Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Tiểu luận
Các học thuyết quản
trị nhân lực Phương
Đông
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
1
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
MỤC LỤC
Lời nói đầu:
Quản lý là một hoạt động đã có từ rất lâu đời nhưng khoa học quản lý là một
ngành khoa học còn mới mẻ và được nhiều người quan tâm. Theo thời gian đã tồn tại
nhiều lý thuyết, nhiều trường phái tư tưởng quản lý đa dạng khác nhau. Mỗi học thuyết
dù "già" hay "trẻ" đều có giá trị lịch sử và khoa học nhất định, mà những người quan
tâm tới lý thuyết cũng như thực hành quản lý đều cần phải biết để tìm được những tri
thức cần thiết với những giải pháp thích hợp cho công việc của mình. Phương Đông cổ
đại là cái nôi của sự xuất hiện các tư tưởng và học thuyết về quản trị. Nổi bật trong các
tư tưởng này phải kể đến đó là các học thuyết quản trị Phương Đông từ thời Xuân Thu
– Chiến Quốc. Ông tổ của các học thuyết này – người đặt nền móng đầu tiên cho các tư
tưởng quản trị nhân lực là Khổng Tử - với trường phái “Đức trị”; và Hàn Phi Tử - tiểu
biểu cho trường phái “Pháp trị”.
Nhóm 12 sẽ cùng thầy cô và các bạn nghiên cứu làm rõ hệ thống các tư tưởng
này, phân tích về ưu và nhược điểm của từng trường phái; những thuận lợi và khó khăn
khi áp dụng những quan điểm quản lý của từng trường phái trên vào hệ thống quản lý
của các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế phát triển như hiện nay.
Dù đã rất nỗ lực và cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu và
kiến thức còn hạn hẹp nên nội dung của đề tài không tránh khỏi thiếu sót, rất mong
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
2
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
nhận được sự đóng góp ý kiến của Cô và các nhóm còn lại trong lớp để bài tiểu luận
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
3
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói
đến đạo đức. Đúng như thiên "Học Nhi" - sách Luận ngữ đã viết: "Làm người có nết
hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không thích xúc phạm bề trên mà thích làm
loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm chú vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức
sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của đức nhân "
Trước thời Khổng Tử đã xuất hiện khái niệm quân tử. "Nhưng thời đó nó trỏ cái
địa vị trong xã hội, chứ không trỏ cái phẩm tính con người. Người có phận cao (tối đại
đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị dân, có đức hay không đều gọi là quân tử". Đến
thời mình, Khổng Tử đã đề ra những tiêu chuẩn về tài đức, về tư cách phẩm chất để
thành người quân tử đáng được nắm quyền trị dân, nhờ đó tiếng quân tử không còn
thuần tuý chỉ người cầm quyền như trước nữa, mà chủ yếu là có nghĩa chỉ người có
đức dù họ cầm quyền hay không.
Mặc dù coi trọng hiếu đức như vậy nhưng quan niệm của Khổng Tử không khắt
khe, nghiệt ngã, một chiều mà rất đúng mực "Thờ cha mẹ, nên nhỏ nhẹ khuyên can;
nếu thấy cha mẹ không theo ý mình thì vẫn cung kính mà không xúc phạm cha mẹ; tuy
khó nhọc, lo buồn nhưng không được oán hận". Có thể nói quan niệm này của Khổng
Tử nếu đặt trong bối cảnh xã hội hiện đại vị tất đã lỗi thời mà vẫn gợi lên cho chúng ta
nhiều suy nghĩ.
Sau hiếu, đễ, nói đến "đức" là nói đến tính thiện. Khổng Tử quan niệm: "Bản tính
tốt chẳng phải học tập theo cổ nhân mà cũng tốt, nhưng không đạt được mức tinh vi
của đạo". Người có "đức", có tính thiện thì "thấy việc thiện thì vội vàng như đuổi theo
không kịp, thấy việc bất thiện thì như nhúng tay vào nước sôi". Nhưng điều chủ yếu
"đức" không phải chỉ là thiện đức mà là hành động. Khổng Tử nói: "Biết (đạo lý)
không bằng thích nó, thích nó không bằng vui làm theo nó" và "nghe được điều nghĩa
mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi đó là những mối lo của ta".
Như vậy, đức là lời nói đi đôi với việc làm đúng như Khổng Tử đã nói: "Người
xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được" và "Người quân tử
xuống, bằng con đường “Đức trị”.
Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti,
trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy,
đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua
chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân
bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội
đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều
trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì
khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”.Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai
giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình
mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường
quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia.
Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật
tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho - đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về
chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục
đích của ông chính là xây dựng một xã hội nhân bản.
3.1. Đạo nhân về quản lý.
Với vũ trụ quan “thiên, địa, nhân - vạn vật nhất thể”, trời và người tương hợp,
Khổng Tử nhận thấy các sự vật của vạn vật tuân theo một quy luật khách quan mà ông
gọi là trời “mệnh trời”. Con người theo Nho học “là cái đức của trời, sự giao hợp âm
dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”. Con người sinh ra đều có
bản chất Người (đức - nhân) nhưng do trời phú khác nhau về năng lực, tài năng và
hoàn cảnh sống (môi trường) khác nhau cho nên đã trở thành những nhân cách không
giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện
bản chất người của mình - trở thành người Nhân. Và những người hiền này có xứ mệnh
giáo hoá xã hội, thực hiện nhân hoá mọi tầng lớp. Nhờ vậy, xã hội trở nên có nhân
nghĩa và thịnh trị. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
5
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
đáng yêu, ghét người đáng ghét.
3.1.5. Nhân và Dũng:
Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn.
Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân,
là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân
của loạn.
Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân - Trí - Dũng là những phẩm
chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó
của Khổng Tử được Hồ Chí Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
6
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
với sự phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ
thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt
được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên
chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra
nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới
và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng
đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước
nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài
lâu là môi trường chính trị - xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục
tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp.
Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu
lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”.
Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người
nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của
họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ:
“Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang
nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã
đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã
thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức,
là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý
đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết.Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ
giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn
của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là:
Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng
Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng
qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện.
So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung
Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị,
nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử,
nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu
“vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó
chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ
khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư
tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là
cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó
là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay
thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có
“thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của
Khổng Tử.
Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành
công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải
thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải
chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi.
3.2. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp.
Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và
phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và
tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn
xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một
Nội dung thuyết Đức trị có hạn chế là vị thế và vai trò của pháp chế và lợi
ích kinh tế đối với xã hội không được coi trọng
Thiếu tính răn đe trong quản trị nhân lực
Trường phái Đức trị của Khổng Tử chỉ đề ra nguyên lý, không cụ thể hóa
thành thao tác và quy trình
Đức trị dựa vào giáo hoá, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề. Như vậy,
hiệu quả sẽ nhìn thấy chậm. Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lí tưởng,
xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một
sớm một chiều.
II. Trường phái pháp trị.
1. Hàn Phi Tử - cuộc đời và sự nghiệp
Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được đời sau nhắc đến nhiều là thời Xuân Thu và
thời Chiến Quốc, Thời Xuân Thu (770- 403 TCN) là thời kỳ suy tàn của nhà Chu, cũng
là thời của Lão Tử, Khổng Tử. Còn thời Chiến Quốc (403-221 TCN) là thời của Hàn
Phi Tử.
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
9
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 TCN) là người nước Hàn, học rộng, biết cả đạo
Nho lẫn đạo Giáo nhưng ông lại tâm đắc với học thuyết của Pháp gia và có tư tưởng
mới về pháp trị. Tuy thuộc tầng lớp quý tộc nhưng ông có tinh thần yêu nước, tiến bộ,
trọng kẻ sĩ, trọng người giỏi pháp thuật, chê bọn quý tộc, cổ hủ, vô dụng. Ông đã tiếp
thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế”để xây dựng và phát triển
một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi
pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã
đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản
trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân
biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Với những tư tưởng đó, học
thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.
Theo ông, muốn cho nước Hàn mạnh (một nước nhỏ, yếu nằm sát nước Tần, luôn
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Sở dĩ tư tưởng chính trị của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông có
một quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn. Khác với Khổng Mạnh mượn đời xưa để
phê phán đời nay hay lấy cái quá khứ được tuyệt đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi cho
rằng, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt nguồn từ chính thực
tiễn của đất nước. Các nhà Nho trên mây trên gió bàn việc chính sự chẳng qua chỉ như
trẻ con nghịch đất, không thể đem lại hiệu quả thực tế: “Trẻ con đùa nghịch với nhau
lấy đất làm cơm, lấy bùn làm canh, lấy gỗ làm thịt. Nhưng chiều đến, thế nào cũng trở
về nhà ăn cơm. Cơm đất, canh bùn có thể đùa để chơi, nhưng không thể dùng để ăn.
Khen những điều truyền tụng từ thượng cổ, hùng biện mà không chắc chắn, nói chuyện
nhân nghĩa của các tiên vương mà không biết sửa đổi nước, thì đó cũng đều là những
điều có thể dùng để đùa chơi chứ không dùng để trị nước”.
Trong khi Khổng Tử cho rằng bản chất của con người là "thiện" thì Tuân Tử, một
học trò của ông lại cho rằng bản chất của con người là "ác". Hàn Phi Tử là học trò của
Tuân Tử cũng cho rằng con người có "tính bản ác". Tuân Tử nói đến tính ác để khuyên
nhà cầm quyền dùng đức trị, uốn nắn lại tính cho dân, còn Hàn Phi Tử chủ trương dùng
hình phạt để ngăn ngừa những hành động của dân có hại cho nước. Theo Hàn Phi Tử,
chỉ có một số rất ít thánh nhân có tính bản thiện, còn đại đa số vốn có tính ác: tranh
nhau vì lợi, sẵn sàng giết nhau vì miếng ăn hay chức vị, làm biếng, khi có dư ăn rồi thì
không muốn làm gì nữa, chỉ phục tùng quyền lực. Ông viết: "Thầy lang khéo mút vết
thương, ngậm máu bệnh nhân đâu phải vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi. Thợ đóng xe
mong cho nhiều người giàu sang, còn thợ đóng quan tài mong có nhiều người chết.
Không phải là thợ đóng xe có lòng nhân còn thợ đóng quan tài thì tàn nhẫn, chỉ vì
người ta không giàu sang thì không mua xe, không chết thì quan tài không bán được.
Thợ đóng quan tài không phải là kẻ ghét người nhưng có người chết thì anh ta mới có
lợi".
Có thể thấy Hàn Phi Tử là người duy lý, duy lợi, theo chủ nghĩa thực dụng. Song,
ông có một trí tuệ sâu sắc, đã vì sự tồn vong của đất nước mình mà chịu cái chết bi
thảm, tuy biết trước đó là số phận chung của các Pháp gia có tài, có tâm, nhiệt thành
yêu nước. Đặc biệt, Hàn Phi Tử đã vượt xa thời đại mình khi nêu ra tư tưởng đấu tranh
để hại dân. Các điều luật minh bạch là phương thức phòng bị tích cực, chứ không phải
là một thủ đoạn chế tài tiêu cực. Đồng thời, nó cũng chính là “hiến lệnh” – một công cụ
- để vua cai trị thần dân. Nội dung chủ yếu của “pháp” có thể quy về 2 khái niệm chủ
yếu là “thưởng” và “phạt”.
Thực hành pháp trị tất phải xây dựng pháp luật. Hàn Phi cho rằng, lập pháp
cần phải xét đến các nguyên tắc sau:
Tính tư lợi.
Hàn Phi quan niệm nền tảng của quan hệ giữa con người với con người là tư
lợi, ai cũng muốn giành cái lợi cho mình. “Ông thầy thuốc khéo hút mủ ở vết thương
người ta, ngậm máu người ta không phải vì có tình thương cốt nhục, chẳng qua làm thế
thì có lợi. Cho nên, người bán cỗ xe làm xong cỗ xe thì muốn người ta giàu sang.
Người thợ mộc đóng xong quan tài thì muốn người ta chết non. Đó không phải vì
người thợ đóng cỗ xe có lòng nhân, còn người thợ đóng quan tài không phải ghét người
ta, nhưng cái lợi của anh ta là ở chỗ người ta chết”. Luật pháp đặt ra thì cái lợi của nó
phải lớn hơn cái hại.
Hợp với thời thế.
Đây chính là thuyết biến pháp của Hàn Phi. Nguyên tắc thực tế của việc xây
dựng pháp luật, hay tính thực tiễn của luật pháp, là nét nổi bật trong tư tưởng pháp trị
của Hàn Phi. Đối với ông, không có một pháp luật siêu hình hay một mô hình pháp luật
trừu tượng tiên thiên để mà noi theo. Chỉ duy nhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực
tiễn. “Pháp luật thay đổi theo thời thì trị; việc cai trị thích hợp theo thời thì có công
lao Thời thế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn Cho nên, bậc
thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi và sự ngăn cấm theo khả năng
mà thay đổi”.
Ổn định, thống nhất.
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
12
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Mặc dù pháp luật phải thay đổi cho hợp với thời thế, song trong một thời kỳ,
pháp lệnh đã đặt ra thì không được tùy tiện thay đổi (“số biến pháp”), vì nếu vậy thì
trung thần muốn giết bọn gian thần nhưng vua lại che chở chúng, thành thử chúng càng
lộng hành mà bóc lột dân, làm giàu, lập bè cánh để che giấu tội ác cho nhau, bịt mắt
nhà vua; cũng như loài chuột đào hang trong đền thờ mà không ai làm gì được vì nếu
dùng lửa sợ bị cháy, dùng nước sợ hỏng lớp đất màu bao quanh cây cột. Muốn kiềm
chế hạng người tư lợi có địa vị cao, Hàn Phi Tử chia bọn họ ra từng loại để có các cách
xử lý khác nhau: Người hiền, có thể bắt vợ con thân thích làm con tin; kẻ tham lam,
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
13
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
cho tước lộc hậu hỹ, mua chuộc để khỏi làm phản; kẻ gian tà, phải làm cho khốn khổ
bằng cách trừng phạt. Theo ông, với kẻ xấu, nếu không cải hóa được thì phải trừ khử.
Muốn trừ họ mà không làm thương tổn đến danh tiếng của vua hãy nên đầu độc họ
hoặc dùng kẻ thù của họ để giết, nhưng tốt nhất là không dùng những kẻ không nên
dùng, để khỏi phải đề phòng
.Nguyên tắc cơ bản của thuật dùng người của Pháp gia là thuyết hình danh. Theo
thuyết này, muốn đánh giá con người phải xét cái sự thực đã làm (hình) và tên gọi của
công việc (danh) có phù hợp với nhau không. "Dùng quy tắc hình danh mà thu phục bề
tôi thì không được nghe lời giới thiệu của người khác, mà phải đích thân xem xét người
cần dùng có xứng đáng không vì người giới thiệu có thể vì tình riêng, tư lợi, muốn kéo
bè đảng mà đề cử hạng bất tài vô đức. Trong đời, kẻ có tài chưa nhất định đã có đức,
kẻ có đức chưa nhất định có tài, cho nên việc bổ nhiệm người nếu không có thuật thì sẽ
bại". Ông nhấn mạnh việc dùng người phải hết sức thận trọng. Muốn vậy, phải có
phương pháp nghe (thánh ngôn) bề tôi nói; phải khảo sát nhiều mặt để biết lòng bề tôi;
phải xem lời nói của họ có giá trị không; cuối cùng là giao chức cho họ, dùng thực tiễn
kiểm tra thực lực của họ. Trong mỗi việc trên, ông đều có những kĩ thuật tỉ mỉ nhằm
đạt được hiệu quả cao. Chẳng hạn, việc giao chức cần phải giao cho một chức nhỏ rồi
tuần tự thăng cấp, không cho kiêm nhiệm chức vụ, phải phân công rõ ràng, mỗi người
một chức để họ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hàn Phi Tử cho rằng vượt chức là đầu mối
của loạn. Giao trách nhiệm cho một người rồi kiểm tra kết quả công việc, theo dõi
nhưng không can thiệp vào công việc của họ.
suy, loạn lạc. Thưởng thì phải "tín" (xác thực, tin tưởng) và trọng hậu, phạt thì phải
"tất" (cương quyết) và phải nặng. Thưởng hậu thì dân thấy lợi mà ham; phạt nặng thì
dân thấy sợ mà tránh. Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, trị tội không chừa các
quan và thưởng công không bỏ sót dân thường. Hình phạt nặng thì người sang không
dám khinh kẻ hèn, pháp luật phân minh thì người trên được tôn trọng, không bị lấn.
Vua phải nắm hết quyền thưởng phạt, dùng thưởng và phạt để chế ngự bề tôi, nếu bỏ
hai quyền đó, thậm chí bỏ một để cho bầy tôi dùng thì ngược lại sẽ bị bầy tôi chế ngự.
Hàn Phi Tử đề ra tính nghiêm khắc, công bằng của pháp luật và khuyên vua, chúa phải
vô tư, công minh khi sử dụng pháp luật. Song, chính ông lại thừa nhận mọi người đều
hành động vì tư lợi; và đó là điểm mâu thuẫn trong học thuyết của ông.
4. Ưu nhược điểm của Trường phái Pháp trị:
4.1. Ưu điểm:
Chú trọng quá trình quản trị, đại chúng hóa quá trình này để người bình
thường cũng vận dụng được
Cụ thể hóa thành thao tác và quy trình trong việc thực hiện các công tác
quản trị nhân lực
Coi trọng thực tiễn, có xem xét đến sự ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan
đối với việc ra quyết định
Pháp trị là quản lý tính chiến thuật, có hiệu quả trong thời gian ngắn
Khi xảy ra các mâu thuẫn nội bộ, pháp luật sẽ là công cụ tiết chế các mối
quan hệ vào không gây ra tình trạng hỗn loạn
Giúp nhà quản trị phát hiện và đạo tạo nhân tài dựa trên nguyên tắc thưởng
phạt công bằng, tìm ra được những cá nhân có ích cho sự phát triển của tổ
chức và xã hội
4.2. Nhược điểm:
Quan điểm về bản chất con người quá cực đoan, độc đoán
Tập trung quyền lực vào một cá nhân, Có thể gây ra sự ức chế tâm lý cho
người bị quản trị
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
15
chất
con
người
Khổng Tử cho rằng bản tính của
con người là thiện, sống gần
nhau, muốn giúp đỡ lẫn nhau
Tính tương cận, tập tương viễn.
Ông quan niệm con người sinh ra
vừa có tính bẩm sinh vừa có tính
tập nhiễm xã hội
Trên đời có 2 kiểu người: Thánh
nhân và tiểu nhân
Hàn Phi Tử cho rằng phần lớn
con người: tranh nhau vì lợi;
lười biếng, có dư ăn rồi thì
không muốn làm nữa; chỉ phục
tùng quyền lực
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
16
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Về tư
tưởng
quản
trị
Khổng Tử chủ trương trị
người bằng đức là chính.
Nhà quản trị phải tu dưỡng
những đức tính cần thiết như
nhân, nghĩa, tín, dũng, liêm.
Trong đó đức nhân được đắt
đãi ngộ theo nguyên tắc, quy
tắc, quy chế ràng chứ không
theo ý riêng
IV. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong quản trị nhân lực.
1. Quan điểm của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới,
đã tiếp thu, kết tinh, phát triển một cách sáng tạo các di sản của cha ông cả về mặt lý
luận cũng như thực tiễn. Các bài nói, bài viết và tấm gương của Người chính là chuẩn
mực cho tư tưởng quản trị nhân lực Việt Nam hiện đại.
Hồ Chí Minh kế thừa các tư tưởng quản trị nhân lực của các nhà thuyết gia
phương Đông và cả phương Tây. Ở Người không có sự coi trọng “ đức” hơn hay pháp
luật hơn trong quản trị nhân lực cũng như trong quản lý kinh tế xã hội. Người học hỏi
và kế thừa những giá trị tiêu biểu của Khổng Tử về việc lấy đức trị người nghĩa là để
thu phục và dẫn dắt người khác nhà trị phải tu dưỡng những đức tính cần thiết như:
nhân, trí, dũng, nghĩa và trước hết người quản trị cũng cần phải rèn luyện bản thân
mình cả về mặt đạo đức và chuyên môn. Đồng thời, Người cũng tiếp thu những tinh
hoa trong tư tưởng quản trị của Hàn Phi Tử như quản trị phải quyền biến chứ không
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
17
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
câu nệ sách vở, thời khác thì sự việc phải khác, trong mỗi trường hợp thì cần có những
cách xử lý khác nhau. Từ đây, Hồ Chí Minh đã cùng với những tư tưởng mới của chủ
nghĩa Mác- Lê nin, Người đã xây dựng nên những tư tưởng mới và tiên bộ hơn về quản
trị nhân lực nói riêng cúng như quản trị nhà nước xã hội nói chung. Tư tưởng của
Người có sự kết hợp của các học thuyết quản trị phương Đông, phương Tây và đặc biệt
là những tiếp thu tinh tế của chủ nghĩa Mác-Leenin. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong quản
trị có sự kết hợp cả yếu tố cứng là pháp luật và các yếu tố mền dẻo là đạo đức.
Điển hình như trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước, tinh thần và phương pháp
xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa đạo đức và
pháp luật. Giữa đạo đức và pháp luật có mối quan hệ khăng khít với nhau. Pháp luật
đến lợi ích trước mắt.
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
18
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
Vấn đề thứ tư rộng hơn đó là văn hóa doanh nhân. Mỗi doanh nghiệp cần xây
dựng văn hóa cho doanh nghiệp mình trên nền nhận thức và hiểu biết chung về văn
hóa. Văn hóa doanh nghiệp không chỉ là xây dựng đời sống, lối sống và môi trường
văn hóa lành mạnh, phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa mà quan trọng
hơn là phát huy và thực hành dân chủ. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ, sáng kiến, hăng
hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề
ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được áp dụng và khen ngợi thì những người đó thêm
hăng hái. Và khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái thì khuyết điểm cũng bớt dần đi.
Trong văn hóa doanh nghiệp thì văn hóa doanh nhân là hạt nhân. Bởi con người là gốc
của doanh nghiệp. Trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng cần chắt lọc tinh hoa trí
tuệ nhân loại trong quá trình giao lưu, tiếp nhận.
2.2. Về công tác tuyển dụng, tuyển chọn
Tư tưởng của Người về việc lựa chọn cán bộ:
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ. Người cho
rằng: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy
thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính
sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính
sách hay cũng không thể thực hiện được”. Chính vì “cán bộ là cái gốc của mọi công
việc” nên việc lựa chọn cán bộ phải tuân theo những tiêu chuẩn nhất định như phải có
đạo đức cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với sự nghiệp
cách mạng của nhân dân; có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, hiểu biết nhân dân,
luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân; người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, có trí tuệ, có trình độ chuyên môn và nghiệp
vụ giỏi, chí công vô tư Những đòi hỏi này có thể coi là những tiêu chuẩn cơ bản
chung nhất của người cán bộ cách mạng trong tất cả các thời kỳ, ở tất cả các cấp, ở tất
cả các địa bàn. Với những yêu cầu này, các cấp, các ngành, các địa phương có thể vận
bộ khi cần thiết.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng
chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ, người thợ
khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”.
Hồ Chí Minh phê bình rằng, thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người,
thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao, thành thử hai người đều
lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng người thì hai người đều thành công. Người cũng
phê phán những bệnh sau đây: 1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn,
vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán
ghét những người chính trực; 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà
tránh những người tính tình không hợp với mình.
2.4. Về công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân lực
Hồ Chí Minh yêu cầu nội dung đào tạo phải phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và
đối tượng đào tạo. Đồng thời, trong việc đào tạo con người Hồ Chí Minh cũng cho
rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau”
Người nhấn mạnh: học để hành, nghĩa là để làm việc chứ không phải là để có
bằng cấp, để cho oai và để có chức này chức nọ. Việc giảng dạy, học tập, đào tạo, huấn
luyện phải gắn liền với nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế, “kinh
nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau”, “lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi liền
với nhau”. Ví dụ, trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh
cần phải tạo ra môi trường “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, “có gan
phụ trách, có gan làm việc”; “khi đã giao việc cho cán bộ phải để cho cán bộ có quyền
tùy cơ ứng biến mới có thể phát huy tài năng của họ, không nên sớm ra lệnh này, trưa
đổi lệnh khác”.
Theo Người có các hình thức đào tạo sau:
Một là, tự đào tạo, bồi dưỡng. Về hình thức này, có người có kế hoạch hẳn
hoi, không qua trường lớp nhưng có ý thức học tập mọi lúc, mọi nơi, nhất là qua cả
những thành công và qua cả những thất bại trong công tác để rút ra những bài học cho
bản thân mình.
Hai là, được đào tạo, bồi dưỡng theo trường, lớp, theo bài bản có hệ thống.
người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển
biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người.
Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta
đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ
khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”.
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
21
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN
I. Giá trị thực tiễn của các học thuyết.
Thực tiễn cuộc sống luôn luôn biến chuyển, công việc kinh doanh cũng không
nằm ngoài quy luật đó. Nó ít giống với khu vườn phì nhiêu mà bạn cần phải chăm sóc,
chọn giống, tưới, bón phân và chống sâu bệnh. Nó giống hơn với ngã tư đường ồn ào,
có các dòng khác nhau đang di chuyển qua. Dòng hàng hóa, thông tin, tài chính, khách
hàng. Nguồn nhân lực trong ý tưởng này cũng là một dòng - dòng nhân lực đang chảy
qua các công ty.
Việc quản lý các dòng loại này là công việc kinh doanh trong thời hiện đại. Nhà
quản trị - không phải là người làm vườn, mà là “Giám đốc ngã tư”. Vận dụng các học
thuyết về quản trị nhân lực của các danh nhân xưa giúp các nhà quản trị giải quyết
được một hoặc nhiều phần bài toán khó về nhân lực.
1. Trường phái “Đức trị”
Lần đầu tiên trong lịch sử, Khổng Tử đã tập hợp một cách có hệ thống các nguyên
lý trong việc đối nhân xử thế nhằm phát triển một xã hội tốt đẹp dựa trên nền tảng của
lòng nhân ái. Những điều tốt đẹp trong học thuyết này đến nay vẫn còn giá trị và đã
được kiểm chứng bằng sự vận dụng chúng vào phục vụ nhu cầu phát triển của các nền
kinh tế mới ở châu Á – những nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng trong những năm
cuối thế kỷ 20.
2. Trường phái “Pháp trị”
Những tư tưởng tiến bộ của Hàn Phi Tử cách đây 2300 năm như: chú trọng quá
giảm thiểu lãng phí và phục vụ khách hàng tốt nhất. Mà trung tâm của TPS chính là
con người với tinh thần CẢI TIẾN LIÊN TỤC.
Trong 14 nguyên lý quản trị của mình Toyota đã biết vận dụng kết hợp 1 cách tài
tình giữa các học thuyết quản trị của cả phương Đông lẫn phương Tây, của cả đời xưa
kết hợp quyền biến thay đổi phù hợp với các phong cách hiện đại. Chịu ảnh hưởng của
văn hóa phương Đông, nên việc quản trị nhân sự của Toyota cũng chịu tác động rất lớn
từ phong cách quản trị này và một trong các ảnh hưởng rất lớn đến 14 nguyên lý quản
trị thành công của Toyota chúng ta phải kể đến đó là các học thuyết quản trị phương
Đông. Phong cách này đã giúp cho Toyota vươn lên thành một trong những nhà sản
xuất xe hàng đầu thế giới, đánh bại nhiều đối thủ đáng gờm để chiểm lĩnh thị trường
Mỹ. Vậy chúng ta hãy đi tìm hiểu xem Toyota đã kế thừa và phát huy các quyền biến
của học thuyết quản trị phương Đông như thế nào để biến nó thành các nguyên lý quản
trị gắn mác Toyota.
1. Nguyên tắc 1:
Theo học thuyết quản trị phương Đông, trong trường phái Đức trị thì Khổng Tử
lấy con người (nhân) làm gốc, vì con người và từ con người. Toyota là một công ty
Các học thuyết quản trị Phương Đông.
23
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
kinh doanh, nhưng trung tâm mà toyota hướng đến là khách hàng (nhân) thay vì đặt lợi
nhuận lên hàng đầu như nhiều công ty khác. Điều này có thể thấy rõ trong nguyên lý 1
Ra các quyết định quản lý dựa trên một triết lý dài hạn, dù phải hy sinh những mục tiêu
tài chính ngắn hạn. (Đây chính là nền tảng cho mọi nguyên lý khác)
Xuất phát từ quan điểm: Kiếm tiền không chỉ là cho công ty, cho cổ đông , mục
đích tối thượng của kiếm tiền là đầu tư cho tương lai để tiếp tục thực hiện sứ mệnh của
mình, đó mới là mục đích thật sự của đầu tư và cũng chính là để giúp đỡ cộng đồng và
giúp đỡ xã hội.
Có thể hiểu nguyên lý này là:
Thực hiện điều có lợi cho công ty, nhân viên, khách hàng của Toyota và toàn bộ
xã hội. Trang bị một ý thức về mục tiêu có tính triết lý để thay thế bất kỳ một hình thức
24
Quản trị nhân lực 1.3. Nhóm 12
hành cuối cùng đã kết hợp các phần rời rạc lại để tạo ra một hệ thống sản xuất mới.
Hãng Toyota gọi là đó là Hệ thống sản xuất Toyota còn những nguời khác thì gọi đó là
"lean production". Tư tưởng chính của nó là chuyển mục tiêu trọng tâm của sản xuất từ
quy mô sang thời gian.
Điều này được thực hiện bằng 3 cách:
Đầu tiên là biến mỗi nhân viên thành một người kiểm tra chất lượng sản phẩm, có
trách nhiệm phát hiện và ngay lập tức sửa lỗi dù là nhỏ nhất cho sản phẩm khi nó vừa
xảy ra tại quy trình của anh ta. Thay vì lập một phòng chuyên trách về quản lý chất
lượng như các đối thủ cạnh tranh người Mỹ đã làm, Toyota cho phép các công nhân có
quyền dừng ngay dây chuyền sản xuất lại khi vừa phát hiện ra lỗi.
Cách thứ 2 là thực hiện kiểu sản xuất "đúng lúc". Tại các nước khác, các nhà công
nghiệp sản xuất các bộ phận sản phẩm "chờ đúng dịp" cho đến khi người ta cần đến.
Các nhà sản xuất chất đống các chi tiết sản phẩm tốn kém của họ qua nhiều ngày hay
thậm chí nhiều tuần trong nhà kho, thùng chứa. Các bộ phận nằm phủ bụi cho đến khi
chúng được dùng tới. Người Nhật chỉ sản xuất các bộ phận vào "đúng lúc", đó là khi
chúng được cần tới. Các bộ phận sẽ được chuyển tới đúng lúc chúng cần được sử dụng
trong dây chuyền sản xuất
Cách thứ 3 để tiết kiệm thời gian là sản xuất "hướng theo nhu cầu". Các bộ phận
sản phẩm ở các nhà máy phương Tây thường được chuyển đến dưới sự sắp xếp, thúc
đẩy của các nhà cung cấp. Hàng hoá được chất đống khi nó chưa được dùng tới. Với
phương pháp "hướng theo nhu cầu", các bộ phận chỉ sản xuất khi được đặt hàng. Ví dụ
ở Toyota, người ta đặt 1 chiếc thẻ gắn vào mỗi hộp của các nhà cung cấp mô tả các
nguyên liệu đựng trong đó. Khi chiếc thẻ được gửi trở lại nhà cung cấp thì coi như có
một đơn đặt hàng tiếp theo.
=>"Lean production" làm cho công nhân phần nào cảm thấy giống như lao động
bằng trí óc với sự thông minh khéo léo của mình. Người công nhân có thể thấy được
kết quả lao động của mình - tốt hay xấu- trong quá trình sản xuất của công ty. Vỗ vai
vui vẻ với đồng nghiệp nếu công việc được thực hiện tốt, và trở nên cau có nếu ngược