Tác động của đổi mới chính sách thương mại đến ngoại thương VN trong những năm gần đây - Pdf 38

Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
Ch ơng I
Một số vấn đề lý luận liên quan đến đổi mới
chính sách thơng mại của Việt Nam
I. Sự cần thiết phải đổi mới chính sách thơng mại
1. Đặc điểm của kinh tế Việt Nam
Qua hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có thêm thế và lực để
bớc vào giai đoạn phát triển mới. Chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu to lớn
nh nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh và ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển
dịch theo hớng tiến bộ, kiềm chế và đầy lùi đợc nạn siêu lạm phát, nâng cao đời
sống nhân dân. Mặc dù vậy, chúng ta cũng phải nhận thấy rằng Việt Nam vẫn
đang còn là một nớc nông nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng còn
kém phát triển, cơ sở vật chất - kỹ thuật cha xây dựng đợc bao nhiêu. Nền kinh
tế có mức tăng trởng cao nhng năng suất, chất lợng và hiệu quả còn thấp. Tích
luỹ từ nội bộ nền kinh tế cha cao. Nhà nớc còn quản lý rất chặt chẽ nhiều lĩnh
vực quan trọng nh ngân hàng, bu điện, điện lực Những tệ nạn nh tham nhũng,
buôn lậu, vi phạm kỷ cơng còn nặng và phổ biến.
Tuy nhiên khó khăn còn đang tồn tại và sẽ tiếp tục phát sinh nhng những
thách đố gay go nhất của thời kỳ chuyển toàn bộ nền kinh tế từ cơ chế quản lý
cũ sang cơ chế quản lý mới và sự hẫng hụt về viện trợ, đảo lộn về ngoại thơng
do có sự sụp đổ của Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu đã qua rồi. Không có khó
khăn nào có thể lớn hơn những khó khăn đã gặp phải trong những năm đầu khởi
động chơng trình đổi mới. Khó khăn đang tồn tại và sẽ phát sinh chỉ là khó
khăn của yêu cầu phát triển, tăng tốc độ nền kinh tế chứ không phải là khó khăn
có thể dẫn đến nền kinh tế sụp đổ nh những năm trớc đây.
Mặt khác, bên cạnh những khó khăn, thách đố, nền kinh tế Việt Nam còn
có thời cơ và thuận lợi, nội lực và ngoại lực. Nếu khai thác tốt các yếu tố thuận
lợi, tận dụng đợc thời cơ sẽ cho phép khắc phục khó khăn, vợt qua thách đố,
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
1
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây

Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
Chính sách thơng mại là một trong những chính sách quan trọng mà mỗi
quốc gia xuất phát từ đặc điểm và mục tiêu kinh tế - xã hội của mình xây dựng
nên một cách phù hợp. Ngoài ra chính sách thơng mại của một nớc chịu ảnh h-
ởng và cũng chi phối hoạt động ngoại thơng của các nớc khác.
ở Việt Nam, chính sách thơng mại đã dần xoá bỏ đợc các định kiến.
Chuyển đổi chính sách thơng mại từ quản lý theo mô hình kế hoạch hoá tập
trung sang kiểu quản lý theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Từ
năm 1995 ta đã sửa đổi lại chính sách thuế, chính sách phi quan thuế, chính
sách tài chính tiền tệ phù hợp với yêu cầu của Hiệp định CEPT, Hiệp định
thuế quan của khối APEC và của Tổ chức thơng mại thế giới WTO. Những thay
đổi đó đã đợc các tổ chức thơng mại khu vực và quốc tế công nhận, qua đó vị
thế của nền kinh tế nớc ta trên trờng quốc tế đã thay đổi đáng kể. Nền kinh tế
của ta đang và sẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết để hội nhập kinh tế quốc tế
và tham gia vào quá trình tự do hóa thơng mại đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn
thế giới.
Riêng đối với lĩnh vực ngoại thơng, chính sách thơng mại chịu ảnh hởng
và cũng chi phối rất lớn đến lĩnh vực này. Chính sách thơng mại đã thúc đẩy các
doanh nghiệp tích cực tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, góp phần
làm kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ cao. Cơ chế xuất nhập khẩu thể hiện
trong chính sách của Nhà nớc ngày càng mở rộng, linh hoạt đã tạo điều kiện và
cơ hội cho các doanh nghiệp chủ động tìm đối tác và thị trờng xuất khẩu. Mặt
khác, sự cạnh tranh cả ở thị trờng trong nớc và thị trờng quốc tế đã buộc các
doanh nghiệp phải cải tiến mẫu mã sản phẩm, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới,
do đó đã nâng cao đợc khối lợng kim ngạch và chất lợng xuất khẩu.
Một vấn đề rất đáng chú ý là chính sách thơng mại đã thúc đẩy xuất khẩu
tới thị trờng đích và nhập khẩu từ thị trờng nguồn. Chính sách tự do hoá thơng
mại và các quy chế cụ thể đã giúp các doanh nghiệp mạnh dạn đầu t chế biến
hàng xuất khẩu để đa tới thị trờng tiêu dùng (thị trờng đích) và nhập khẩu, nhất
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E

và tụt hậu so với các nớc khác trên thế giới. Trong hơn 15 năm qua, Việt Nam
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
4
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
đã không ngừng cải cách, đổi mới chính sách thơng mại và thành công của công
cuộc đổi mới đã đợc thể hiện bằng những kết quả đáng ghi nhận nh tốc độ tăng
trởng GDP, kim ngạch xuất nhập khẩu
Có thể nói, đổi mới chính sách thơng mại là một lựa chọn tất yếu không
chỉ riêng Việt Nam mà còn là của tất cả các nớc trên thế giới.
II. Nội dung và quá trình đổi mới chính sách thơng mại
1. Khái quát chính sách thơng mại trớc đổi mới.
1.1. Chính sách thơng mại trớc đổi mới.
Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, nền kinh tế nớc ta vẫn là một
nền kinh tế lạc hậu, lệ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu, phụ tùng và thiết bị
của bên ngoài. Nhà nớc vẫn duy trì chính sách kinh tế đóng, quan hệ buôn bán
với nớc ngoài cha phát triển, chủ yếu là buôn bán với các nớc XHCN, hoạt động
xuất nhập khẩu còn manh múm, chính vì vậy, chính sách thơng mại thời kỳ này
chủ yếu là quản lý, điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nớc và giữa nớc ta với
các nớc XHCN.
Xuất phát từ nền kinh tế đợc xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu và mô
hình kế hoạch hoá tập trung ảnh hởng của hệ t tởng xã hội chủ nghĩa, độc quyền
Nhà nớc đối với ngoại thơng đã trở thành quy phạm pháp luật có tính bắt buộc.
Điều này có thể thấy đợc thông qua các khía cạnh sau:
- Nhà nớc độc quyền quản lý về ngoại thơng
Mọi hoạt động ngoại thơng đều tập trung vào Nhà nớc, Bộ Ngoại thơng là
cơ quan duy nhất thay mặt Nhà nớc quản lý hoạt động ngoại thơng. Bộ Ngoại
thơng xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu và trực tiếp phân bổ kế hoạch chó các
doanh nghiệp đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng thời Bộ trực tiếp điều
tiết, quản lý hoạt động ngoại thơng bằng các chỉ tiêu pháp lệnh và thông qua hệ
thống cấp giấy phép xuất nhập khẩu. Vì vậy, Bộ Ngoại thơng thay mặt Nhà nớc

ngoại thơng địa phơng. Mở rộng quyền xuất khẩu trực tiếp cho các liên hiệp xí
nghiệp. Các liên hiệp xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trực thuộc các Bộ quản
lý sản xuất. Từ quy định này hình thành nên Bộ quản lý Nhà nớc về ngoại thơng
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
6
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
(Bộ Ngoại thơng) và Bộ chủ quản của các tổ chức sản xuất đợc quyền hoạt động
ngoại thơng (Bộ quản lý ngành).
Ngoài ra, Nghị định này còn đề cập đến việc sửa đổi công tác kế hoạch
hoá xuất khẩu theo hớng thu hẹp các chỉ tiêu pháp lệnh đối với hàng xuất khẩu,
cho phép xuất khẩu những sản phẩm ngoài kế hoạch, do đó đã hình thành hàng
xuất khẩu theo kế hoạch và hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch.
- Nhà nớc độc quyền về tài sản trong kinh doanh ngoại thơng
Do hoạt động kinh doanh ngoại thơng tập trung vào các doanh nghiệp Nhà
nớc, tài sản phục vụ cho lu thông và hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc quyền sở
hữu của Nhà nớc. Nhà nớc thực hiện chế độ bao cấp trong kinh doanh ngoại th-
ơng.
Trong một thời gian dài, nguyên tắc Nhà nớc độc quyền ngoại thơng đợc
mở rộng ra toàn bộ các lĩnh vực kinh tế đối ngoại và đợc ghi vào Hiến pháp Việt
Nam năm 1980: Nhà n ớc độc quyền ngoại thơng và các quan hệ kinh tế đối
ngoại (Điều 21). Trong thời kỳ này, nền kinh tế nớc ta đợc thực hiện theo cơ
chế quản lý tập trung, hoạt động ngoại thơng đợc tập trung vào tay Nhà nớc. Bộ
Ngoại thơng có chức năng quản lý Nhà nớc (hoạch định chính sách, soạn thảo
pháp luật, kiểm tra, giám sát các hoạt động ngoại thơng ) đồng thời có chức
năng chỉ đạo các nghiệp vụ kinh doanh (ấn định các danh mục hàng hoá xuất
nhập khẩu, thị trờng, phơng thức mua bán, giá cả..) từ đó dẫn đến sự lẫn lộn
giữa chức năng quản lý Nhà nớc và chức năng kinh doanh và quản lý kinh
doanh.
Tuy nhiên, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung chỉ có thể thực hiện đ-
ợc trong điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội nhất định. Ngày nay, hệ

Qua bảng thống kê sau chúng ta thấy:
- Kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm. Tỷ lệ tăng trởng bình quân
trong 10 năm (1976 - 1985) của xuất khẩu tăng cao hơn tỷ lệ tăng của tổng kim
ngạch buôn bán hai chiều và của nhập khẩu. Trong khi tỷ lệ tăng trởng bình
quân trong 10 năm của xuất khẩu là 13,5% thì của XNK cộng lại là 8,4%, và
của nhập khẩu chỉ có 7%/ năm.
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
8
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
- Trị giá xuất khẩu tuy có tăng nhng trong 10 năm (1976-1985) xuất khẩu
cũng chỉ đảm bảo đợc 30,8% tổng số tiền nhập khẩu.
- Cán cân thơng mại quốc tế luôn nghịch sai (nhập siêu) và nhập siêu có
xu hớng tăng.
Bảng 1: Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1976 -1985
Đơn vị: Triệu rúp USD
Năm Tổng
KNXNK
Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thơng mại
Trị giá Tỉ lệ %
1976 1.226,8 222,7 1.004,1 -881,4 22,2
1977 1.540,9 322,5 1.218,4 -815,9 28,3
1978 1.630,0 326,8 1.303,2 -976,4 25,1
1979 1.846,6 320,,5 1.562,1 -120,5 21,0
1980 1.652,8 338,6 1.314,2 -975,6 25,8
1981 1.783,4 401,2 1.382,2 -981,0 29,0
1982 1.998,8 526,6 1.472,2 -945,6 35,8
1983 2.143,2 616,5 1.526,7 -910,2 40,4
1984 2.394,6 649,6 1.745,0 -1.095,4 37,2
1985 2.555,9 698,5 1.857,4 -1.158,9 37,6
Tổng số 18.773,0 4.423,5 14.349,5 -9.926,0 30,8

đối lớn của nền kinh tế.
Nghị định 33/CP ra đời đã mở rộng quyền tham gia kinh doanh cho tất cả
các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện mà Nhà nớc đặt ra. Thứ nhất, các doanh
nghiệp có vốn lu động bằng tiền Việt Nam tơng đơng 200.000 USD (với doanh
nghiệp lu thông), có u tiên cho các doanh nghiệp ở các tỉnh miền núi hoặc khó
khăn về kinh tế (100.000 USD), thứ hai, phải có đội ngũ cán bộ có đủ trình độ
kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng thì đợc Bộ Th-
ơng mại cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, ngoài giấy đăng ký kinh
doanh bình thờng.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng đợc phép tham gia
kinh doanh xuất nhập khẩu. Mặc dù thời kỳ này cha có những cơ chế khuyến
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
10
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
khích xuất khẩu thích đáng. Các doanh nghiệp này chỉ đợc xuất khẩu những sản
phẩm hàng hoá do chính mình làm ra.
Việc xuất nhập khẩu do khu chế xuất thực hiện đã không đợc tính vào kim
ngạch xuất nhập khẩu chung của cả nớc. Tuy những năm này, kim ngạch xuất
nhập khẩu của các khu chế xuất cha đáng kể, nhng theo thông lệ ngoại thơng
quốc tế, kết quả xuất khẩu của khu vực này thuộc phạm vi của xuất nhập khẩu.
Hoạt động gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nớc ngoài ngày càng
đợc phát triển. Riêng về gia công, hàng năm kim ngạch hàng gia công của nớc
ta chiến không dới 20% tổng kim ngạch, còn hoạt động đại lý cũng đặt ra yêu
cầu ngày càng bức xúc, song trong nhiều năm qua, các lĩnh vực hoạt động này
cha có những quy chế điều hành một cách có hệ thống, nên các doanh nghiệp
cũng nh các cấp quản lý còn nhiều lúng túng.
Bên cạnh những điểm tích cực, Nghị định 33/CP còn nhiều hạn chế và trên
thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu trong cơ chế thị trờng đã dần dần bộc lộ
những tồn tại. Đó là quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp bị
hạn chế bởi những yêu cầu mang nặng tính thủ tục. Việc cấp giấy phép xuất

quan Nhà nớc có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở
thành thơng nhân. (Điều 17 Luật Thơng mại)
Đối với thơng nhân Việt Nam, xuất nhập khẩu hàng hoá kể cả xuất nhập
khẩu uỷ thác và uỷ thác xuất nhập khẩu, đợc thực hiện theo giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh (Điều 3 Nghị định 57) không cần phải xin giấy phép
xuất nhập khẩu qua Bộ Thơng mại nữa. Các chi nhánh công ty, công ty cũng đ-
ợc xuất nhập khẩu hàng hoá thích hợp, theo uỷ quyền của tổng giám đốc, giám
đốc doanh nghiệp. Những hàng hoá cấm xuất nhập khẩu hoặc xuất nhập khẩu
có điều kiện sẽ do Chính phủ trực tiếp phê duyệt hoặc uỷ quyền cho các cấp có
thẩm quyền phê duyệt. Trong trờng hợp cần thiết, Chính phủ có thể quyết định
tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu với một thị trờng hoặc với một số mặt hàng
nhất định để thực hiện quyền tự vệ theo pháp luật và thông lệ quốc tế.
Mọi thơng nhân kinh doanh cùng ngành hàng đều đợc phép thành lập hội
liên hiệp hội ngành hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy chế của Bộ Thơng mại.
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
12
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
Mọi thơng nhân Việt Nam đợc phép nhận gia công cho thơng nhân nớc
ngoài, không hạn chế số lợng, chủng loại; những mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập
khẩu hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu đợc điều chỉnh thông qua Bộ Thơng
mại, đồng thời đợc quyền gia công ở nớc ngoài các loại hàng hoá đã đợc phép l-
u thông trên thị trờng Việt Nam để kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp đợc phép
xuất khẩu, tiêu thụ những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc không do
doanh nghiệp sản xuất theo quy định của giấy phép đầu t, trên tinh thần mở
rộng tối đa quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp FDI và khuyến khích mạnh
mẽ hoạt động xuất khẩu đối với khu vực này.
2.2. Chính sách đa dạng hoá mặt hàng và thị trờng.
Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991) thông qua cơng lĩnh xây dựng đất nớc
trong 10 năm trong bối cảnh mới của đất nớc và của thế giới. Đại hội đã nhất trí

tục khôi phục các thị trờng truyền thống, Nhà nớc đã quan tâm đặc biệt đến các
thị trờng không đòi hỏi hạn ngạch và những thị trờng ít chịu ảnh hởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua.
Nhà nớc tăng cờng vai trò của hệ thống thơng vụ Việt Nam ở nớc ngoài;
ngoài việc cung cấp thông tin thờng xuyên còn đợc giao nhiệm vụ tìm kiếm thị
trờng, kể cả việc đăng ký chỉ tiêu xuất khẩu vào thị trờng để trực tiếp giúp các
doanh nghiệp xuất khẩu.
Những năm cuối của thập kỷ 90, nớc ta đã tích cực nối lại các mối quan hệ
hợp tác toàn diện với các nớc XHCN trớc đây, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng
thị trờng sang các thị trờng quan trọng nh EU, Nhật, ASEAN
Đặc biệt là việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ đã mở
ra một thị trờng đầy tiềm năng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Về chính sách mặt hàng: Nhà nớc bắt đầu chú ý đến việc xây dựng các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tạo mọi điều kiện đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu
tối đa các mặt hàng chủ lực nh dầu thô, dệt may, thuỷ sản, gạo, cà phê, giày
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
14
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
dép, cao su, hạt điều, than đá, thủ công mỹ nghệ; đồng thời khuyến khích mở
rộng thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới nh rau, hoa quả, thịt, hàng chế
tạo cơ khí, hàng điện tử tin học vào các thị tr ờng truyền thống nh Liên
bang Nga, cộng đồng các quốc gia độc lập SNG, Đông Âu và khu vực, nhằm
tạo cơ sở vững chắc cho tăng trởng xuất khẩu.
Đối với những loại vật t hàng hoá đợc đáp ứng chủ yếu từ nguồn sản xuất
trong nớc nh thép xây dựng, xi măng đen các loại, giấy viết, giấy trong và giấy
bao bì, đờng kính, giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu t chủ trì cùng Bộ Tài chính và
các bộ sản xuất, Bộ Thơng mại xác định nhu cầu nhập khẩu bổ sung và xây
dựng quy chế điều hành theo nguyên tắc: chỉ nhập khẩu những vật t, hàng hoá
với chủng loại, quy cách sản phẩm trong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất ch-
a đủ nhu cầu. Đối với loại trong nớc cha sản xuất, sẽ điều tiết chủ yếu bằng

biến, rau quả sẽ cố gắng tìm thị tr ờng, đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã,
nâng cao chất lợng và tăng cờng đàm phán ở các cấp có thẩm quyền để cải thiện
các thủ tục thanh toán hoặc áp dụng rộng hình thức hàng đổi hàng
Chính sách khuyến khích mở rộng thị trờng và mặt hàng đợc ban hành:
Quyết định 746/QĐ-TTg ngày 24/08/1998 về lập quỹ thởng xuất khẩu. Theo
quy định của Thủ tớng Chính phủ và Bộ Thơng mại, doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế có thành tích xuất khẩu xuất sắc, hiệu quả cao, đều đợc xét
khen thởng. Các tiêu chuẩn cụ thể để xét khen thởng đợc quy định cho các
doanh nghiệp lần đầu tiên xuất khẩu những sản phẩm sản xuất trong nớc hoặc
xuất sang các thị trờng hoàn toàn mới mà có hiệu quả; các doanh nghiệp mở
rộng đợc thị trờng truyền thống hoặc thị trờng mới với những mặt hàng thuộc
danh mục hàng hoá khuyến khích xuất khẩu, có hiệu quả, với tốc độ tăng trởng
kim ngạch xuất khẩu trên 20%/năm; các mặt hàng xuất khẩu đạt chất lợng cao
đợc quốc tế công nhận; các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu từ 10 triệu
USD/năm trở lên đối với xuất khẩu hàng gia công chế biến bằng nguyên vật liệu
trong nớc chiếm từ 60% trở lên hoặc mặt hàng sản xuất trong nớc thu hút nhiều
lao động, nh hàng thủ công mỹ nghệ, nông, lâm, thuỷ, hải sản chế biến, hàng
may mặc không hạn ngạch; có kim ngạch xuất khẩu đối với các mặt hàng ngoài
kim ngạch hoặc ngoài chỉ tiêu đợc phân từ 50 triệu USD/năm trở lên
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
16
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
Ngoài ra, Nhà nớc sẽ dành một phần thích đáng cho các doanh nghiệp có
thành tích xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trờng không hạn ngạch hoặc
xuất khẩu các sản phẩm có sử dụng phần lớn các nguyên, phụ liệu trong nớc.
Đối với các mặt hàng nhập khẩu còn quản lý giấy phép, nói chung, Nhà nớc u
tiên phân cho các doanh nghiệp có xuất khẩu để khích lệ họ đẩy mạnh xuất
khẩu, gắn xuất khẩu với nhập khẩu. Mặt khác đề nghị thực hiện phụ thu và điều
chỉnh mức phụ thu theo sự biến động của thị trờng thế giới và dùng nguồn thu
này để góp phần hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp có thành tích cao hoặc

xỉ và những mặt hàng trong nớc đã sản xuất đợc.
Đối với thuế xuất nhập khẩu, ở Việt Nam từ năm 1979 với mời mức thuế
suất đối với 12 mặt hàng xuất khẩu và 28 mức thuế suất đối với mặt hàng nhập
khẩu hình thành nên một hệ thống thuế xuất nhập khẩu phức tạp, khó quản lý về
mặt vĩ mô.
Luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam đợc ban hành vào năm 1987 và đã
sửa đổi hoàn thiện 3 lần vào các năm 1991,1993 và 1998. Nhng thực chất Luật
thuế ban hành năm 1987 đã đợc thay thế gần nh toàn bộ bằng Luật thuế năm
1991 với lý do quan hệ thơng mại của thời điểm này khác hoàn toàn so với năm
1987.
Lĩnh vực hoạt động buôn bán với các nớc có chung biên giới cũng đợc quy
định cụ thể. Quyết định số 78/TTg ngày 28/02/1994 của Thủ tớng Chính phủ
quy định chấn chỉnh việc quản lý tình hình buôn bán giữa Việt Nam với các nớc
có chung biên giới, thực hiện theo đúng Hiệp định thơng mại đã ký kết với các
nớc và tập quán thơng mại quốc tế. Đặc biệt trong tình hình kinh tế mới, để
khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, ngày 08/08/1998, Thủ
tớng Chính phủ đã ra Quyết định số 143/1998/QĐ-TTg sửa đổi chế độ thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu tiểu ngạch. Quyết định này bãi bỏ chế độ thuế xuất khẩu,
nhập khẩu tiểu ngạch quy định tại Quyết định số 115/HĐBT ngày 09/02/1992
của Hội đồng Bộ trởng, áp dụng chế độ thuế hàng hoá xuất nhập khẩu chính
ngạch đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tiểu ngạch để thống nhất chế độ thu
thuế xuất khẩu, nhập khẩu; quản lý tốt hơn hoạt động xuất nhập khẩu.
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
18
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đợc lập lại cụ thể hơn, hoàn
thiện hơn, phù hợp với tình hình mới, với tiến trình hội nhập kinh tế. Năm 1992
theo Quyết định số 172/TCTK-QĐ ngày 01/1/1992, Tổng cục Thống kê đã ban
hành Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam trên cơ sở hệ thống điều
hoà (HS) của Hội đồng hợp tác Hải quan thế giới (CCC). Trong bảng danh mục

Do nớc ta có số lợng lớn hàng hoá có mức thuế suất từ 0-5% so với các n-
ớc ASEAN nên từ tháng 12/1995 Việt Nam đã đệ trình cho ASEAN danh mục
hàng hoá thuộc diện cắt giảm thuế quan đầu tiên bao gồm 1633 mặt hàng.
Những mặt hàng đợc đa vào danh mục này chủ yếu có mức thuế quan thấp. Các
năm 1996, 1997 đã đa thêm các mặt hàng vào Danh sách cắt giảm thuế nhng
vẫn chủ yếu là các mặt hàng sẵn có mức thuế quan thấp.
Chơng trình cắt giảm thực sự đợc bắt đầu từ năm 1998 với số lợng 1719
mặt hàng.
Đến năm 2000, Việt Nam đã đa khoảng 4200 dòng thuế vào cắt giảm theo
CEPT/AFTA.
- Cùng với quá trình cắt giảm thuế quan theo chơng trình CEPT, giai đoạn
1996-2000 nớc ta đồng thời thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hoá từ các
nớc EU theo thoả thuận Hiệp định đã ký kết giữa hai bên vào năm 1995.
- Đồng thời với việc thực hiện lịch trình cắt giảm thuế quan , nớc ta đã
quan tâm đến những yêu cầu về kỹ thuật nh điều hoà thống nhất danh mục biểu
thuế quan, điều hoà thống nhất hệ thống giá trị tính thuế quan .
- Đặc biệt để phù hợp với các quy định quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ tham
gia, Quốc hội đã ban hành Quyết định số 4/1998/QH ngày 20/05/1998 về luật
sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Trong đó:
+ Sửa đổi quy định về thuế suất u đãi: thuế suất u đãi đợc áp dụng cho
hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nớc hoặc khối nớc có thoả thuận về đối xử
MFN trong quan hệ thơng mại với Việt Nam.
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
20
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
+ Sửa đổi quy định về thuế suất thông thờng: thuế suất thông thờng đợc áp
dụng cho hàng hoá nhập khẩu từ nớc hoặc khối nớc không có thoả thuận về đối
xử MFN trong quan hệ thơng mại với Việt Nam. Thuế suất thông thờng đợc quy
định cao hơn thuế suất u đãi của từng mặt hàng.

Với sự đổi mới t duy của Đảng và Nhà nớc, thực hiện mở cửa nền kinh tế
trong đó có hoạt động ngoại thơng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách
khác nhau tạo điều kiện vừa thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu vừa thực hiện
tốt chức năng quản lý nhà nớc theo định hớng đã vạch ra. Một trong những
chính sách đó là chính sách phi thuế quan.
Trong giai đoạn 1986-1990, chính sách phi thuế quan của Việt Nam vẫn
cha rõ nét bởi hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu là doanh
nghiệp nhà nớc, hoạt động theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nớc. Những chỉ tiêu
này là chỉ tiêu pháp lệnh buộc các doanh nghiệp phải thực hiện. Từ việc doanh
nghiệp nào đợc phép kinh doanh xuất nhập khẩu, xuất nhập khẩu mặt hàng gì,
tại thị trờng nào, số lợng bao nhiêu, bán cho ai đến vốn kinh doanh đều do Nhà
nớc chỉ định, cung cấp, lãi thì Nhà nớc thu, lỗ thì Nhà nớc bù. Các doanh
nghiệp không có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên đến giai đoạn từ 1990-1995, ở Việt Nam, các doanh nghiệp
muốn kinh doanh xuất nhập khẩu cần phải có giấy phép kinh doanh và giấy
phép xuất nhập khẩu do Bộ Thơng mại cấp mới đợc quyền kinh doanh. Giáy
phép này đợc cấp trên cơ sở các doanh nghiệp đợc thành lập theo Nghị định
388/CP, Luật Doanh nghiệp nhà nớc, Luật Công ty chứng nhận pham vị kinh
doanh những mặt hàng với nớc ngoài. Bộ Thơng mại chỉ cấp giấy phép xuất
nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu những mặt hàng trong phạm vi
hạn ngạch quy định, còn những mặt hàng ngoài hạn ngạch thì các đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu chỉ việc đăng ký tại Bộ Thơng mại mà không hạn chế số
lợng cũng nh về chất lợng.
Nhằm đơn giản hoá thủ tục và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, ngày
15/12/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/CP cho phép bãi bỏ thủ tục
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
22
Tác động của đổi mới chính sách thơng mại đến ngoại thơng VN trong những năm gần đây
cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá từng chuyến. Điều này tạo cho
các doanh nghiệp giảm bớt các thủ tục phiền hà khi thực hiện hợp đồng xuất

đa vào quản lý bằng hạn ngạch năm 1989 gồm 24, trong đó đối với xuất khẩu là
10, nhập khẩu là 14.
Sau đó Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 của Chính phủ về quản lý đối với
hoạt động xuất nhập khẩu đã cắt giảm tối đa số lợng mặt hàng xuất nhập khẩu
quản lý bằng hạn ngạch để chuyển sang chế độ quản lý xuất nhập khẩu theo kế
hoạch định hớng với mục đích xoá thêm một bớc kế hoạch cứng trớc
đây.Kết quả là, số lợng mặt hàng xuất nhập khẩu quản lý bằng hạn ngạch giảm
rất nhanh trong giai đoạn 1989-1995: năm 1989 gồm 24 mặt hàng trong đó xuất
khẩu là 10, nhập khẩu là 14; năm 1990 gồm 19 mặt hàng trong đó xuất khẩu là
7, nhập khẩu là 12; năm 1992 đối với xuất khẩu chỉ còn một mặt hàng gạo và 4
mặt hàng nhập khẩu là ôtô du lịch 12 chỗ ngồi, xe hai bánh gắn máy, nguyên
phụ liệu sản xuất thuốc lá, linh kiện và phụ kiện điện tử CKD (Quyết định số
294/TMDL/XNK ngày 09/04/1992).
Năm 1993 đối với xuất khẩu ngoài gạo ra còn hai mặt hàng đợc quản lý
bằng hạn ngạch là dệt may vào Nauy và Canada, do yêu cầu từ phía các nớc
nhập khẩu. Đối với nhập khẩu hạn ngạch áp dụng cho một mặt hàng là nguyên
phụ liệu sản xuất thuốc lá (Quyết định số 405/TM-XNK ngày 13/09/1993).
Năm 1994 theo Quyết định số 78/TTg ngày 28/02/1994 của Thủ tớng
Chính phủ và Thông t 04/TM-XNK ngày 15/03/1995 của Bộ Thơng mại hàng
xuất khẩu quản lý bằng hạn ngạch chỉ còn một mặt hàng là dệt may. Các mặt
hàng quản lý bằng kế hoạch định hớng giảm so với năm 1994. Đối với xuất
khẩu chỉ còn một mặt hàng là gạo và nhập khẩu chỉ còn đối với 7 mặt hàng là
xăng dầu, thép, xi măng, phân bón, đờng, ôtô dới 12 chỗ ngồi và xe hai bánh
gắn máy.
Từ năm 1996, Việt Nam chuyển sang điều hành xuất nhập khẩu theo một
cơ chế ổn định hơn trớc đây. Các mặt hàng nhập khẩu quản lý theo kế hoạch
định hớng vẫn đợc duy trì theo phớng thức Bộ Thơng mại kết hợp với Bộ Kế
hoạch và Đầu t cùng các Bộ chuyên ngành liên quan xây dựng kế hoạch nhập
khẩu trên cơ sở đánh giá nhu cầu và khả năng sản xuất trong nớc. Hàng năm
Đỗ Thuý Hằng P2-K38E

Đỗ Thuý Hằng P2-K38E
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status