Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham
gia của ngành dệt may Việt Nam
Lương Thị Linh
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế; Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: PGS. TS. Hà Văn Hội
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tham gia chuỗi giá trị dệt
may toàn cầu. Đánh giá việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam
hiện nay. Xây dựng một số giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả vào chuỗi
giá trị dệt may toàn cầu.
Keywords: Quan hệ kinh tế quốc tế; Ngành dệt may; Việt Nam; WTO
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngành dệt may Việt Nam - một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và là chìa khoá để giải quyết việc làm cho người dân
Việt Nam, nhưng việc còn đơn thuần chỉ gia công cho nước ngoài, trong khi hầu hết
nguyên phụ liệu của ngành dệt may đều phải nhập khẩu khiến cho ngành dệt may Việt
Nam khó có thể phát triển bền vững. Bên cạnh đó , ngành công nghiệp hỗ trợ dê
̣
t may
trong nước còn non yếu dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng bên ngoài , giá trị gia
tăng trong mỗi sản phẩm dê
̣
t may thấp và dẫn đến hiệu quả xuất khẩu thấp . Nguyên nhân
là do ngành dệt may Việt Nam vẫn còn tồn tại những điểm yếu như: công nghiệp phụ trợ
kém phát triển, tỷ lệ gia công còn cao, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa có khả
6) Luận văn Thạc sỹ kinh tế: Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may trong điều kiện đã là
thành viên chính thức của WTO.
7) Các nghiên cứu về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị dệt may:
- Michael E. Porter: Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior
Performance.
- Gary Gereffi - Khoa Xã hội học - Đại học Duke Durham, Hoa Kỳ và Olga Memedovic
UNIDO Viện Nghiên cứu chiến lược và Chính sách Kinh tế Vienna, Áo.
Một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành dệt may như đã liệt kê ở
trên, là nguồn tư liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả trong việc xây dựng đề cương
nghiên cứu, cũng như trong quá trình triển khai viết luận văn. Tuy nhiên, các bài viết,
công trình nghiên cứu chưa phân tích một cách toàn diện, đầy đủ các khía cạnh về chuỗi
giá trị dệt may toàn cầu. Đồng thời, chưa có sự phân tích, làm rõ chuỗi giá trị dệt may
toàn cầu của Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu làm rõ sự cần thiết tham gia chuỗi giá trị dệt may
toàn cầu của Việt Nam và thông qua kinh nghiệm của các quốc gia xuất khẩu hàng dệt
may để hình thành một số giải pháp để ngành dệt may Việt Nam tham gia có hiệu quả
hơn so với hiện nay vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu là yêu cầu cần thiết và quan trọng.
Do vậy, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam, tìm ra những hạn chế và
nguyên nhân để có những giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc tham gia chuỗi giá trị
dệt may toàn cầu của Việt Nam. Với mục tiêu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt
ra như sau:
1) Tại sao ngành dệt may Việt Nam cần phải tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu?
2) Hiện nay dệt may Việt Nam đang ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu
3. Cần phải làm gì để thúc đẩy khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của dệt
may Việt Nam?
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn
Chương 3. Định hướng và một số giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả chuỗi
giá trị dệt may toàn cầu.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ
DỆT MAY TOÀN CẦU
1.1. Các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
1.1.1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu
Chuỗi giá trị nói đến một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc dịch
vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân
phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Tiếp đó, một chuỗi giá
trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị
trong toàn chuỗi [24, tr.4].
Chuỗi giá trị có thể diễn ra trong một phạm vi hẹp nhưng cũng có thể diễn ra ở phạm
vi toàn cầu. Chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra qua nhiều nước trên
phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu [24].
1.1.2. Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael E. Porter
Chuỗi giá trị, cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ
quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả bởi Michael Porter vào năm 1985. Chuỗi giá
trị là chuỗi của các hoạt động. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo
thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động
cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các
hoạt động cộng lại.
1.1.3. Khái niệm chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu được hiểu là các công đoạn của quá trình sản xuất sản
phẩm hàng may mặc trong chuỗi giá trị từ khâu khai thác, sản xuất nguyên liệu, thiết kế,
gia công - sản xuất thành phẩm rồi phân phối tới các nhà bán buôn, bán lẻ…có sự tham
gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia trên thế giới.
1.1.4. Bản chất và nội dung cơ bản của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
1.1.4.1. Bản chất của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Sản phẩm dệt may là một chuỗi giá trị bị ảnh hưởng bởi người mua, điều này có nghĩa
Hội nhập quốc tế thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain-GVC).
GVC cho phép các công đoạn của chuỗi đặt tại những địa điểm (quốc gia) có khả năng
đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Đến nay, nhiều công trình nghiên cứu kinh tế
đã đi đến kết luận là: lợi ích khi trở thành một bộ phận của GVC đem lại có thể gấp 10-20
lần nếu chỉ do quá trình tự do hoá thương mại đem lại.
1.3. Kinh nghiệm tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Trung Quốc
Ngành dệt may Trung Quốc là một trong những ngành có vị trí hàng đầu và là ngành
công nghiệp có nhiều thế mạnh trên trường quốc tế. Ngành dệt may Trung Quốc là một
trong những ngành công nghiệp quan trọng của quốc gia này. Với việc tận dụng được
những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, sự đầu tư đúng đắn vào các khâu đem lại lợi nhuận
cao, tăng cường đầu tư vào công nghệ, đổi mới các quy trình quản lý mà Trung Quốc đã
thật sự thành công trong việc đưa ngành công nghiệp truyền thống mũi nhọn này ngày
một phát triển mạnh mẽ.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ
DỆT MAY TOÀN CẦU CỦA VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về ngành dệt may của Việt Nam.
2.1.1. Về năng lực, tổ chức sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu
Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), hiện nay toàn ngành dệt may
Việt Nam có khoảng trên 3500 doanh nghiệp với cơ cấu doanh nghiệp phân theo chủ sở
hữu, theo địa phương và theo nhóm sản phẩm khá đa dạng (bảng 2.1).
Bảng 2.1- Cơ cấu doanh nghiệp dệt may năm 2010
Phân loại
Loại hình
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Phân theo địa phương
Miền Bắc
1050
giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước trong thời gian qua được thể hiện qua
hình 2.1
Hình 2.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2011)
Liên tục trong những năm gần đây, dù phải chịu nhiều ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh
tế toàn cầu, nhưng ngành dệt may nước ta vẫn đạt kim ngạch xuất khẩu rất ấn tượng.
Cụ thể về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính giai đoạn 2006
- 2010 được thể hiện qua hình 2.2
Hình 2.2. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các thị trƣờng
Mỹ, EU, Nhật Bản giai đoạn 2006 - 2010
11200
9066
9120
5834
7750
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
2006 2007 2008 2009 2010
Năm
Triệu USD
3045
1253
Hình 2.3- Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các
nƣớc năm 2011
(Nguồn: Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 2011)
Ngoài ba thị trường chính nêu trên, hàng dệt may Việt Nam còn có mặt trên các thị
trường như Đức, Anh, Pháp, Bỉ, Hồng Kông, Italia… với thị phần khoảng 20%. Đáng lưu
ý là một số thị trường xuất khẩu dệt may mới nổi như Hàn Quốc, Đài Loan, Canada cũng
góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành.
2.2. Thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam
2.2.1. Công đoạn sản xuất và cung ứng nguyên liệu
Trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu nói chung đã nêu ở chương 1, công đoạn 1: cung
cấp sản phẩm thô, bao gồm: các sợi tự nhiên và nhân tạo và công đoạn 2: sản xuất các
nguyên liệu đầu vào như sợi, vải được nhập thành một công đoạn lớn đó là công đoạn
sản xuất và cung ứng nguyên liệu. Ngành dệt may của Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc
quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu là từ Trung Quốc (xem bảng 2.2)
Bảng 2.2 - Nhập khẩu nguyên liệu dệt may
ĐVT: (triệu USD)
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
Phụ liệu dệt
may
1123,9
1224,0
1351,3
1081,0
1706
69,99
67,44
64,37
57,92
63,25
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan, 2011)
Những phân tích trên đây cho thấy việc phát triển nguồn nguyên phụ liệu vẫn là một
vấn đề nan giải đối với Việt Nam. Trước mắt, việc sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành
dệt may của Việt Nam vẫn chưa đạt đến tỷ lệ nội địa hóa mong đợi.
2.2.2. Công đoạn nghiên cứu, thiết kế sản phẩm
Công đoạn thiết kế là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của dệt may xuất
khẩu, bởi vì kiểu dáng và mẫu mã sẽ quyết định giá trị của sản phẩm. Đối với những sản
phẩm dệt may của Việt Nam, công đoạn thiết kế được thực hiện chủ yếu ở những nước và
vùng lãnh thổ có ngành công nghiệp thời trang phát triển như Mỹ, Anh, Italia, Pháp, Nhật
Bản, Hồng Kông,… Một số doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam
như Công ty May Việt Tiến, Công ty May Phương Đông, Công ty Thời trang Việt
Nam, có thể thực hiện công đoạn này nhưng còn rất hạn chế.
2.2.3. Công đoạn sản xuất/gia công sản phẩm cuối cùng.
Nhìn chung trong chuỗi giá trị toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu mới tham
gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng, khâu được đánh giá là tạo ra giá trị gia tăng
thấp nhất. Trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may, đây là công đoạn có giá trị gia
tăng thấp nhất, với tỷ suất lợi nhuận chỉ chiếm khoảng 5- 10%. Hiện nay, có khoảng 70%
giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam là được thực hiện theo phương thức gia
công xuất khẩu, hình thức này còn được gọi là xuất khẩu CMT. Nội dung mối quan hệ
này được tóm tắt trong bảng 2.3. Ngoài hình thức gia công xuất khẩu (CMT), phần còn
lại được thực hiện theo hình thức xuất khẩu trực tiếp FOB.
2.2.4. Công đoạn xuất khẩu sản phẩm
Sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam đang phải
cạnh tranh rất quyết liệt với các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn khác trên thế giới như
chủ yếu là đã tốt nghiệp PTTH, PTCS. Bên cạnh đó ngành đang có tình trạng thiếu nguồn
lao động quản lý và kỹ thuật; thiếu các nhà thiết kế mẫu thời trang chuyên nghiệp nên
khả năng gắn kết thời trang với sản xuất, đạt trình độ quốc tế còn kém. .
2.3.2.4. Mạng lưới phân phối còn hạn chế, marketing chưa chuyên nghiệp
Hiện nay hệ thống bán buôn, bán lẻ hàng vải sợi may mặc trong nước chưa có tổ chức,
để thả nổi, một số tư thương còn làm giả nhãn mác một số công ty có uy tín. Do đó, cần
phải tổ chức lại để Hệ thống này hoạt động có hiệu quả.
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ VIỆT NAM
THAM GIA CÓ HIỆU QUẢ CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU
3.1. Dự báo khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của dệt may Việt Nam
3.1.1. Phân tích SWOT ngành dệt may Việt Nam
Để đánh giá và dự báo khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may
Việt Nam, cần đánh giá điểm mạnh, yếu cũng như cơ hội và thách thức của ngành dệt
may Việt Nam.
3.1.1.1. Điểm mạnh
- Chi phí nhân công rẻ.
- Thợ may lành nghề.
- Hỗ trợ từ Chính phủ.
- Điều kiện kinh tế chính trị ổn định.
- Trang thiết bị của ngành dệt may đã được đổi mới và hiện đại hoá.
3.1.1.2. Điểm yếu
- Chi phí sản xuất cao
- May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, công tác thiết kế mẫu, mốt chưa
phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB thấp, hiệu quả sản xuất thấp. Thời gian
sản xuất kéo dài.
- Không đủ năng lực cung cấp dịch vụ trọn gói.
- Hầu hết các doanh nghiệp dệt may có quy mô vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn
đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị.
Thứ hai, phát triển sản xuất nguyên phụ liệu, kể cả đầu tư để phát triển thượng nguồn
(bông, xơ), vải và các loại phụ liệu khác.
Thứ ba, là khâu gia công sản phẩm. Toàn bộ khâu này (cắt, may, hoàn thiện, đóng gói,
vận chuyển…) chiếm giá trị khoảng 5-7% trong chuỗi giá trị toàn cầu (bao gồm cả các
thủ tục xuất khẩu);
Thứ tư, vươn lên xâm nhập vào mạng lưới phân phối toàn cầu để bán được sản phẩm
cho các nhà buôn (không phải qua các trung gian môi giới), thậm chí có thể bán đến tận
tay người tiêu dùng… .
Tuy nhiên, trên cơ sở hiện trạng và quá trình phát triển của ngành dệt may xuất khẩu
Việt Nam trong nhiều năm qua, câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng Việt Nam sẽ đồng thời
đầu tư vào tất cả các “mắt xích” nói trên, hay sẽ lựa chọn những khâu phù hợp để triển
khai? Phần phân tích dưới đây sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể.
3.2. Một số giải pháp đối với ngành dệt may nhằm tham gia có hiệu quả chuỗi giá trị
toàn cầu
3.2.1. Mạnh dạn đầu tư cho khâu thiết kế sản phẩm
Như trên đã nêu, trong thời gian qua, ngành dệt may của Việt Nam chủ yếu phát triển
dựa trên phương thức gia công xuất khẩu, đóng vai trò là người đi làm thuê cho các hãng
khu vực và các nhà môi giới trong thị trường này. Để nâng cao hiệu quả và tránh rủi ro do
bị phụ thuộc vào các đơn hàng của đối tác nước ngoài, chủ động trong việc thiết kế sản
phẩm xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam cần phân khúc thị trường xuất khẩu để xác
định đúng “mắt xích” trong chuỗi giá trị để đầu tư cho khâu thiết kế. Đối với các thị
trường “dễ tính” như Hàn Quốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga…ngành dệt may cần
mạnh dạn đầu tư cho khâu thiết kế thời trang.
Tuy nhiên, đối với các khách hàng khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, ngành dệt may lại
phải cẩn trọng trong việc đầu tư vào khâu thiết kế sản phẩm.
3.2.2. Đầu tư quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu và sản xuất nguyên liệu
Để tránh quá bị phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, chủ động sản xuất một phần
nguyên liệu cung ứng cho nhu cầu sản xuất toàn ngành dệt may, đang là một vấn đề
“nóng”. Để làm được điều này, nhà nước và ngành dệt may Việt Nam cần phải có chiến
lược quy hoạch nguồn nguyên liệu, hướng tới nguyên liệu nội sẽ thay thế phần lớn
Việt Nam có thể kết nối và tham gia giao thương. Tại các cổng thông tin này, có rất nhiều
các nhà kinh doanh (người bán hàng), nhiều nhất là từ Trung Quốc, Ấn Độ, có ảnh hưởng
lớn khiến cho giá cả có khả năng xuống khá thấp.
3.3.4. Nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp dệt may nhà nước và thúc đẩy đầu tư
nước ngoài vào thượng nguồn.
Chính phủ cần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp dệt may nhà
nước. Cần thực hiện các biện pháp như sáp nhập và mua lại những doanh nghiệp làm ăn
không tốt. Đồng thời, Chính phủ vẫn nên tiếp tục đầu tư nhưng với phương pháp hiệu quả
hơn như liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài vào thượng nguồn
cần được xúc tiến bằng các hình thức như tổ chức hội thảo để kêu gọi đầu tư.
3.3.5. Cải tiến thủ tục hải quan
Khuyến nghị được đưa ra là thông lệ giám định hàng hóa hiện hành được thay bằng
kiểm tra sau thông quan theo đề xuất của Dự án VIE/97/059 về củng cố năng lực hải quan
Việt Nam để giảm bớt thời gian thông quan.
3.3.6. Cải thiện chính sách thuế
Chính phủ cần xem xét việc thay đổi và áp dụng cùng một mức thuế VAT cho những
nguyên liệu sản xuất tại Việt Nam phục vụ sản xuất hàng may mặc để xuất khẩu bằng với
mức thuế VAT đánh vào nguyên liệu xuất khẩu.
KẾT LUẬN
1. Các kết quả nghiên cứu chính
Luận văn đã đạt được một số kết quả chính sau đây:
Thứ nhất, nội dung luận văn đã làm rõ khái niệm và bản chất về chuỗi giá trị toàn cầu,
luận giải sự cần thiết phải tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may Việt
Nam.
Thứ hai, luận văn đã làm sáng tỏ vai trò quan trọng của ngành dệt may Việt Nam đối
với tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, cũng như được coi là chìa khóa để giải quyết
việc làm cho người dân Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở nguồn số liệu thứ cấp và các tài liệu tham chiếu từ Hiệp hội dệt may
Việt Nam, luận văn đã phân tích và làm rõ thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của
của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau khi dỡ bỏ hệ thống hạn ngạch dệt may -
một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn
c
ầ
u, Đại
học Ngoại Thương, Hà Nội.
6. Nguyễn Việt Khôi (2011), Đầu tư trực tiếp của TNCs và sự tham gia của nước nhận
đầu tư vào chuỗi giá trị toàn cầu: trường hợp Trung Quốc, Luận án tiến sỹ kinh tế,
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7. Micheal E. Porter (2009), Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì thành tích vượt
trội trong kinh doanh, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Nguyễn Ngọc Sơn (2007), “Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt
may”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 2 (74), Tr. 65-67.
9. Nguyễn Ngọc Sơn (2008), “Dệt may Việt Nam thời kỳ hậu WTO: Thực trạng và giải
pháp”, Tạp chí Kinh tế & Dự báo, (11), Tr. 42-47.
10. Ngô Kim Thanh (2009), “Doanh nghiệp dệt may Việt Nam đối phó với suy thoái
kinh tế toàn cầu”, Kinh tế và Phát triển, 2 (7), Tr 56- 58.
11. Nguyễn
Đức
Thành (2009), Kinh tế
Việt
Nam năm 2008, Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội.
12. Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt
Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia , Hà Nội.
13. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển ngành
công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
14. Ninh Thị Thu Thủy (2007), “Tổ chức sản xuất ngành dệt may sau khi bãi bỏ chế độ
hạn ngạch”, Tạp chí Khoa học Đại học Đà Nẵng, (14), Tr.4.
Globalisation Network.
Website:
25. http://www.hiephoidetmay.org.vn
26. http://www.infotv.vn
27. http://www.itpc.hochiminhcity.gov.vn
28. http://www.ncseif.gov.vn
29. http://www.saigon3.com.vn
30. http://www.sggp.org.vn
31. http://www.vietnamtextile.org
32. http:// www.vietrade.gov.vn
33. http://www.vinanet.com.vn
34. http://www.vinatex.com.vn
35. http://www.vietchinabusiness.vn
36. http://www.incra.in.com
37. http://www.tbs-china.com