Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh hà nam hiện nay - Pdf 30

Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh
Hà Nam hiện nay Lâm Thị Phượng Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS. ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS. Đinh Văn Thông
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động nữ và tạo việc
làm cho lao động nữ. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết việc làm cho
lao động nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 – 2011. Đề xuất một số giải pháp: về cơ
chế, chính sách; Về tổ chức, quản lý; Khuyến nghị hỗ trợ cải thiện điều kiện làm
việc và thu nhập cho lao động nữ chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.

Keywords. Kinh tế lao động; Lao động nữ; Hà Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Lao động, việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển với
dân số đông và lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Với đặc điểm đó một mặt là thế mạnh
trong phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta, nhưng mặt khác nó lại tạo ra sức ép về việc làm
cho toàn xã hội. Do đó, giải quyết việc làm, ổn định việc làm cho người lao động nói chung

phát ra thành phố do thiếu việc làm gia tăng nhanh Điều đó chứng minh rõ nét vấn đề việc
làm của lao động nữ luôn là một vấn đề bức xúc và thiếu các yếu tố liên quan đến việc làm
bền vững.
Hà Nam là một tỉnh thuần nông, lực lượng lao động nữ chiếm hơn 51% dân số toàn
tỉnh. Trong khi quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với tốc độ công nghiệp hoá diễn
ra khá nhanh; các khu, cụm công nghiệp phát triển mạnh, xây dựng tuyến đường cao tốc, khu
đô thị và nhiều dự án khác đã làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhanh chóng; lao
động nữ của tỉnh phần lớn là lao động nông nghiệp; tỷ lệ lớn lao động chưa qua đào tạo nên
khó thích ứng và tự tìm kiếm việc làm trong các khu công nghiệp. Số lượng lao động nữ tự
tạo việc làm rất hạn chế, chủ yếu là các công việc tạm thời với thu nhập thấp và điều kiện lao
động không bảo đảm, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ còn cao và có
xu hướng gia tăng (năm 2010, toàn tỉnh có gần 7.000 lao động nữ thiếu việc làm; tỷ lệ thiếu việc
làm của lao động nữ là 3,81%; tỷ lệ thất nghiệp là 1,33%). Từ đó nhu cầu việc làm và việc
làm bền vững cho lao động nữ dôi dư ngay tại địa phương trở nên hết sức bức thiết. Do vậy,
tỉnh xác định công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ là nhiệm vụ chiến lược trong phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc của công tác giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
nữ ở Hà Nam hiện nay, đồng thời mong muốn xây dựng một số giải pháp góp phần tích cực
trong việc tạo việc làm cho lao động nữ ở Hà Nam, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “ Giải
quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm
cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng đã được công bố dưới nhiều hình thức khác
nhau (sách tham khảo, đề tài, luận văn, luận án, bài tạp chí, báo ). Trong đó có thể kể đến:
- Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của tác giả Trần Đình
Hoan và Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự Thật ,1991.
- Trần Thị Thu “Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH” - Nhà xuất
bản Lao động xã hội Hà Nội (2003).
- Trần Thị Minh Đức “Nghiên cứu một vài đặc điểm tâm lý xã hội của lao động nữ

Hà Nam dưới góc độ kinh tế chính trị.
- Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm cho lao động nữ trên
địa bàn tỉnh Hà Nam
Về thời gian: luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm cho lao động
nữ ở tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 - 2011 và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết
việc làm cho lao động nữ trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện Đại hội Đảng về công tác
giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh để
phân tích làm sáng tỏ vấn đề.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ tỉnh
Hà Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giải
quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nữ.
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam giai
đoạn 2005-2011.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao
động nữ ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.

 Giải quyết việc làm:
Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ bản của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội được toàn thế giới cam kết trong tuyên bố về chương trình
hành động toàn cầu tại thủ đô Côpenhaghen ( Đan Mạch) vào tháng 3/1995. Có thể hiểu, giải
quyết việc làm cho người lao động là tạo ra các cơ hội
Quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác giải quyết việc làm, Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định “ Giải quyết việc làm là một trong những chính sách cơ bản của quốc
gia” [13;tr.201]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định:
“ Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh
các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động” [13; tr.213].
Như vậy có thể khẳng định: giải quyết việc làm cho người lao động là tổng thể các
giải pháp, chính sách kinh tế, xã hội tác động đến người lao động nhằm tạo ra điều kiện và
môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng
việc làm và thu nhập ngày càng cao.
1.1.2. Lao động nữ, việc làm của lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ:
 Lao động nữ
Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm
một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc
không có việc làm, mong muốn có việc làm. Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động
nữ là những phụ nữ từ 18 - 55 tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất
nghiệp.
Do đó có thể thấy: lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những phụ nữ thất
nghiệp nhưng đang có nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm.
 Việc làm của lao động nữ:
Vấn đề việc làm cho lao động nữ đã được đặt ra rất sớm và có nhiều quan điểm khác
nhau:
Các Mác đã đề cập đến việc làm cho lao động nữ trong quá trình nghiên cứu nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa:“ Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên nó

mình trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, mặc dù tư tưởng “ trọng nam, khinh nữ” đã dần được xóa
bỏ nhưng quan niệm gắn phụ nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ và đảm nhận vai trò người
nội trợ trong gia đình là công việc chính vẫn còn phổ biến. Điều này đã trở thành rào cản đối
với người phụ nữ trong việc tham gia vào các công việc ngoài xã hội. Theo Lênin, vấn đề
việc làm là một trong những vấn đề cơ bản, đảm bảo cho lao động nữ có cơ hội vươn lên để
khẳng định vị trí của họ trong xã hội. Như vậy, vị thế của người phụ nữ chỉ có thể được
khẳng định khi được xã hội quan tâm giải quyết việc làm và tạo điều kiện cho họ tham gia
vào hệ thống phân công lao động xã hội để sử dụng khả năng lao động, tạo ra sự độc lập về
kinh tế và sự bình đẳng so với nam giới.
Việt Nam đang tiến hành quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động. Trong quá trình CNH, HĐH, các khu công nghiệp lớn sẽ hình thành và phát
triển, thu hút lao động có chất lượng cao. Người lao động nữ muốn có việc làm ổn định cần
phải đáp ứng đòi hỏi về mặt trình độ, nắm bắt nhanh công nghệ mới được ứng dụng trong sản
xuất. Đây vừa là thách thức, yêu cầu mới; vừa là cơ hội để lao động nữ tiếp cận với đào tạo
và phát triển nâng cao trình độ của mình.
Lao động nữ có việc làm, có thu nhập, một mặt góp phần xây dựng kinh tế gia đình,
một mặt tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Lao động nữ có việc
làm ổn định sẽ tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống của gia đình, tạo điều kiện phát huy tốt
vai trò của họ trong việc quản lý gia đình và nuôi dạy con cái, tránh được các yếu tố rủi ro
xảy ra trong quá trình tìm kiếm việc làm. Tạo việc làm cho lao động nữ sẽ giúp cho lao động
nữ được tiếp cận với cơ hội đào tạo, phát triển, nâng cao trình độ, từ đó, trang bị thêm cho lao
động nữ sự tự tin, bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, giúp cho lao động nữ hiểu rõ hơn
quyền lợi và trách nhiệm của mình trong xã hội để họ tự hoàn thiện mình.
Giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động nữ là vấn đề cấp thiết, nó tạo cho lao
động nữ cơ hội được độc lập về kinh tế và phát triển các mối quan hệ xã hội, đáp ứng được
các yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ ở nước
ta hiện nay.
1.3. Đặc điểm việc làm của lao động nữ và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao
động nữ

thuật thấp hơn hẳn so với nam giới “ Trình độ học vấn, nghề nghiệp của phụ nữ nhìn chung
còn thấp so với nam giới và so với yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH; hơn thế nữa sự chênh
lệch về trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở các bậc học ngày càng cao. Gánh nặng
công việc gia đình làm cản trở phụ nữ tiến bộ ”[6]. Tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam chưa qua
đào tạo chiếm tới hơn 80%. Năm 2010, phân bổ lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao nhất đạt được đã cho thấy trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ
còn rất thấp. Tỷ lệ lao động nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 85,7%; sơ cấp
nghề 1%; trung cấp nghề 0,8%; trung cấp chuyên nghiệp 4,1%; cao đẳng nghề 0,2%; cao
đẳng 2,3%; đại học trở lên 5,6% và không xác định 0,3% [12].
 Đặc điểm việc làm của lao động nữ:
Các đặc điểm cơ bản của lao động nữ đã tạo nên tính quy định đặc điểm việc làm của
họ.
- Việc làm của lao động nữ tập trung ở các lĩnh vực hành chính sự nghiệp, các ngành
công nghiệp nhẹ, các lĩnh vực thương mại và dịch vụ:
Nhìn chung, việc làm của lao động nữ thường là những công việc nhẹ nhàng, ít nặng
nhọc, ít độc hại và nguy hiểm. Phần lớn lao động nữ làm việc trong lĩnh vực hành chính, sự
nghiệp, lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ nhiều hơn. Nhóm các ngành nghề
như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ các lao động là nữ.
Trong nhóm các ngành công nghiệp nặng thì tỷ lệ lao động nữ có thấp hơn. Lao động nữ
thường lựa chọn những công việc đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ, khéo léo và sự linh hoạt trong lao
động.
- Việc làm của lao động nữ chủ yếu trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ thấp và tính ổn
định của thu nhập không cao:
Phụ nữ có xu hướng làm việc tập trung trong những hoạt động có năng suất lao
động thấp hơn, làm các công việc tự do và tập trung trong khu vực tiền lương không
chính thức. Qua khảo sát cho thấy, các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao thì có đến 50% số
quảng cáo yêu cầu ứng viên phải là nam giới, chỉ có 17% yêu cầu ứng viên là nữ. Lao
động nữ hiện chiếm số đông trong những ngành nghề không đòi hỏi chuyên môn, kỹ thuật
cao, có thu nhập thấp, điều kiện lao động nghèo nàn, thời gian lao động kéo dài và việc
làm bấp bênh, rủi ro cao. Theo số liệu thống kê của Tổng Liên Đoàn Lao Động VN cho


Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở TỈNH
HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2005-2011.

2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam ảnh
hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nữ
2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Hà Nam
2.2.1.Thực trạng việc làm của lao động nữ tỉnh Hà Nam
2.2.1.1. Lao động nữ ở tỉnh Hà Nam
Dân số nữ trung bình của Hà Nam năm 2005 là 405.891 người với tỷ số giới tính là
94,5nam/100nữ và cơ cấu 48,6nam/51,4nữ; năm 2010 con số này là 402.340 người với tỷ số giới
tính là 95,5nam/100nữ và cơ cấu là 48,8nam/51,2nữ. Dân số là nữ chiếm tới gần 51,2% dân số toàn
tỉnh. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 55,2%; trong đó lao động nữ chiếm 50,96%.
Bảng 2.1. Dân số trung bình phân theo giới tính

Năm

Tổng số
Phân theo giới tính
(người)

Tốc độ tăng(%)

Cơ cấu(%)
Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nữ

48,7
51,3
2009
786 168
383 918
402 250
100,1
99,7
49,0
51,0
2010
786 310
383 970
402 340
100,0
100,0
48,8
51,2
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hà Nam(2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam)

Mặc dù tỉnh luôn quan tâm đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo để nâng cao trình độ
học vấn nhưng không thể phủ nhận chất lượng nguồn nhân lực nữ còn thấp so với mặt bằng
chung của tỉnh.
Bảng 2.2.Cơ cấu lao động nữ theo trình độ học vấn giai đoạn 2005-2010
Đơn vị: %
Trình độ học vấn
Lao động
2005
2008
2010

- Tốt nghiệp tiểu học
20,3
19,3
21,2
19,4
18,7
20,1
20,2
19,2
21,1
- Tốt nghiệp trung học
cơ sở
39,5
38,7
40,2
36,6
36,2
36,9
37,6
37,3
37,9
- Tốt nghiệp trung học
phổ thông
19,8
20,5
19,1
25,0
25,3
24,6
26,0


Nữ

Tổng số

Nam

Nữ

Tổng số

Nam

Nữ
- Không có trình độ chuyên
môn kỹ thuật
77,1
74,9
79,2
73,0
70,1
75,9
69,0
66,4
71,5
- Sơ cấp, học nghề,
chuyên môn kỹ thuật
không bằng.

15,4

100
100
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hà Nam(2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam)

2.2.1.2. Cơ cấu việc làm
Cơ cấu việc làm của lao động nữ có sự chuyển dịch theo chiều hướng tiến bộ. Năm
2010, lao động nữ trong công nghiệp, xây dựng chiếm 16,7% ( tăng 2,85% so với năm 2005).
Trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, tỷ trọng việc làm của lao động nữ có chiều hướng giảm
nhẹ từ 71,8% (2005) xuống còn 56,2% (2010); trong đó lao động nữ chiếm ưu thế trong lĩnh
vực trồng trọt ( chiếm trên 70%). Trong dịch vụ, việc làm của lao động nữ có xu hướng tăng
lên, chủ yếu tập trung trong một số lĩnh vực như buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống, vui chơi giải
trí Tỷ trọng việc làm tăng từ 15,1% (2005) lên 29,2% (2010) [12].
Xét theo khía cạnh vị thế việc làm, lao động nữ tự làm và làm công ăn lương chiếm
chủ yếu. Năm 2010, lao động tự làm chiếm khoảng 42% ( trong đó thành thị là 28,1% và
nông thôn là 47,1%); lao động nữ làm công ăn lương chiếm 34,4% ( trong đó thành thị là
56,8% và nông thôn là 26,1%). Lao động gia đình cũng chiếm một bộ phận của lao động nữ,
chiếm 21,6% ( thành thị là 10,8% và nông thôn là 25,5%).
Xét theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật
chiếm tỷ trọng lớn với 80,7%; còn lại một bộ phận nhỏ có trình độ trung cấp chuyên nghiệp ( 4,9%)
và đại học trở lên (8,2%) [12].
2.2.1.3. Tình trạng thiếu việc làm
Hà Nam là tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng nên tình trạng thiếu việc làm
của lao động nói chung và lao động nữ nói riêng nằm trong tình trạng chung của vùng. Năm
2010, tỷ lệ thiếu việc làm chung của tỉnh là 3,15% ( khu vực đồng bằng sông Hồng là 3,50%)
và của lao động nữ là 3,81% ( khu vực ĐBSH là 3,61%); khu vực thành thị là 1,46% và khu
vực nông thôn là 4,06% [21]. Thực tế cho thấy lao động nữ nông thôn thiếu việc làm chiếm tỷ
lệ khá lớn trong tổng số lao động nữ thiếu việc làm của tỉnh ( khoảng 83% trong giai đoạn
2005 - 2010). Năm 2010, toàn tỉnh có gần 7.000 lao động nữ thiếu việc làm, riêng lao động
nữ nông thôn là 5.810 người.
2.2.1.4. Tình trạng thất nghiệp

lượng cuộc sống.
 Trong phát triển công nghiệp:
Hà Nam đã tập trung thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhờ đó, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh
giai đoạn 2006-2011 đã tăng bình quân 23,4%/năm. Tỉnh đã tập trung quy hoạch, đầu tư phát
triển 8 khu công nghiệp, trong đó 03 khu công nghiệp được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đã
thu hút gần 100 dự án đầu tư, có 30 dự án đầu tư nước ngoài thu hút gần 14.000 lao động,
trong đó lao động nữ chiếm 42,7%. Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2008, tổng số lao
động nữ được giải quyết việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng là 18.627 người,
chiếm 43,04% [11].
Công nghiệp chế biến đã hình thành và phát triển mạnh mẽ với đa dạng các loại hình
sản xuất, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động nữ. Tổng số lao động nữ được giải
quyết việc làm trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến có khoảng 16.704 người, chiếm
khoảng 74,2% tổng số lao động nữ trong các doanh nghiệp (2010). Trong đó lao động nữ tập
trung chủ yếu trong các ngành sản xuất trang phục với khoảng 42,8%; công nghiệp dệt
17,6%; công nghiệp sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại 10,5%; công nghiệp
sản xuất thực phẩm và đồ uống 10,3%. Các ngành này tập trung đến trên 80% là lao động nữ.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 23 doanh nghiệp may mặc đã giải quyết việc làm cho 6.444 lao
động nữ, chiếm 85,24% [12].
Đối với các làng nghề truyền thống, tỉnh đã tập trung đầu tư khôi phục và đẩy mạnh
phát triển với nhiều ngành nghề phong phú, đa dạng. Tính đến thời điểm năm 2008, toàn tỉnh
có 30 làng nghề được khôi phục, phát triển. Do tính chất việc làm của các làng nghề truyền
thống phù hợp với lao động nữ ở khu vực nông thôn nên đã giải quyết được nhiều việc làm cho
phụ nữ lúc nông nhàn. Tính bình quân hàng năm đã thu hút khoảng 3.500 lao động nữ nông thôn
tham gia làm việc trong các làng nghề với thu nhập bình quân từ 800.000 - 1.200.000 đồng [20].
 Trong phát triển dịch vụ, thương mại:
Trong phát triển dịch vụ, thương mại, những năm gần đây tỉnh đã coi trọng dịch
chuyển cơ cấu kinh tế nên hoạt động dịch vụ thương mại có sự phát triển cả về quy mô, ngành
nghề, thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Số lao động nữ làm việc trong
lĩnh vực này tăng lên hàng năm nhiều hơn so với nam giới, nhưng chủ yếu là các đơn vị ngoài

Bảng 2.4: Lao động nữ đang làm việc trong các doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp
giai đoạn 2005 - 2010
Đơn vị: người Loại
hình doanh nghiệp
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng số
9.984
13.965
17.035
18.418
22.331
22.521
Doanh nghiệp nhà nước
1.318
1.355
1.241
1.380
1.105
1.122
Đạt (%)
13,2
9,7

20,9
18,8
19,1
( Nguồn:Cục Thống kê tỉnh Hà Nam(2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam)

2.2.2.3. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua các chương trình mục tiêu Quốc
gia
 Các Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm
Tính từ năm 2005 đến nay, tỉnh đã tập trung huy động được 76.985 tỷ đồng, trong đó
nguồn vốn Trung ương giao cho tỉnh quản lý là 43.868 tỷ đồng, nguồn vốn do các Hội, đoàn
thể tỉnh quản lý là 10.666 tỷ đồng, nguồn vốn của quỹ địa phương là 22.451 tỷ đồng. Giai
đoạn 2006-2011, có khoảng 993 lượt phụ nữ được vay vốn với tổng số vốn là 18.810 triệu
đồng từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm; 29.427 lượt phụ nữ được vay vốn với tổng số vốn là
404.028 triệu đồng từ nguồn vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội; 513 lượt phụ nữ được
vay vốn với sosos tiền 2.983 triệu đống từ dự án quốc tế [2].
 Các trung tâm dạy nghề và dịch vụ giới thiệu việc làm
Phần lớn các cơ sở dạy nghề được tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang
thiết bị hiện đại, trong đó có 10 trung tâm với trên 50% học viên là lao động nữ tham gia học
nghề. Đến năm 2010, số lượng cơ sở dạy nghề của tỉnh đã tăng lên 21 cơ sở dạy nghề, trong
đó có 16 cơ sở dạy nghề của tỉnh và 5 cơ sở dạy nghề của Trung ương. Giai đoạn 2006-2011,
số lao động nữ được đào tạo nghề là 39.000 người ( riêng tại các trung tâm đào tạo nghề và
giới thiệu việc là của Hội LHPN tỉnh là 5.416 người) [2].
Công tác dạy nghề tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề của tỉnh đã tập trung đào tạo nghề
cho người lao động gắn với việc làm, tổ chức đào tạo nghề theo địa chỉ thông qua việc liên
kết với các doanh nghiệp. Trong 5 năm 2006 -2011, Hội đã tổ chức dạy nghề cho trên 5.000
lao động nữ có chứng chỉ, trong đó giới thiệu được 4.800 lượt lao động vào làm việc trong
các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Hội LHPN tỉnh còn tăng cướng hoạt động hỗ
trợ doanh nghiệp do nữ làm chủ.
2.2.2.4. Giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua xuất khẩu lao động
Năm

vừa là chiến lược lâu dài và được cụ thể hoá trong định hướng phát triển kinh tế đến năm
2020 và quy hoạch khu đô thị dân cư nông thôn với các định hướng cơ bản: Xây dựng Hà
Nam thành một địa bàn kinh tế mở. Bảo đảm hài hòa giữa phát triển nhanh, hiệu quả, bền
vững; Kết hợp tốt Công nghiệp hoá nông nghiệp - nông thôn với mở rộng và xây dựng mới
các khu đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm. Trên cơ sở những đinh hướng lớn, tỉnh đã đề ra
mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 với các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội là: Phát triển
kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả, bền vững trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ rệt mức sống của nhân dân, phấn đấu đến năm
2020 trở thành tỉnh công nghiệp, có mức GDP bình quân đầu người vượt mức trung bình
của vùng Đồng bằng Sông Hồng. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Tăng trưởng bình
quân 14,2%/năm cho giai đoạn 2011 - 2020, trong đó giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,5%,
giai đoạn 2016 - 2020 đạt 15%.
Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm tới Hà Nam cần phải tập trung
nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết việc làm cho người lao
động nói chung, lao động nữ nói riêng. Khi tăng trưởng kinh tế sẽ gia tăng cơ hội cho các
ngành sử dụng nhiều vốn do áp dụng công nghệ cao và sử dụng nhiều lao động do công nghệ
vừa phải. Tuy nhiên trong điều kiện thị trường lao động kém phát triển như ở Hà Nam nếu
không điều chỉnh linh hoạt, kinh tế phát triển nhanh dẫn đến cơ cấu ngành sản xuất thay đổi
theo hướng tăng nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng sẽ làm mất cân đối cơ cấu lao động,
tăng mức độ bất bình đẳng trong lao động, việc làm. Như vậy định hướng phát triển kinh tế
phải gắn chặt với giải quyết việc làm một cách hiệu quả, đặc biệt quan tâm đến chất lượng
nguồn nhân lực và cân đối phù hợp, đồng bộ các nguồn lực khác trực tiếp có tác động đến sự
tăng trưởng kinh tế.
3.1.2. Giải quyết việc làm cho lao động nữ gắn với công tác đào tạo nghề nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
Hà Nam là tỉnh có quy mô dân số trung bình với chất lượng nguồn nhân lực thấp,
mạng lưới các cơ sở dạy nghề còn mỏng, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2010 mới chỉ
đạt 30% nên chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp. Do đó, để
giải quyết tốt công tác tạo việc làm cho lao động nữ cần phải gắn với công tác đào tạo nghề
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

quan tâm. Lao động nữ trong các doanh nghiệp được tuyển dụng và làm việc theo hợp đồng lao
động, được đóng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội, được hưởng các chế độ đối với lao động
đặc thù Tuy nhiên, vấn đề thực thi quyền lợi của lao động nữ trong khu vực ngoài nhà nước
vẫn chưa được đảm bảo một cách đầy đủ, không ít doanh nghiệp vẫn tìm cách để ”lách” luật
nhằm thu hẹp quyền lợi chính đáng của lao động nữ. Do đó, tỉnh cần phải tiếp tục kiểm tra chặt
chẽ việc thực hiện quyền của người lao động và nghiên cứu để xây dựng các chính sách phù
hợp với tính chất đặc thù của lao động nữ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ họ tái sản xuất nâng cao
chất lượng sức lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh
Hà Nam trong thời gian tới.
3.2.1. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách
3.2.1.1. Tăng cường thực hiện các chính sách kinh tế gắn với giải quyết việc làm cho lao
động nữ
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hoá các thành
phần kinh tế là tiền đề quan trọng để giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó có lao
động nữ.
Để tiếp tục duy trì ổn định và giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sớm đạt được
mức bình quân của cả nước và Đồng bằng Sông Hồng; giai đoạn 2010 - 2015 và những năm
tiếp theo, tỉnh Hà Nam cần tập trung đẩy mạnh các giải pháp: Tiếp tục nghiên cứu các chính
sách kinh tế vĩ mô như chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách đất đai nhất là hệ
thống luật pháp kinh tế nhằm cụ thể hoá, tổ chức, triển khai, thực hiện có hiệu quả, phát triển
mạnh mẽ các thành phần kinh tế trên địa bàn.
Một trong các giải pháp hỗ trợ tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo việc làm cho
người lao động đó là các chính sách của quốc gia trong công tác giải quyết việc làm của tỉnh
cũng phải được thực hiện và khai thác một cách triệt để, hiệu quả vì thực tế hiện nay, nên
kinh tế của tỉnh Hà Nam còn nghèo, ngân sách phụ thuộc nhiều vào nguồn ngân sách trung
ương, tiềm năng về kinh tế có hạn, do vậy việc thực hiện tốt các chính sách quốc gia trong
giải quyết việc làm có vai trò hết sức quan trọng, góp phần tích cực trong công tác giải quyết
việc làm cho lao động nói chung, lao động nữ nói riêng.
3.2.1.2. Tăng cường chính sách quan tâm chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo thực hiện pháp

3.2.2.1. Mở rộng và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nữ
Mở rộng và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cần được triển khai nhằm mở
rộng quy mô và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu học nghề của
lao động nữ. Đối với các khóa học đào tạo nghề cho lao động nữ được thực hiện bằng nguồn
kinh phí từ các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện công tác đào tạo nghề gắn với giải
quyết việc làm, liên kết với cấc doanh nghiệp để đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực nữ cho
các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần bố trí nguồn kinh phí kịp thời theo chính sách ưu đãi đầu
tư của tỉnh để hỗ trợ các doanh nghiệp có thu hút nhiều lao động vào làm việc trong công tác
đào tạo nghề, tự đào tạo nghề cho lao động nữ.
3.2.2.2. Kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm
cho lao động nữ
Hoạt động của các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm đã và đang có những đóng góp
quan trọng trong việc giới thiệu việc làm cho lao động nữ. Do đó cần đẩy mạnh hoạt động của
hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, kiện toàn cơ sở vật chất và bổ sung thêm cán bộ quản
lý, theo dõi và phát huy vai trò, hiệu quả của các sàn giao dịch việc làm trung tâm và các sàn
giao dịch việc làm vệ tinh được mở tại trung tâm các huyện, định kỳ tổ chức các phiên giao
dịch việc làm. Phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để khảo sát, nắm bắt kịp thời nhu cầu
sử dụng lao động nữ của các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các trung
tâm trong lĩnh vực thông tin thị trường lao động, tư vấn pháp luật lao động và giới thiệu việc
làm.
3.2.2.3. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài
Trên cơ sở kết quả thực hiện công tác xuất khẩu lao động nói chung và lao động nữ
nói riêng giai đoạn 2005-2010, có thể khẳng định tỷ lệ lao động nữ xuất khẩu của tỉnh còn ở
mức hạn chế. Do vậy trong những năm tới, Hà Nam cần xác định phải tăng cường hoạt động
xuất khẩu lao động, coi đây là một giải pháp thiết thực nhằm tạo việc làm cho người lao động
nói chung trong đó có lao động nữ. Bên cạnh đó cần có các giải pháp cụ thể nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực và khả năng thích nghi với công việc của nguồn lao động xuất khẩu.
Để làm được điều này cần có sự tập trung chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành với những
giải pháp cụ thể như đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động cho xuất
khẩu; sắp xếp, cải tổ lại doanh nghiệp làm công tác xuât khẩu lao động và làm tốt công tác

cực tham gia hơn nữa trong các hoạt động phát triển kinh tế Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục phẩm chất đạo đức, nâng cao kiến thức và năng lực của phụ nữ; tập trung tuyên
truyền, hướng dẫn hội viên tham gia thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới của địa phương,
tham gia thực hiện thắng lơi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tăng cường hỗ trợ
phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Tăng cường phối hợp triển
khai các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của lao động nữ, nhất là đối tượng phụ nữ trong độ
tuổi sinh sản.
3.2.3.3. Đối với các cơ sở sử dụng lao động nữ
Các cơ sở trực tiếp sử dụng lao động nữ cần thực hiện nghiêm túc các chính sách đối
với lao động nữ trong Bộ Luật lao động. Trang bị đủ các dụng cụ chuyên dùng và bảo hộ lao
động đầy đủ cho lao động nữ làm việc trong môi trường độc hại.
Cần phải thành lập và tăng cường hoạt động của tổ chức Công đoàn trong các doanh nghiệp
để đại diện cho người lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của lao động nữ, giúp họ
nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật để tự bảo vệ mình, góp phần ổn định và phát triển các
doanh nghiệp. KẾT LUẬN

Giải quyết việc làm, hạn chế tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp đối với lao động
nói chung và lao động nữ nói riêng là nhiệm vụ quan trọng vừa có tính cấp bách, vừa mang
tầm chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt đối với lao động nữ, giải quyết việc
làm vừa phát huy tối đa tiềm năng lao động, giảm sự lãng phí về nguồn nhân lực, vừa là
nguồn gốc hướng tới sự bình đẳng giới. Tạo việc làm cho lao động nữ không chỉ mang lại lợi
ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích xã hội, làm cho xã hội ngày càng công bằng và văn minh
hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm
cho lao động nữ, luận văn tập trung đi sâu phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao
động nữ trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Trong đó đã phân tích kĩ những đặc điểm về cơ cấu và
chất lượng của lực lượng lao động nữ; tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp để chỉ ra những

3. Bộ Luật Lao động (1994).
4. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động
ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. C. Mác (1984), Tư bản, tập thứ nhất, Quyển I, phần 1, Nhà xuất bản Sự thất, Hà Nội.
6. C. Mác (1995), Tư bản, Quyển I, Tập I, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.
7. Chính phủ (2001), Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc
gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005.
8. Chính phủ (2007), Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc
gia về việc làm đến năm 2010.
9. Chính phủ (2010), Quyết định số 295/QĐ-TTg phê duyệt đề án Hỗ trợ phụ nữ học nghề,
tạo việc làm giai đoạn 2010-2015.
10. Công ước xúc tiến việc làm (1988).
11. Cục Thống kê tỉnh Hà Nam (2008), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam.
12. Cục Thống kê tỉnh Hà Nam (2010), Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hưng Yên và tỉnh Hải Dương (2009), Báo cáo 5 năm giải
quyết việc làm của giai đoạn 2005-2009.
15. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương, Mục tiêu kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ
nữ Hải Dương đến năm 2010.
16. Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006-2010 ( Ủy ban
quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam).
17. Lịch sử các học thuyết kinh tế (1996), Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Bộ Luật Lao động.
19. Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Nam (2008), Báo cáo hoạt động xuất khẩu
lao động giai đoạn 2005-2008.
20. Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Nam (2005), Báo cáo thực hiện đề án giải
quyết việc làm giai đoạn 2005-2010.
21. Tổng cục thống kê (2010), Niên giám thống kê 2010.
22. Trường cán bộ phụ nữ Trung ương - Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2008), Báo cáo kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status