ
thuật chiến tranh phát triển mạnh, nhu cầu ứng dụng các kiến thức định lượng và tối
ưu hoá ngày càng bức thiết. Hơn nữa các quá trình sản xuất ngày càng phức tạp
hơn so với phương pháp quản trị truyền thống. Sự liên kết giữa các phương pháp tổ
chức sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp vũ khí với sản xuất dân dụng là tiền đề để
xuất hiện khảo hướng này.