Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh hà nam hiện nay - Pdf 10

Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở
tỉnh Hà Nam hiện nay
Creating jobs for female workers in Ha Nam Province today
NXB H. : ĐHKT, 2012 Số trang 102 tr. + Lâm Thị Phượng Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 603101
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đinh Văn Thông
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động nữ và tạo việc làm cho lao
động nữ. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà
Nam giai đoạn 2005 – 2011. Đề xuất một số giải pháp: về cơ chế, chính sách; Về tổ chức, quản
lý; Khuyến nghị hỗ trợ cải thiện điều kiện làm việc và thu nhập cho lao động nữ chủ yếu nhằm
giải quyết có hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong
thời gian tới.

Keywords: Kinh tế lao động; Hà Nam; Lao động nữ

Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Lao động, việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển với dân số đông và lực lượng
lao động lớn như Việt Nam. Với đặc điểm đó một mặt là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của
chúng ta, nhưng mặt khác nó lại tạo ra sức ép về việc làm cho toàn xã hội. Do đó, giải quyết việc làm,
ổn định việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng luôn là một trong những vấn đề

Hà Nam là một tỉnh thuần nông, lực lượng lao động nữ chiếm hơn 51% dân số toàn tỉnh. Trong
khi quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với tốc độ công nghiệp hoá diễn ra khá nhanh; các khu,
cụm công nghiệp phát triển mạnh, xây dựng tuyến đường cao tốc, khu đô thị và nhiều dự án khác đã làm
cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhanh chóng; lao động nữ của tỉnh phần lớn là lao động nông
nghiệp; tỷ lệ lớn lao động chưa qua đào tạo nên khó thích ứng và tự tìm kiếm việc làm trong các khu
công nghiệp. Số lượng lao động nữ tự tạo việc làm rất hạn chế, chủ yếu là các công việc tạm thời với thu
nhập thấp và điều kiện lao động không bảo đảm, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ
còn cao và có xu hướng gia tăng (năm 2010, toàn tỉnh có gần 7.000 lao động nữ thiếu việc làm; tỷ lệ thiếu
việc làm của lao động nữ là 3,81%; tỷ lệ thất nghiệp là 1,33%). Từ đó nhu cầu việc làm và việc làm bền
vững cho lao động nữ dôi dư ngay tại địa phương trở nên hết sức bức thiết. Do vậy, tỉnh xác định công
tác giải quyết việc làm cho lao động nữ là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc của công tác giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nữ ở Hà
Nam hiện nay, đồng thời mong muốn xây dựng một số giải pháp góp phần tích cực trong việc tạo việc
làm cho lao động nữ ở Hà Nam, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “ Giải quyết việc làm cho lao động
nữ ở tỉnh Hà Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm cho lao
động nói chung và lao động nữ nói riêng đã được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau (sách tham
khảo, đề tài, luận văn, luận án, bài tạp chí, báo ). Trong đó có thể kể đến:
- Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của tác giả Trần Đình Hoan và Lê
Mạnh Khoa, Nxb Sự Thật ,1991.
- Trần Thị Thu “Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH” - Nhà xuất bản Lao
động xã hội Hà Nội (2003).
- Trần Thị Minh Đức “Nghiên cứu một vài đặc điểm tâm lý xã hội của lao động nữ ngoài tỉnh
bán hàng rong trên đường phố Hà Nội” - Tạp chí tâm lý học số 6/2002.
- Giải quyết việc làm ở nông thôn và những vấn đề đặt ra, PGS. TS Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí
con số và sự kiện, số 8/2003.
- Thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn và một số giải pháp cho giai đoạn phát triển 2001
- 2005, Bùi Văn Quán, Tạp chí lao động và xã hội, số chuyên đề 3, 2001.

5. Phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện Đại hội Đảng về công tác giải quyết việc làm cho lao động
nói chung và lao động nữ nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh để phân tích làm sáng
tỏ vấn đề.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ tỉnh Hà Nam
hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm
cho lao động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ.
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005-2011.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ ở
tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm; lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động
nữ
1.1.1. Lao động, việc làm và giải quyết việc làm

[13; tr.213].
Như vậy có thể khẳng định: giải quyết việc làm cho người lao động là tổng thể các giải pháp,
chính sách kinh tế, xã hội tác động đến người lao động nhằm tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm
cho mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm và thu nhập ngày càng
cao.
1.1.2. Lao động nữ, việc làm của lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ:
 Lao động nữ
Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm một bộ phận
dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm,
mong muốn có việc làm. Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 18 - 55
tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp.
Do đó có thể thấy: lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những phụ nữ thất nghiệp nhưng đang có
nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm.
 Việc làm của lao động nữ:
Vấn đề việc làm cho lao động nữ đã được đặt ra rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau:
Các Mác đã đề cập đến việc làm cho lao động nữ trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa:“ Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên nó trở thành một công cụ
để sử dụng những người lao động không có sức bắp thịt hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân
tay lại mềm mại hơn. Vì vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói đầu tiên của nó là Lao động phụ
nữ và trẻ em” [ 6;tr.499].
Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO) đã bàn về việc làm cho lao động nữ trong Điều 8 Công ước
xúc tiến việc làm năm 1988: “ Tuỳ theo thực tiễn và pháp luật hoặc quy định quốc gia mỗi nước thành
viên sẽ cố gắng thiết lập chương trình đặc biệt để khuyến khích những cơ hội có việc làm thêm và sự trợ
giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả những loại người bị bất lợi đã được
xác định có thể bị khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài như phụ nữ, thiếu niên, người bị khuyết
tật, người thất nghiệp vĩnh viễn, người lao động di trú hợp pháp tại Nước thành viên và những người
lao động dôi ra do thay đổi cơ cấu” [10].
Bộ Luật Lao động (1994) của nước ta đã dành riêng một chương cho lao động nữ . Trong Khoản
1, Điều 109 của Bộ Luật Lao động đã chỉ rõ “ Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng

tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Lao động nữ có việc làm ổn định sẽ tạo
điều kiện cho họ ổn định cuộc sống của gia đình, tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của họ trong việc
quản lý gia đình và nuôi dạy con cái, tránh được các yếu tố rủi ro xảy ra trong quá trình tìm kiếm việc
làm. Tạo việc làm cho lao động nữ sẽ giúp cho lao động nữ được tiếp cận với cơ hội đào tạo, phát triển,
nâng cao trình độ, từ đó, trang bị thêm cho lao động nữ sự tự tin, bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống,
giúp cho lao động nữ hiểu rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của mình trong xã hội để họ tự hoàn thiện
mình.
Giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động nữ là vấn đề cấp thiết, nó tạo cho lao động nữ cơ hội
được độc lập về kinh tế và phát triển các mối quan hệ xã hội, đáp ứng được các yêu cầu của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta hiện nay.
1.3. Đặc điểm việc làm của lao động nữ và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ
1.3.1. Đặc điểm lao động nữ và việc làm của lao động nữ
 Đặc điểm của lao động nữ:
- Tính đặc trưng về sức khỏe, tính cách, tâm lý xã hội và chức năng sinh học của lao động nữ:
Lao động nữ được xếp vào nhóm lao động đặc thù bởi những đặc điểm riêng biệt về thể chất,
tinh thần, chức năng sinh học Lao động nữ là người lao động có giới tính là nữ, ngoài việc thực hiện
nghĩa vụ lao động như nam giới, họ còn đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ và chăm sóc gia đình.
Chức năng thiên bẩm của phụ nữ là mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ. Từ thiên chức này của
lao động nữ nên đối với từng quốc gia đã có chính sách riêng phù hợp với lao động nữ.
Lao động nữ có những đặc trưng riêng về sức khỏe, tính cách, tâm lý và đặc điểm xã hội, từ đó
tác động đến việc làm của họ. Do tạo hoá, phụ nữ nhìn chung có thể hình nhỏ bé hơn, sức mạnh và độ
dẻo dai kém hơn lao động nam nên thường chọn những công việc nhẹ nhàng, ít nặng nhọc, ít độc hại và
nguy hiểm. Phụ nữ thường chăm chỉ, chịu khó, kiên nhẫn, khéo léo, thận trọng, họ rất cần cù, chịu
đựng, bền bỉ, kiên trì, miệt mài với công việc nên có những việc làm do lao động nữ đảm nhận
thường hiệu quả hơn so với nam giới.
- Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng thu nhập còn tồn tại phổ biến:
Lao động nữ thuộc nhóm lao động yếu thế, phải chịu nhiều thiệt thòi vì định kiến giới, đặc
biệt là trong lĩnh vực lao động. Họ dễ rơi vào tình trạng bị bóc lột sức lao động, dễ bị tổn thương và
bất bình đẳng trong việc làm so với nam giới do thị trường lao động vẫn đang được phân loại theo
giới tính.

nam giới, chỉ có 17% yêu cầu ứng viên là nữ. Lao động nữ hiện chiếm số đông trong những ngành
nghề không đòi hỏi chuyên môn, kỹ thuật cao, có thu nhập thấp, điều kiện lao động nghèo nàn, thời
gian lao động kéo dài và việc làm bấp bênh, rủi ro cao. Theo số liệu thống kê của Tổng Liên Đoàn
Lao Động VN cho thấy có khoảng 56,2% lao động nữ làm việc trong môi trường tiếng ồn, rung;
55% nóng, bụi; 24,6% có chất độc; 12,9% công việc nặng nhọc.
- Việc làm của lao động nữ có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực:
Vị thế việc làm của lao động nữ cũng có sự thay đổi tích cực theo chiều hướng tỷ lệ việc làm
của lao động nữ thuộc nhóm lao động làm công tăng đột biến, thay thế vị trí của nhóm lao động tự
làm và lao động gia đình không hưởng lương Trong 10 năm từ 1997 đến 2007, nhóm lao động làm
công ăn lương tăng rất mạnh trong cơ cấu phân bố lao động, từ 18,6% (1997) lên tới 30% (2007),
trong đó lao động nam chiếm 59,8% và lao động nữ chiếm 40,2% (2007). Nếu so sánh với năm
2005 thì có sự thay đổi rõ rệt. Năm 2005, tỷ trọng lao động làm công ăn lương chiếm 25,6%, trong
đó lao động nam chiếm 78,7% và lao động nữ chiếm 21,3%. Tỷ trọng lao động nữ trong số người
làm công ăn lương tăng mạnh (19%), thể hiện sự thay đổi theo hướng giảm sự bất bình đẳng giới về
việc làm có thu nhập ổn định giữa nam và nữ [22].
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ
- Những nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Tâm lý xã hội, phong tục tập quán và vị thế của người phụ nữ trong xã hội:
- Năng lực của bản thân lao động nữ và tính tích cực trong tự tạo việc làm:
- Tác động của cơ chế, chính sách xã hội:
1.4. Một số phương thức giải quyết việc làm cho lao động nữ
1.4.1. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ, đa dạng
hóa các ngành nghề sử dụng nhiều lao động nữ
1.4.2. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia
1.4.3. Mở rộng, phát triển và nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo nghề, các trung tâm giới
thiệu việc làm tại địa phương.
1.4.4. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua xuất khẩu lao động
1.5. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nữ ở một số địa phương
1.5.1. Kinh nghiệm của Hưng Yên
1.5.2. Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương

Nữ
2005
790 092
384 201
405 891
100,4
99,8
48,6
51,4
2006
792 082
384 630
407 452
100,1
100,4
48,6
51,4
2007
787 646
383 721
403 925
99,8
99,1
48,7
51,3
2008
786 786
383 522
403 264
99,9

Chung
Nam
Nữ
Chung
Nam
Nữ
Chung
Nam
Nữ
- Chưa biết chữ
3,33
2,9
3.75
2,66
2,2
3,12
2,5
1,9
3,03
- Chưa tốt nghiệp tiểu
học
13,3
12,9
13,6
12,0
11,4
12,6
10,7
10,1
11,3

26,1
25,8
(Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2011), Báo cáo tổng kết thực hiện đề án đào tạo nghề và đề án
giải quyết việc làm tỉnh Hà Nam giai đoạn 2006-2010 )
Căn cứ vào bảng số liệu trên ta thấy, trình độ học vấn của lao động nữ có sự biến chuyển theo
chiều hướng tiến bộ, tỷ lệ lao động nữ chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học giảm từ 3,75% và
13,6% (2005) xuống còn 3,03% và 11,3% (2010); tỷ lệ lao động nữ tốt nghiệp ở bậc tiểu học và trung
học cơ sở có giảm nhẹ nhưng tỷ lệ lao động nữ tốt nghiệp ở bậc trung học phổ thông lại tăng lên đáng kể
từ 19,1% (2005) lên 25,8% (2010).
Bên cạnh trình độ học vấn còn thấp, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn rất hạn
chế. Phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động thủ công chiếm tỷ lệ lớn.
Lực lượng lao động nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật tuy có giảm qua các năm nhưng nhìn
chung vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn với 79,2% (2005) và 71,5% (2010); lao động nữ có trình độ sơ cấp, học
nghề, chuyên môn kỹ thuật không bằng tuy có tăng từ 14,6% (2005) lên 18,7% (2010) nhưng còn chiếm tỷ lệ
thấp; lao động nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật có bằng chiếm tỷ lệ thấp nhất và tăng chậm qua các năm từ
6,2% (2005) lên 9,8% (2010).
Bảng 2.3. Cơ cấu lao động nữ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Đơn vị: %
Năm

Trình độ
CMKT
2005
2008
2010

Tổng số

Nam



16,2

14,6
17,4
19,3
15,4
20,6
22,5
18,7
- Chuyên môn kỹ thuật có
bằng trở lên.
7,5
8,9
6,2
9,6
10,6
8,7
10,4
11,1
9,8
Chung
100
100
100
100
100
100
100
100

số Trung ương, tỷ lệ lao động nữ thất nghiệp của Hà Nam chiếm 33,4%. Nhờ đẩy mạnh thực hiện thực hiện
công tác giải quyết việc làm cho người lao động, đến năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp của lao động nói chung và
lao động nữ nói riêng đã có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ trong độ tuổi lao động
của tỉnh là 1,33%, trong đó thành thị là 1,75% và nông thôn là 1,28% [21].
2.2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 - 2011
2.2.2.1. Giải quyết việc làm cho lao động nữ theo ngành kinh tế
 Trong phát triển nông, lâm nghiệp, thuỷ sản nhằm giải quyết việc làm cho lao động nữ:
Hà Nam tập trung đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành theo hướng
tăng tỷ trọng chăn nuôi gia súc, gia cầm; nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng
hoá và nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa. Tính đến năm 2008 trên địa bàn tỉnh đã có 572 trang
trại, giải quyết việc làm cho 1.250 lao động, trong đó nữ chiếm 62%; 167 doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, giải quyết việc làm cho 886 lao động nữ; có 165.837/220.789 hộ
kinh tế gia đình trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, trong đó có 25% hộ gia đình do nữ làm
chủ. Năm 2010, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng lên
174 doanh nghiệp, nhờ đó số lao động nữ được giải quyết việc làm đã tăng lên 967 người [12]. Năm
2010, trong tổng số lao động làm việc trong khu vực kinh tế nông thôn, tỷ lệ lao động nữ làm việc
trong nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 60,1% [12].
Tuy nhiên, những mô hình sản xuất có hiệu quả của lao động nữ của tỉnh còn rất hạn chế,
mới chỉ dừng lại ở một số gương điển hình tiêu biểu. Lao động nữ sản xuất nông nghiệp phần lớn
vẫn tự tạo việc làm là chính, lao động mang tính chất mùa vụ và chưa đa dạng hóa các ngành nghề
vào thời điểm nông nhàn nên lực lượng lao động nữ thiếu việc làm ở nông thôn và tình trạng dư thừa
lao động ở khu vực này ngày càng tăng đã tạo ra những rào cản đối với vấn đề giải quyết việc làm,
nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.
 Trong phát triển công nghiệp:
Hà Nam đã tập trung thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án phát triển công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhờ đó, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh giai đoạn 2006-2011 đã
tăng bình quân 23,4%/năm. Tỉnh đã tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển 8 khu công nghiệp, trong đó
03 khu công nghiệp được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đã thu hút gần 100 dự án đầu tư, có 30 dự án
đầu tư nước ngoài thu hút gần 14.000 lao động, trong đó lao động nữ chiếm 42,7%. Theo số liệu thống
kê của tỉnh năm 2008, tổng số lao động nữ được giải quyết việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, xây

doanh nghiệp trung ương giảm từ 358 người xuống còn 344 người và trong các doanh nghiệp địa
phương giảm từ 960 người xuống còn 778 người [12].
 Giải quyết việc làm cho lao động nữ trong kinh tế ngoài nhà nước
Với chủ trương đa dạng các thành phần kinh tế và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã làm cho
thành phần kinh tế ngoài nhà nước không ngừng mở rộng cả về phạm vi và quy mô. Năm 2010, số doanh
nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh là 1.621 doanh nghiệp, chiếm tới 97,8% số doanh nghiệp của tỉnh.
Số lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng mạnh từ 7.034 người, chiếm 70,5% (2005) lên
17.096 người, chiếm 75,9% (2010), tức là tăng gấp gần 2,5 lần. Trong đó, lao động nữ được giải quyết việc
làm tập trung chủ yếu trong các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân với 4.252 người, chiếm 42,6% (2005)
và 9.326 người, chiếm 41,4% (2010), tăng gấp hơn 2 lần [12].
 Giải quyết việc làm cho lao động nữ trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Với chủ trương mở rộng mối quan hệ hợp tác và tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng để thu
hút đầu tư của các quốc gia trên thế giới của tỉnh đã làm gia tăng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc
tạo thêm việc làm cho lao động nữ. Số lao động nữ được giải quyết việc làm trong khu vực này tăng từ
1.632 người, chiếm 16,3% (2005) lên 4.303 người, chiếm 19,1% (2010); trong đó số lao động nữ tăng
nhanh trong khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ 901 người ( 2005) lên 4.001 người (2010)
[12].
Bảng 2.4: Lao động nữ đang làm việc trong các doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn
2005 - 2010
Đơn vị: người Loại
hình doanh nghiệp
2005
2006
2007
2008
2009

70,5
69,3
73,0
71,6
76,3
75,9
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
1.632
2.928
3.348
3.853
4.200
4.303
Đạt (%)
16,3
21,0
19,7
20,9
18,8
19,1
( Nguồn:Cục Thống kê tỉnh Hà Nam(2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam)

2.2.2.3. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua các chương trình mục tiêu Quốc gia
 Các Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm
Tính từ năm 2005 đến nay, tỉnh đã tập trung huy động được 76.985 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn
Trung ương giao cho tỉnh quản lý là 43.868 tỷ đồng, nguồn vốn do các Hội, đoàn thể tỉnh quản lý là
10.666 tỷ đồng, nguồn vốn của quỹ địa phương là 22.451 tỷ đồng. Giai đoạn 2006-2011, có khoảng 993
lượt phụ nữ được vay vốn với tổng số vốn là 18.810 triệu đồng từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm;
29.427 lượt phụ nữ được vay vốn với tổng số vốn là 404.028 triệu đồng từ nguồn vốn vay của Ngân


Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
Ở TỈNH HÀ NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
3.1.1. Phải coi vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ là một bộ phận quan trọng trong nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng được xác định
là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Đối với tỉnh Hà Nam trên cơ sở cụ thể hoá Nghị quyết X
của Đảng, Đảng bộ tỉnh đã xác định: Đảm bảo có việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, vừa là nhiệm vụ quan trọng trước mắt, vừa là chiến lược lâu dài và được cụ thể hoá
trong định hướng phát triển kinh tế đến năm 2020 và quy hoạch khu đô thị dân cư nông thôn với các
định hướng cơ bản: Xây dựng Hà Nam thành một địa bàn kinh tế mở. Bảo đảm hài hòa giữa phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững; Kết hợp tốt Công nghiệp hoá nông nghiệp - nông thôn với mở rộng và xây
dựng mới các khu đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm. Trên cơ sở những đinh hướng lớn, tỉnh đã đề ra
mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 với các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội là: Phát triển kinh tế - xã
hội nhanh, hiệu quả, bền vững trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Nâng cao rõ rệt mức sống của nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp,
có mức GDP bình quân đầu người vượt mức trung bình của vùng Đồng bằng Sông Hồng. Quốc
phòng, an ninh được giữ vững. Tăng trưởng bình quân 14,2%/năm cho giai đoạn 2011 - 2020, trong
đó giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,5%, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 15%.
Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm tới Hà Nam cần phải tập trung nhiều giải
pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao
động nữ nói riêng. Khi tăng trưởng kinh tế sẽ gia tăng cơ hội cho các ngành sử dụng nhiều vốn do áp
dụng công nghệ cao và sử dụng nhiều lao động do công nghệ vừa phải. Tuy nhiên trong điều kiện thị
trường lao động kém phát triển như ở Hà Nam nếu không điều chỉnh linh hoạt, kinh tế phát triển nhanh
dẫn đến cơ cấu ngành sản xuất thay đổi theo hướng tăng nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng sẽ làm
mất cân đối cơ cấu lao động, tăng mức độ bất bình đẳng trong lao động, việc làm. Như vậy định hướng
phát triển kinh tế phải gắn chặt với giải quyết việc làm một cách hiệu quả, đặc biệt quan tâm đến chất
lượng nguồn nhân lực và cân đối phù hợp, đồng bộ các nguồn lực khác trực tiếp có tác động đến sự tăng

cấp uỷ đảng thực hiện chiến lược hành động vì sự tiến bộ phụ nữ và được Uỷ ban nhân dân tỉnh thể chế
trong kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Hà Nam.
Bên cạnh các chính sách đảm bảo quyền bình đẳng cho lao động nữ thì việc bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng cho lao động nữ theo đúng quy định của pháp luật cũng được tỉnh quan tâm. Lao động nữ
trong các doanh nghiệp được tuyển dụng và làm việc theo hợp đồng lao động, được đóng bảo hiểm y tế và
bảo hiểm xã hội, được hưởng các chế độ đối với lao động đặc thù Tuy nhiên, vấn đề thực thi quyền lợi
của lao động nữ trong khu vực ngoài nhà nước vẫn chưa được đảm bảo một cách đầy đủ, không ít doanh
nghiệp vẫn tìm cách để ”lách” luật nhằm thu hẹp quyền lợi chính đáng của lao động nữ. Do đó, tỉnh cần
phải tiếp tục kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện quyền của người lao động và nghiên cứu để xây dựng các
chính sách phù hợp với tính chất đặc thù của lao động nữ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ họ tái sản xuất nâng
cao chất lượng sức lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam
trong thời gian tới.
3.2.1. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách
3.2.1.1. Tăng cường thực hiện các chính sách kinh tế gắn với giải quyết việc làm cho lao động nữ
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hoá các thành phần kinh tế là
tiền đề quan trọng để giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó có lao động nữ.
Để tiếp tục duy trì ổn định và giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sớm đạt được mức bình quân
của cả nước và Đồng bằng Sông Hồng; giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo, tỉnh Hà Nam cần tập
trung đẩy mạnh các giải pháp: Tiếp tục nghiên cứu các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tín dụng,
chính sách thuế, chính sách đất đai nhất là hệ thống luật pháp kinh tế nhằm cụ thể hoá, tổ chức, triển khai,
thực hiện có hiệu quả, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế trên địa bàn.
Một trong các giải pháp hỗ trợ tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo việc làm cho người lao động
đó là các chính sách của quốc gia trong công tác giải quyết việc làm của tỉnh cũng phải được thực hiện và
khai thác một cách triệt để, hiệu quả vì thực tế hiện nay, nên kinh tế của tỉnh Hà Nam còn nghèo, ngân sách
phụ thuộc nhiều vào nguồn ngân sách trung ương, tiềm năng về kinh tế có hạn, do vậy việc thực hiện tốt các
chính sách quốc gia trong giải quyết việc làm có vai trò hết sức quan trọng, góp phần tích cực trong công tác
giải quyết việc làm cho lao động nói chung, lao động nữ nói riêng.
3.2.1.2. Tăng cường chính sách quan tâm chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo thực hiện pháp luật về
quyền của lao động nữ

tiêu quốc gia, thực hiện công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, liên kết với cấc doanh nghiệp
để đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực nữ cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần bố trí nguồn kinh phí
kịp thời theo chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh để hỗ trợ các doanh nghiệp có thu hút nhiều lao động vào
làm việc trong công tác đào tạo nghề, tự đào tạo nghề cho lao động nữ.
3.2.2.2. Kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao
động nữ
Hoạt động của các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm đã và đang có những đóng góp quan trọng
trong việc giới thiệu việc làm cho lao động nữ. Do đó cần đẩy mạnh hoạt động của hệ thống trung tâm
giới thiệu việc làm, kiện toàn cơ sở vật chất và bổ sung thêm cán bộ quản lý, theo dõi và phát huy vai
trò, hiệu quả của các sàn giao dịch việc làm trung tâm và các sàn giao dịch việc làm vệ tinh được mở tại
trung tâm các huyện, định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm. Phối hợp chặt chẽ với các doanh
nghiệp để khảo sát, nắm bắt kịp thời nhu cầu sử dụng lao động nữ của các doanh nghiệp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động của các trung tâm trong lĩnh vực thông tin thị trường lao động, tư vấn pháp luật lao
động và giới thiệu việc làm.
3.2.2.3. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài
Trên cơ sở kết quả thực hiện công tác xuất khẩu lao động nói chung và lao động nữ nói riêng giai
đoạn 2005-2010, có thể khẳng định tỷ lệ lao động nữ xuất khẩu của tỉnh còn ở mức hạn chế. Do vậy
trong những năm tới, Hà Nam cần xác định phải tăng cường hoạt động xuất khẩu lao động, coi đây là
một giải pháp thiết thực nhằm tạo việc làm cho người lao động nói chung trong đó có lao động nữ. Bên
cạnh đó cần có các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích nghi với
công việc của nguồn lao động xuất khẩu. Để làm được điều này cần có sự tập trung chỉ đạo thực hiện
của các cấp, các ngành với những giải pháp cụ thể như đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn lao động cho xuất khẩu; sắp xếp, cải tổ lại doanh nghiệp làm công tác xuât khẩu lao động và làm
tốt công tác tuyển chọn; cải tiến công tác tài chính và thông tin về xuất khẩu lao động
3.2.2.4. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động nữ
Ở Hà Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế
biến, trong các làng nghề truyền thống, trong lĩnh vực chế biến nông sản, trong tiểu thủ công nghiệp.
Hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp phải một số khó khăn nhất định về vốn và cơ sở hạ
tầng, năng lực cạnh tranh trên thị trường kém do sản phẩm làm ra còn đơn điệu, chất lượng sản phẩm
không đảm bảo. Mặt khác, nguồn lao động bị khủng hoảng do các lao động chuyển sang các doanh

lao động nữ làm việc trong môi trường độc hại.
Cần phải thành lập và tăng cường hoạt động của tổ chức Công đoàn trong các doanh nghiệp để đại diện
cho người lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của lao động nữ, giúp họ nâng cao trình độ hiểu
biết về pháp luật để tự bảo vệ mình, góp phần ổn định và phát triển các doanh nghiệp.

KẾT LUẬN
Giải quyết việc làm, hạn chế tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp đối với lao động nói chung
và lao động nữ nói riêng là nhiệm vụ quan trọng vừa có tính cấp bách, vừa mang tầm chiến lược lâu dài
của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt đối với lao động nữ, giải quyết việc làm vừa phát huy tối đa tiềm năng
lao động, giảm sự lãng phí về nguồn nhân lực, vừa là nguồn gốc hướng tới sự bình đẳng giới. Tạo việc
làm cho lao động nữ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích xã hội, làm cho xã hội
ngày càng công bằng và văn minh hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nữ, luận văn tập trung đi sâu phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn
tỉnh Hà Nam. Trong đó đã phân tích kĩ những đặc điểm về cơ cấu và chất lượng của lực lượng lao động
nữ; tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp để chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của lao động nữ Hà
Nam. Từ đó, luận văn tập trung đánh giá kết quả của quá trình giải quyết việc làm cho lao động nữ trên
địa bàn tỉnh trong các ngành kinh tế; các thành phần kinh tế; các chương trình mục tiêu quốc gia và
thông qua xuất khẩu lao động. Có thể khẳng định, công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh đã
được quan tâm đặc biệt, nhờ đó lực lượng lao động nữ Hà Nam ngày càng tham gia đông đảo và có hiệu
quả trong các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, quá trình giải quyết việc làm cho lao động nữ của tỉnh vẫn
còn tồn tại những bất cập cần được tiếp tục khắc phục trong thời gian tới đã được luận văn chỉ ra như
cần tiếp tục tuyên truyền tăng cường nhận thức của lao động nữ về vấn đề việc làm; nâng cao trình độ
học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật; nâng cao chất lượng của các cơ sở dạy nghề; tăng cường công
tác tư vấn, dự báo về thị trường lao động; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực
hiện các quyền và lợi ích chính đáng của lao động nữ Từ những thành công và hạn chế trong quá trình
giải quyết việc làm cho lao động nữ, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ, trong đó có nhấn mạnh vào các nhóm giải
pháp mang tính tổng thể như nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý
và đề xuất các khuyến nghị đối với các cấp bộ Đảng và chính quyền; với cơ quan đại diện cho tiếng nói

Dương đến năm 2010.
16. Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006-2010 ( Ủy ban quốc gia về
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam).
17. Lịch sử các học thuyết kinh tế (1996), Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Bộ Luật Lao động.
19. Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Nam (2008), Báo cáo hoạt động xuất khẩu lao động
giai đoạn 2005-2008.
20. Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Nam (2005), Báo cáo thực hiện đề án giải quyết việc
làm giai đoạn 2005-2010.
21. Tổng cục thống kê (2010), Niên giám thống kê 2010.
22. Trường cán bộ phụ nữ Trung ương - Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2008), Báo cáo kết quả điều tra số
liệu cơ bản về lao động nữ, tháng 9/2008.
23. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương (2005), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005-2010.
24. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2005), Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005-2010.
25. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Mục tiêu kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010.
26. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2007), Quyết định số 359/QĐ-UBND ngày 30/3/2007 phê duyệt đề
án giải quyết việc làm cho người lao động giai đoạn 2006-2010.
27. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2011), Báo cáo tổng kết thực hiện đề án đào tạo nghề và đề án giải
quyết việc làm tỉnh Hà Nam giai đoạn 2006-2010 và phương hướng trong thời gian tới.
28. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển khu đô thị và dân cư nông thôn của
tỉnh Hà Nam đến năm 2020.
Website:
29.
30.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status