LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi con người xuất hiện và biết từng bước hợp lại thành các tổ chức
thì vấn đề quản trị cũng bắt đầu xuất hiện. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh của
khoa học - kỹ thuật cùng vấn đề toàn cầu hóa làm cho tầm quan trọng của yếu
tố con người và vấn đề quản lý con người càng được quan tâm hơn.
Xã hội càng phức tạp, đa dạng và đông đảo bao nhiêu thì vai trò của việc quản
trị càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, một trong những vấn đề mấu chốt của
quản trị chính là quản trị con người (quản trị nhân lực). Một công ty hay một tổ
chức dù có nguồn tài chính dồi dào, tài nguyên phong phú với hệ thống máy
móc thiết bị hiên đại, kèm theo các ứng dụng khoa học công nghệ cao đi chăng
nữa, cũng sẽ là vô ích nếu thiếu đi yếu tố quản trị con người. Do đó, nhiều tổ
chức, đặc biết là những tổ chức với quy mô lớn, đã thành lập bộ phận quản trị
nhân lực riêng để quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các khả năng và
tiềm năng của con người.
Quản trị nhân lực có vai trò ngày càng quan trọng trong các hoạt đông
quản trị. Mọi nhà quản lý ở các cấp khác nhau đều cần phải có khả năng nhất
định về quản trị nhân lực. Tuy nhiên, quản trị nhân lực là một lĩnh vực phức
tạp và khó khăn chứ không hề dễ như chúng ta thường nghĩ, và làm sao để thực
hiện quản trị nhân lực một cách có hiệu quả lại càng khó hơn. Bởi quản trị
nhân lực bao gồm nhiều vấn đề như tâm lý, sinh lý, xã hội, triết học, đạo đức
học và thậm chí cả dân tộc học. Quản trị nhân lực là một khoa học nhưng đồng
thời cũng là một nghệ thuật – nghệ thuật quản trị con người. Là một khoa học,
ai trong chúng ta cũng có khả năng nắm vững được. Nhưng quản trị nhân lực
cũng là một nghệ thuật, mà nghệ thuật thì không phải ai cũng áp dụng được. Vì
vậy, để hiểu rõ hơn, người ta đã đưa ra những quan điểm và khái quát thành
1
các học thuyết về quản trị nhân lực. Đầu tiên phải kể đến các học thuyết
phương Đông được hình thành từ rất sớm là “Đức trị” của Khổng Tử và “Pháp
trị” của Hàn Phi Tử. Nhưng quan trọng hơn là ba học thuyết kinh điển của
phương Tây đó là thuyết X, Y và Z được nghiên cứu từ các doanh nghiệp
phương Tây và Nhật Bản. Việc nắm vững các học thuyết sẽ giúp cho các nhà
4. Chuyên môn hóa là sự tập trung chuyên sâu, thông thạo một ngành,
nghề nhất định, là nguyên tắc đòi hỏi việc quản trị doanh nghiệp phải có
được những người có chuyên môn, được đào tạo, có kinh nghiệm và tay
nghề theo đúng vị trí trong duồng máy sản xuất và quản trị của doanh nghiệp
thực hiện.
3
5. Nhà quản trị là người điều hành,quản lý,thiết lập hoạch định, cho
một công ty, doanh nghiệp ,tổ chức kinh doanh, đồng thời làm cho tổ chức
ngày càng phát triển hơn. Nói chung nhà quản trị là những người cấp cao
lãnh đạo 1 tổ chức,đơn vị kinh doanh.
6. Đãi ngộ nhân sự là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
của người lao động để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua
đó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Đãi ngộ nhân sự là một
quá trình mà mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm từ việc xây dựng các chính
sách đãi ngộ đến việc tổ chức thực hiện công tác đãi ngộ trong doanh
nghiệp.
7. Làm việc thông minh (work smart) là làm việc năng suất hơn mà
không mất nhiều thời gian và công sức hơn, đòi hỏi phải có phương pháp tổ
chức lịch làm việc một cách hệ thống chi tiết rõ ràng, dễ thực hiện mà tốn ít
thời gian và công sức hơn. Làm việc thông minh vừa giúp chúng ta giải
quyết công việc hay học tập hiệu quả hơn, vừa giúp chúng ta cảm thấy nhẹ
nhàng hơn.
8. Teambuilding - xây dựng đội ngũ là một thuật ngữ chuyên dùng để
chỉ các hoạt động hỗ trợ việc hình thành một đội làm việc hiệu quả. Làm
việc theo nhóm là một nhu cầu có ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực và đặc
biệt ngày nay, trong các doanh nghiệp lớn (đã lớn hay đang phát triển từ nhỏ
trở nên lớn), công việc ngày càng được chia nhỏ cho từng nhóm thực hiện và
mỗi nhóm thực hiện một phần công việc, không một cá nhân hay một nhóm
nhỏ nào có thể tự thực hiện được toàn bộ một kế hoạch tổng thể.
9. Internet (thường được đọc theo khẩu âm tiếng Việt là "in-tơ-nét") là
nhận về con người. Trong lịch sử nhân loại, nếu bỏ qua thời kỳ nô lệ (coi
con người như là một loại động vật biết nói) thì về cơ bản có 3 luồng quan
điểm:
6
Quan điểm thứ nhất, coi “con người như một loại công cụ lao động” :
Đại diện cho quan điểm này là Douglas Mc Gergor. Ngoài ra còn có thể kể
đến như: Taylor, Gant, Ghinbert, Fayol Tập hợp những người theo quan
điểm này, sau này người ta gọi là trường phái cổ điển. Tương ứng với quan
điểm “Coi con người như một loại công cụ lao động” trong quản trị nhân
lực hình thành thuyết X.
Quan điểm thứ hai, “Con người muốn được cư xử như những con
người”. Quan điểm này do những nhà tâm lý xã hội ở các nước tư bản công
nghiệp nhìn nhận và phát triển. Đại diện cho quan điểm này là Douglas Mc
Gergor và Elton Mayo. Ngoài ra còn có: Maslow, Likest , Argyris, Lewin,
Maier, Roger Những người theo quan điểm này thuộc trường phái tâm lý
xã hội học. Tương ứng với quan điểm này, trong quản trị nhân lực hình
thành thuyết Y.
Quan điểm thứ ba, “con người có tiềm năng phát triển và cần khai
thác”. Đại diện cho quan điểm này là William Ouichi, Druker, Chandler,
Simon, Hugo Munsterberg thuộc trường phái hiện đại. Tương ứng với
quan điểm này trong quản trị nhân lực là thuyết Z.
2. Các học thuyết về quản trị nhân lực
2.1 Thuyết X (quan điểm: Con người như một loại công cụ lao động) là
lý thuyết máy móc và thiên hướng tiêu cực về con người và hành vi con
người. Được D.M.Gergor đưa ra vào những năm 1960, đó là kết quả của
việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí
nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ.
• Cách nhìn nhận về con người
- Cho rằng con người bản chất không muốn làm việc, lười biếng, máy móc và
vô tổ chức;
- Nhà quản lý không tin tưởng bất kỳ ai. Họ chỉ tin vào các hệ thống giám sát
chặt chẽ và có tính máy móc.
• Tác động tới nhân viên và người lao động
8
- Làm cho họ trở lên thụ động, hạn chế, kìm hãm và làm mất đi tính năng
động, tư duy, sáng tạo vốn có;
- Làm cho họ sợ hãi, luôn lo lắng;
- Chấp nhận cả những công việc nặng nhọc, quá sức mà lại đơn điệu, nhàm
chán;
- Bị lạm dụng sức khỏe.
• Ứng dụng trong thực tế
- Vẫn đúng trong nhiều trường hợp, đặc biệt trong các ngành sản
xuất, dịch vụ;
- Tuy nhiên, trên thực tế dường như không có kết quả đúng
100% về Thuyết X, song thuyết này luôn là một thuyết kinh điển, không
thể bỏ qua để đào tạo, huấn luyện về quản trị nhân sự trong tất cả các
trường lớp;
- Giúp nhiều nhà quản lý nhìn nhận lại bản thân để chỉnh sửa
hành vi cho phù hợp;
- Là tiền đề cho sự ra đời của những lý thuyết quản trị tiến bộ
hơn.
2.2. Thuyết Y (quan điểm: Con người muốn được cư xử như những con
người) cũng được D.M.Gergor đưa ra vào những năm 1960, có thể coi là sự
“sửa sai” hay tiến bộ hơn về lý thuyết quản trị nhân lực. Xuất phát từ việc
nhìn nhận những chỗ sai lầm trong thuyết X, thuyết Y đã đưa ra những giả
thiết tích cực hơn về bản chất con người.
• Cách nhìn nhận về con người
- Lười nhác không phải là bản tính bẩm sinh của con người nói chung, đó chỉ
là một hiên tượng của con người;
- Con người muốn được nhìn nhận, muốn cảm thấy mình có ích, muốn được
sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như Microsolf, Unilever, P&G,
Apple, Google đều theo thuyết này và cố gắng tạo ra những môi trường
làm việc tự do và lý tưởng nhất trong mức có thể;
10
- Tuy nhiên, cũng giống như thuyết X, thuyết Y không tuyệt đối, nó được sử
dụng kết hợp sẽ đem lại hiệu quả cao.
- Gợi ý cách thức và đưa ra bài học cho các nhà quản trị;
- Đưa vào giảng dạy trong các khối kinh tế về quản trị nhân lực trong các
trường đại học, cao đẳng
2.3. Thuyết Z (quan điểm: Con nguời có tiềm năng phát triển và cần
khai thác) được tiến sĩ W.Ouichi đưa ra vào những năm 70 của thế kỷ XX,
xây dựng trên thực tiễn và lý luận qua việc nghiên cứu phương thức quản lý
trong các doanh nghiệp Nhật Bản từ năm 1973. Vì vậy thuyết Z còn được
gọi là “Quản lý kiểu Nhật”. Sau này, thuyết Z được phổ biến khắp thế giới
vào thời kỳ bùng nổ kinh tế của các nước châu Á vào thập niên 1980.
• Cách nhìn nhận về con người
- Niềm vui và sự thỏa mãn của người lao động là điều kiện tăng năng suất lao
động;
- Con người nếu được tin tưởng, được đối xử tủ tế và tế nhị thì họ sẽ nỗ lực
hết mình vì công việc;
- Con người có khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường và điều kiện
làm việc biến đổi, có tính tập thể và khả năng phối hợp làm việc tốt, hiệu
quả.
• Cách thức quản lý
- Nhà quản lý cần hòa đồng, thương yêu, lo lắng và chăm sóc các nhân viên
của mình như là thành viên trong gia đình;
- Tạo điều kiện cho nhân viên và người lao động được nâng cao trình độ,
chuyên môn;
- Các nhà quản lý luôn hướng tới cách thức tuyển dụng và sử dụng suốt đời,
đảm bảo chế độ làm việc lâu dài để tạo sự tin cậy, có trách nhiệm của nhân
đại học, cao đẳng.
Nhìn chung, ta thấy 3 học thuyết X, Y, Z không hề phủ nhận nhau mà
sự ra đời của những thuyết sau là sự khắc phục những mặt còn yếu kém
của các thuyết trước. Thuyết X thì nhìn theo thiên hướng tiêu cực về con
12
người nhưng lại đưa ra phương thức quản lý chặt chẽ. Thuyết Y nhìn
nhận con người hoi lạc quan nhưng cũng đưa ra cách quản lý linh động
phù hợp với một số lĩnh vực có tri thức cao và đòi hỏi sự sáng tạo của
nhân viên. Thuyết Z còn có nhược điểm tạo sức ỳ trong nhân viên nhưng
đưa ra được phương pháp quản lý hiệu quả dẫn đến sự thành công cho
nhiều công ty. Và nếu nhìn tổng quan hơn ta thấy từ thuyết X đến Z, đó là
một quá trình tự hoàn chỉnh về tri thức trong khoa học quản trị mà cụ thể
là quản trị nhân lực. Điều đó thể hiện ước muốn của con người là đạt tới
một trình độ quản trị nhân lực ưu việt nhằm đem lại những lợi ích thiết
thực cho người lao động, cho doanh nghiệp và cho xã hội.
Qua sự phân tích các học thuyết phương tây X, Y, Z ta thêm hiểu hơn
về trị thức quản trịnhân sự. Mỗi học thuyết đều có chỗ hay chỗ còn thiếu
sót, tuy nhiên do quản trị còn là một nghệ thuật, không cứng nhắc nên việc
kết hợp các học thuyết trên là hoàn toành có thể và hiệu quả đến đâu là
còn tùy thuộc vào mỗi nhà quản trị. Việc tìm hiểu các phong cách quản trị
cũng cho nhà quản trị biết cách chọn cho mình quan điểm quản trị phù
hợp với khu vực quản trị, điều này là quan trọng với nhà quản trị toàn
cầu.
13
CHƯƠNG III:
ỨNG DỤNG TRONG FPT TELECOM
I. Giới thiệu về FPT Telecom
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Được thành lập ngày 31/01/1997, Công ty Cổ phần Viễn thông FPT
(FPT Telecom) khởi đầu với tên gọi Trung tâm Dịch vụ Trực tuyến.
Hơn 15 năm qua, từ một trung tâm xây dựng và phát triển mạng Trí tuệ
Việt Nam với 4 thành viên, giờ đây FPT Telecom đã trở thành một trong
những nhà cung cấp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực viễn thông và dịch vụ
trực tuyến với tổng số gần 3.500 nhân viên (tính đến tháng 12/2011) và 39 chi
nhánh trên toàn quốc.
FPT Telecom có hạ tầng tại 39 tỉnh, thành trên toàn quốc.
15
- Miền Nam: TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu, Cần Thơ, Kiên
Giang, An Giang, Đà Lạt (Lâm Đồng), Tiền Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Đồng
Tháp, Tây Ninh, Bến Tre, Long An.
- Miền Trung: Đà Nẵng, Nha Trang (Khánh Hòa), Vinh (Nghệ An), Buôn
Mê Thuột (Đắc Lắc), Bình Thuận, Thừa Thiên - Huế, Thanh Hóa, Bình Định,
Phú Yên, Gia Lai, Quảng Nam, Hà Tĩnh.
- Miền Bắc: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Nguyên, Nam
Định, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thanh Hóa,
Hưng Yên, Nghệ An.
Với phương châm “Mọi dịch vụ trên một kết nối”, FPT Telecom đã và đang
không ngừng đầu tư, triển khai và tích hợp ngày càng nhiều các dịch vụ giá trị
gia tăng trên cùng một đường truyền Internet. Ngoài ra, việc đẩy mạnh hợp tác
đầu tư với các đối tác viễn thông lớn trên thế giới, xây dựng các tuyến cáp đi
quốc tế… là những hướng đi FPT Telecom đang triển khai mạnh mẽ để đưa
các dịch vụ của mình ra khỏi biên giới Việt Nam, tiếp cận với thị trường toàn
cầu, nâng cao hơn nữa vị thế của một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hàng
đầu.
Địa chỉ liên lạc:
Hà Nội:
Tòa nhà FPT, lô 2 đường Phạm Hùng, Cầu Giấy | Tel: (84-4) 7300 2222 | Fax:
(84-4) 7300 8889
TP HCM:
Lô 37-39A, đường 19, KCX Tân Thuận, F.Tân Thuận Đông, Q7 | Tel: (84-4)
- Công ty TNHH MTV Viễn thông Quốc tế FPT (FPT Telecom
International, viết tắt là FTI)
- Công ty Cổ phẩn Dịch vụ Trực tuyến FPT (FPT Online, viết tắt là FOC)
- Công ty TNHH MTV Viễn thông FPT Tân Thuận
CÔNG TY TNHH VIỄN THÔNG FPT MIỀN BẮC (FPT TELECOM
NORTH)
FPT Telecom North thuộc FPT Telecom kinh doanh các sản phẩm ADSL,
Internet cáp quang (FTTH) và Triple Play - gói dịch vụ viễn thông 3 trong 1 (gồm:
Internet, điện thoại và truyền hình tương tác OneTV) và dịch vụ Internet tốc độ
siêu cao bằng kết nối VDSL.
FPT Telecom North có 18 văn phòng giao dịch ở 13 tỉnh, thành:
STT Chi nhánh Địa chỉ
19
1 Hà Nội 1 48 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội
2 Hà Nội 2 59 Nguyễn Công Trứ, Hai Bà Trưng, Hà Nội
3 Hà Nội 3
402, Xã Đàn (Đường Kim Liên Mới), Phường Nam
Đồng, Đống Đa, Hà Nội.
409 Chùa Thông, Sơn Lộc, Sơn Tây.
Xóm 5, Lai Xá, Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội.
4 Hà Nội 4 120 Ngô Gia Tự, Long Biên, Hà Nội.
5 Hà Nội 5 34 Trần Phú, Quận Hà Đông, Hà Nội.
6 Hà Nội 6
2 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.
88 Cao Lỗ, Thị trấn Đông Anh, Hà Nội.
7 Hải Phòng
186 Văn Cao, Đằng Giang, Ngô Quyền, Hải Phòng.
77-79 Lê Lợi, Ngô Quyền, Hải Phòng.
8 Hải Dương
22 Quang Trung, Thành Phố Hải Dương, Tỉnh Hải
1 Bình Thạnh
197 đường D2 Cư Xá Văn Thánh Bắc, P. 25, Q. Bình
Thạnh, TP HCM.
21
2 Chợ Lớn 227 Hậu Giang, P. 5, Q. 6. TP HCM.
3 Tân Bình
Tầng 1 dãy A - 20 Phan Đình Giót, P. 2, Q. Tân Bình,
TP HCM.
4 Bến Thành
124 Sương Nguyệt Ánh, P. Bến Thành, Q.1, TP
HCM.
5 Gò Vấp 183 Quang Trung, P. 10, Q. Gò Vấp, TP HCM.
6 Bình Duơng
217B Yersin, P. Phú Cuờng, Thị xã Thủ Dầu Một,
Bình Duơng.
7 Đồng Nai
105B Hà Huy Giáp (QL.1 cũ), P. Quyết Thắng, TP.
Biên Hòa, Đồng Nai
8 Vũng Tàu 408B Lê Hồng Phong, P. Thắng Tam, TP. Vũng Tàu.
9 Cần Thơ
190E Đường 30/4, P. Hưng Lợi, Q. Ninh Kiều, TP.
Cần Thơ.
10 Kiên Giang
259 Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Vĩnh Thanh, TP. Rạch
Giá, Kiên Giang.
11 An Giang
187 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Bình, TP. Long Xuyên,
An Giang.
12 Bình Thuận 07 Tuyên Quang, TP. Phan Thiết, Bình Thuận.
13 Lâm Đồng 38C Trần Phú, P. 4, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng.
Trang
3 Đắk Lắk
96 Phan Chu Trinh, TP Buôn Ma Thuột, Tỉnh
Đắk Lắk
4 Huế
46 Phạm Hồng Thái - Phường Vĩnh Ninh -
TP.Huế
5 Bình Định
94 Phạm Hùng, P. Lý Thường Kiệt, TP. Quy
Nhơn, Tỉnh Bình Định
6 Phú Yên
A11 Khu Đô Thị Hưng Phú, đường Trần Phú, P5,
Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
7 Gia Lai 67 Tăng Bạt Hổ, Thành Phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai
8 Quảng Nam
540 Hai Bà Trưng, Phường Tân An, Thành Phố
Hội An, Tỉnh Quảng Nam.
CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VIỄN THÔNG QUỐC TẾ FPT (FPT
TELECOM INTERNATIONAL)
Công ty FPT Telecom International thuộc FPT Telecom, thành lập ngày
22/5/2008. Được thừa hưởng bề dày kinh nghiệm và cơ sở hạ tầng của FPT
Telecom - một trong những Nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông hàng đầu Việt Nam,
FPT Telecom International đã hoạt động độc lập từ đầu năm 2008 và hiện là nhà
cung cấp được đối tác trong và ngoài nước đánh giá có chất lượng dịch vụ, phục vụ
tốt nhất lĩnh vực kênh thuê riêng và dữ liệu trực tuyến.
24
FPT Telecom International có lợi thế sở hữu 4 Trung tâm dữ liệu (Data Center)