MỤC LỤC:
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. Lý luận chung về chính sách Nhập Khẩu: 3
1. Vai trò của nhập khẩu: 3
2. Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu: 4
2.1 Thuế nhập khẩu: 4
2. 2 Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu: 6
II. Chính sách nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn hiện nay: 7
1. Chính sách thuế quan: 7
Mức thuế suất: 7
2. Chính sách phi thuế quan: 9
2.1 Hạn ngạch nhập khẩu: 9
2.3 Quy định về xuất xứ và ký mã hiệu hàng hóa: 14
2.4 Các biện pháp phòng vệ thương mại : 16
KẾT LUẬN: 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 23
LỜI MỞ ĐẦU
Mỹ là nước nhập khẩu hàng hóa lớn nhất và là nước xuất khẩu đứng hạng
nhì. Canada, Trung Quốc, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất
của Mỹ. Hàng xuất khẩu hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí
hàng đầu về nhập khẩu. Kim ngạch Xuất nhập khẩu của Mỹ năm 2010 : xuất
khẩu đạt 1.270 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1.903 tỷ USD. Do đó, Mỹ được coi là
một thị trường quan trọng và lớn nhất thế giới mà nhiều quốc gia trong đó có
Việt Nam mong muốn hàng hoá của mình thâm nhập được vào. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang thực hiện chiến lược hướng tới xuất khẩu
để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì thị trường Mỹ là
một thị trường không thể bỏ qua. Song, do những hạn chế của chính sách cấm
vận của Mỹ với Việt Nam trong nhiều năm kể từ sau cuộc chiến tranh giữa hai
nước cộng với những khác biệt về chế độ chính trị, kinh tế, ngoại giao, chính
sách thương mại đã khiến cho thị trường Mỹ tuy hấp dẫn nhưng đầy xa lạ với
các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, khả năng rủi ro xảy đến với các doanh
đóng, chế độ tự cấp, tự túc.
- Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt (hàng hoá hiếm hoặc quá
hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được).
- Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế, thị trường trong và ngoài
nước với nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát
huy được lợi thế so sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá.
2. Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu :
Ngày nay, trong hoạt động mở rộng kinh tế đối ngoại của các quốc gia,
hoạt động ngoại thương giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những
công cụ quan trọng để đạt được mục tiêu của các chính sách thương mại là
dựa vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.
2.1 Thuế nhập khẩu:
Khái niệm: Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng
lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập
khẩu.
Vai trò của thuế nhập khẩu:
• Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước:
Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các
khoản
thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các
khoản
thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân
sách nhà nước. Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên
tắc cần chú ý trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho
ngân sách là :
+ Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà
lại
không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế
không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
+ Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ làm sao để người chịu
quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính
phủ rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế,
chính phủ có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối
với những công ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá
dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao
và ngược lại.
• Đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của mọi
quốc gia :
Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc tế vào
môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế
quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại.
2. 2 Các biện pháp phi thuế quan liên quan đến nhập khẩu:
Khái niệm : Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm
cản trở tự do thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp
phi thuế quan với mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng
hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần
dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện pháp thuế quan.
Vai trò của các biện pháp phi thuế quan :
Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối
giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế
quan đã được mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác.
Một trường hợp điển hình là nó được sử dụng như là một trong những biện
pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường - một vấn đề được coi là vấn đề toàn
cầu hiện nay.
Các biện pháp phi thuế quan:
Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: Các biện pháp
hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ
thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý
hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời…
duy trì những hàng rào đối với hàng xuất khẩu của Mỹ, từ chối bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ, hoặc không tuân thủ các quyền công nhân đã được quốc tế công
nhận. Luật GSP đã hết hạn ngày 31 tháng 5 năm 1997. Khi GSP lần cuối cùng
được gia hạn vào tháng 8 năm 1996, sau khi đã hết hạn hơn một năm, việc miễn
thuế đã được khôi phục hiệu lực.
- Sáng kiến Khu vực Lòng chảo Caribê (Caribbean Basin Initiative - CBI).
Quy định việc miễn hoặc giảm thuế quan đối với hầu hết các sản phẩm từ 24
nước ở Trung Mỹ và khu vực Caribe. Những ưu đãi thương mại CBI không phải
xét lại hàng năm. Các quốc gia có thể bị mất những lợi ích của CBI trong những
điều kiện nhất định.
- Luật ưu đãi thương mại Andean (Andean Trade Preference Act - ATPA)
Luật này dành ưu đãi thuế quan cho các sản phẩm từ Bolovia, Colombia,
Ecuador, và Peru. Chương trình này hết hạn vào tháng 12 năm 2001. Các quốc
gia mà Mỹ ký hiệp định thương mại trong đó việc giảm thuế quan và các hàng
rào thương mại khác, như NAFTA và Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do Mỹ -
Ixaren, đã được đề cập trong phần khác của luật thương mại liên quan đến
những hiệp định thương mại tương hỗ.
- Luật Hỗ trợ Phát triển Châu Phi (African Growth and Opportunity Act -
AGOA). Luật này cho phép gần như toàn bộ các hàng hoá của 38 nước Châu
Phi được nhập khẩu vào Hoa Kỳ miễn thuế và không bị hạn chế về số lượng.
Chính quyền Mỹ đang đề nghị Quốc hội gia hạn hiệu lực của Luật này khi hết
hạn vào năm 2008.
- Các hiệp định thương mại tự do song phương. Nhìn chung, hàng hoá nhập
khẩu vào Hoa Kỳ từ những nước có hiệp định thương mại tự do với Hoa Kỳ
đều được miễn thuế nhập khẩu hoặc có mức thuế thấp hơn nhiều so với mức
thuế MFN.
- Các ưu đãi thuế quan khác. Hoa Kỳ còn dành ưu đãi thuế quan cho những
hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thuộc diện hưởng lợi của Luật Thương mại
các Sản phẩm Ô tô , Hiệp định Thương mại Máy bay Dân dụng , Hiệp định
Thương mại các Sản phẩm Dược và những cam kết giảm thuế của Vòng
+ Một số mặt hàng theo quy định WTO
+ Một số mặt hàng nông sản theo hiệp định US-israel
- Hạn ngạch tuyệt đối (Absolute quota): là hạn ngạch giới hạn về số lượng, tức
là số lượng vượt quá hạn ngạch cho phép sẽ không được nhập vào Mỹ trong thời
hạn của quota. Một số quota là áp dụng chung, còn một số thì chỉ áp dụng riêng
đối với một số nước. Hàng nhập quá số hượng theo quota sẽ phải tái xuất hoặc
lưu kho trong suốt thời hạn của quota, cho đến khi bắt đầu thời hạn quota mới.
Các mặt hàng nông sản chịu hạn ngạch tuyệt đối là:
+ Thức ăn gia súc, có thành phần sữa hoặc các sản phẩm sữa
+ Sản phẩm thay thế bơ, có chứa 45% bơ béo theo HTS 2106.90.15, và bơ từ
dầu ăn
+ Bơ pha trộng, trên 55,5% nhưng không quá 45% trọng lượng là bơ béo
+ Pho mát, Cheddar thiên nhiên, làm từ sữa chưa thanh trùng (pasteurized)
để thời gian chưa quá 9 tháng
+ Sữa khô có chứa 5,5% hoặc ít hơn bơ béo
+ Sữa khô theo HTS 9904.10.15
+ Chocolate crumb và các sản phẩm liên quan có chứa trên 5,5% trọng
lượng là bơ béo
+ Chocolate crumb chưa5,5% hoặc ít hơn trọng lượng bơ béo
+ Ethyl alcohol và các sản phẩm dùng chaat này trong nhiên liệu nhập từ
vùng Caribean và các vùng lãnh thổ phụ thuộc Mỹ, theo HTS 9901.00.50
+ Thịt (từ Australia và New Zealand)
+ Sữa và kem, dạng lỏng hay đông lạnh, tươi hoặc chua (từ New Zealand)
2.2 Các quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật và vệ sinh dịch tễ:
Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật:
Hoa Kỳ là thị trường có sức tiêu thụ lớn, với kim ngạch nhập khẩu hàng
hóa khoảng 1.200 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng là nước có chính sách
quản lý nhập khẩu hàng hóa phức tạp. Ngoài các yêu cầu về hải quan, nhiều quy
định cấm, hạn chế nhập khẩu còn chịu sự điều tiết của nhiều luật lệ thuộc quyền
quản lý của các cơ quan công quyền khác. Trong những trường hợp này, hàng
chuẩn, chứng nhận chất lượng đã làm họ mất khoảng 15% tổng doanh số bán
hàng. Trong đó chỉ riêng chi phí chứng nhận cũng chiếm 5% tổng doanh số bán
hàng; chi phí bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm theo yêu cầu của luật pháp
Hoa Kỳ cũng là một khoản không nhỏ.
• Phụ thuộc nhiều vào chứng chỉ bắt buộc
Trong khi trên thế giới đang có xu hướng hạn chế sự can thiệp của bên
thứ 3 vào việc quản lý chất lượng sản phẩm thì ở Hoa Kỳ, việc này vẫn tiếp tục
lệ thuộc vào các chứng chỉ chất lượng của bên thứ 3 đối với nhiều sản phẩm
công nghiệp. Một số lĩnh vực như thiết bị điện, đồ gia dụng sự phát triển công
nghệ, hiểu biết của người tiêu dùng đã cho phép nhiều nước trên thế giới giảm
yêu cầu thử nghiệm và chứng nhận chất lượng trước khi tiếp thị sản phẩm ra thị
trường mà chủ yếu dựa vào chứng chỉ chất lượng của các nhà sản xuất và sự
giám sát, quản lý của các cơ quan quản lý chất lượng nhà nước đối với hàng hóa
sau khi đưa vào lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, chứng chỉ chất
lượng của bên thứ 3 đối với các sản phẩm vẫn còn là một yêu cầu bắt buộc, kể
cả về mặt pháp lý và tập quán. Yêu cầu này làm phát sinh chi phí cao không hợp
lý đối với các nhà cung cấp nước ngoài. Hơn nữa, thời gian chờ kiểm nghiệm,
cấp chứng nhận chất lượng cũng có thể làm mất cơ hội thâm nhập thị trường.
Các quy định về vệ sinh dịch tễ:
Mỹ có bốn cơ quan phụ trách về vệ sinh dịch tễ:
(1) Cơ quan phụ trách thực phẩm và thuốc (Food and Drug Administration -
FDA). FDA chịu trách nhiệm chính về an toàn thực phẩm ngoại trừ thịt, gia cầm
và một số sản phẩm trứng do FSIS quy định.
(2) Cục kiểm định an toàn thực phẩm (Food Safety and Inspection Service -
FSIS) của Bộ Nông nghiệp.
(3) Cơ quan bảo vệ môi trường (Environmental Protection Agency - EPA). EPA
có nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe của con người, bảo vệ môi trường thông qua việc
ngăn cản những tác động từ bên ngoài có ảnh hưởng tác hại đến môi trường.
(4) Cục kiểm định y tế động thực vật (Animal and Plant Heath Inspection
Service - APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp. APHIS đưa ra những quy định nhằm
định này chủ yếu là nhằm giúp cho người mua hàng có thêm thông tin để lựa
chọn hàng hóa.
Luật không cho phép ghi trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa có xuất xứ nước
ngoài những từ như “United States” hoặc “U.S.A”, hoặc tên bất kỳ thành phố
hoặc địa điểm nào ở Hoa Kỳ để tạo cảm giác là hàng được sản xuất tại Hoa Kỳ,
trừ phi trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa có ghi kèm một cách rõ ràng ở chỗ dễ
thấy nước xuất xứ của hàng hóa.
Hàng nhập khẩu vi phạm qui định đánh dấu xuất xứ sẽ bị Hải quan giữ
lại. Hải quan có thể yêu cầu người nhập khẩu nộp thuế vi phạm qui định đánh
dấu xuất xứ bằng 10% trị giá hàng vi phạm trừ phi hàng đó được tái xuất, tiêu
hủy hoặc đánh dấu xuất xứ dưới sự giám sát của Hải quan. Đối với người xuất
khẩu, vi phạm đánh dấu nước xuất xứ có thể bị Hải quan lưu vào “sổ đen” máy
tính và để ý kiểm tra kỹ hơn các lô hàng xuất sau đó.
Luật Thuế quan chỉ qui định chung chung về cách đánh dấu xuất xứ hàng
hóa như nêu trên, song Qui chế Hải quan có qui định cụ thể cách thức đánh dấu
nước xuất xứ cho một số loại hàng hóa thuộc nhóm hàng công cụ và dụng cụ
kim loại, nhóm hàng đồng hồ, và những hàng hóa có kiểu dáng bản xứ Mỹ. Đối
với những hàng hóa này, việc đánh dấu nước xuất xứ có thể phải được thực hiện
ngay trong quá trình sản xuất. Ví dụ, tên nước xuất xứ hàng hóa có thể phải thiết
kế từ khuân đúc để in lên sản phẩm.
Do vậy, trước khi triển khai sản xuất hoặc thậm chí ngay từ khi thương
thảo hợp đồng, người xuất khẩu nên kiểm tra và thống nhất với người nhập khẩu
về cách đánh dấu xuất xứ hàng hóa để tránh tranh chấp và phí tổn có thể xẩy ra
cho cả hai bên. Đặc biệt đối với những lô hàng tồn kho hoặc có sẵn đã đánh dấu
xuất xứ hàng hóa, trước khi giao hàng hoặc thậm chí ngay từ khi ký hợp đồng,
người xuất khẩu phải kiểm tra với người nhập khẩu xem cách đánh dấu xuất xứ
hàng hóa có sẵn đó có phù hợp với qui định của Hải quan Hoa Kỳ hay không.
Qui định dán nhãn xuất xứ đối với một số sản phẩm nông nghiệp
Theo qui định của Luật an ninh nông nghiệp và phát triển nông thôn (gọi tắt là
Luật nghiệp 2002) được Tổng thống George W. Bush ký ban hành ngày
định.
So sánh các biện pháp phòng vệ thương mại Hoa Kỳ
Yếu tố Chống bán phá giá Chống trợ cấp Tự vệ
Điểu
kiện áp
dụng
- Có hành vi nhập
khẩu bán phá giá;
- Gây thiệt hại
hoặc
đe dọa gây thiệt
hại đáng kể (đối
với
- Có hiện tượng hàng
nhập khẩu được trợ
cấp;
- Gây thiệt hại hoặc
đe
dọa gây thiệt hại
đáng
- Có hiện tượng hàng
nhập khẩu ồ ạt, tăng
đột biến về số lượng
- Có thiệt hại nghiêm
trọng (đối với ngành
sản xuất nội địa Hoa
Kỳ sản xuất mặt hàng
ngành sản xuất nội
địa)
- Mối quan hệ
Thuế chống trợ cấp
(thuế đối kháng)
Cam kết giá (ít)
Hạn ngạch thuế quan
Tăng thuế nhập khẩu
Cấp phép nhập khẩu…
Bồi
thường
do áp
dụng
biện
pháp
phòng
vệ
Không Không Có
Thời
gian áp
dụng
biện
pháp
5 năm
Có thể gia hạn
không hạn chế số
lần
(theo kết quả rà
soát
cuối kỳ)
5 năm
Có thể gia hạn
không giới hạn số
tuân thủ pháp luật. Vì vậy, các quyết định của Ủy ban này được xem là tương
đối khách quan.
ITC chịu trách nhiệm:
+ Điều tra thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và trợ cấp/phá
giá/nhập
khẩu ồ ạt (tùy tính chất vụ việc).
+ Tham gia vào quá trình điều tra thiệt hại trong thủ tục rà soát lại do thay đổi
hoàn
cảnh và rà soát hoàng hôn (sunset reviews)
(ii) Các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng biện
pháp phòng vệ, bao gồm:
- Hải quan Hoa Kỳ:Đây là cơ quan hành chính thuần túy thực thi các biện pháp
phòng vệ (tạm thời, chính thức) theo cách thức, mức độ như đã được DOC quyết
định. Không có chuyện vận động hay yêu cầu gì liên quan đến các biện pháp
phòng vệ đối với Cơ quan này.
- Toà án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (US Court of International Trade - CIT):
Đây là cơ quan tư pháp, độc lập với các cơ quan khác trong hệ thống các cơ
quan Hoa Kỳ nói chung và các cơ quan điều tra, áp dụng, thực thi các biện pháp
phòng vệ nói riêng.
CIT có trách nhiệm:
Xét xử đơn kháng kiện của các bên liên quan đến vụ việc phòng vệ thương mại
về:
+ Các quyết định của các cơ quan liên quan trong vụ việc phòng vệ;
+ Các hành vi hành chính khác của các cơ quan liên quan trong vụ việc phòng
vệ.
Nếu một hoặc các bên không đồng ý với Phán quyết của CIT về các vấn đề liên
quan thì còn có thể kháng nghị Phán quyết này đến Toà Phúc thẩm liên bang
Hoa Kỳ.
- Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (The Office of the US Trade
Representative - USTR):
3. “Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá tại Hoa Kỳ.”
4.
2011-cua-hoa-ky.html
5.
15381.html
6.
7.
8.
15381.html
9.
%A1i_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF
10.
_pageid=517,41428204&_dad=portal&_schema=PORTAL
11.
ngach-nhap-khau-hang-hoa-tu-hoa-ky-8-thang-dau-nam-2011-tang-
229.html