Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho ngành
giáo dục Việt Nam giai đoạn 1993 – 2010
Nguyễn Thùy Hương
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế; Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Kim Chi
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những vấn đề lý luận về nguồn vốn
ODA đối với ngành giáo dục Việt Nam giai đoạn từ năm 1993 đến nay. Nghiên
cứu, đánh giá thực trạng nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục và đề xuất
những giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA trong ngành
giáo dục Việt Nam.
Keywords: Kinh tế quốc tế; Quan hệ kinh tế; Nguồn vốn ODA; Đầu tư; Giáo dục
Việt Nam
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo
nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại hóa". Để đạt được các mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa học công nghệ có vai
trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết. Chính vì thế, trong những năm
qua ngành giáo dục đã được ưu tiên đầu tư rất nhiều, cả bằng nguồn vốn trong nước, cũng
như nguồn vốn nước ngoài (mà đặc biệt phải kể đến là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức - ODA).
Năm 2010 là năm kết thúc thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 ,
nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục đã góp phần cải thiện môi trường giáo dục ở Việt
Nam.
Song trong bối cảnh hiện nay của thông lệ quốc tế, viện trợ được dành nhiều hơn
cho nước có thu nhập thấp, do vậy chính sách tài trợ cho Việt Nam của các đối tác phát
triển đang và sẽ thay đổi cơ cấu và các điều kiện cho vay theo hướng tổng quát là viện trợ
không hoàn lại sẽ giảm, vốn vay ODA ưu đãi cũng giảm, vốn vay kém ưu đãi sẽ tăng.
Đây là thách thức mới trong hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ.
Cộng vào đó là quá trình quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam chưa thực sự phát
huy hết tiềm lực vốn có. Nguyên nhân một mặt là do quá trình quản lý và sử dụng ODA
của Việt Nam chưa được tốt, mặt khác chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa chính phủ việt
nam và các nhà tài trợ
Do đó, việc thu hút và sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA như thế nào để cho sự phát
triển kinh tế- xã hội nói chung và phát triển ngành giáo dục nói riêng là những vấn đề
cấp thiết của đất nước, nên cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
2.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều sách báo, tham luận, đề tài nghiên cứu về nguồn vốn Hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) nói chung và cho các ngành, lĩnh vực cụ thể nói riêng. Tuy
nhiên tập trung nghiên cứu về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho ngành giáo dục
Việt Nam đến thời điểm này là chưa có.
Sau đây là một số tài liệu chính và có liên quan đến đề tài :
1, Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm
theo nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ. Quy chế bao gồm
những quy định chung; trình tự các bước từ giai đoạn vận động đến ký kết điều ước quốc
tế, theo dõi, đánh giá chương trình, dự án và quản lý nhà nước về ODA. Sau bốn lần ban
hành, Quy chế này được coi là phù hợp và dễ đưa vào ứng dụng nhất song quy chế mới
chỉ là văn bản khung hướng dẫn việc quản lý và sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển
chính thức.
2, Quản lý ODA ở một số nước trên thế giới- trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã
hội (2006) : bài báo đã chỉ ra các nguyên nhân sử dụng ODA thành công của một số nước
trên thế giới như Trung Quốc, Ba Lan và Malaysia, những kinh nghiệm này hoàn toàn có
Bà Bridget Crumpton, Phó Giám đốc thường trực, Vụ Phát triển Quốc tế (Chính
phủ Anh) đề xuất Bộ GD-ĐT cần có thêm những đánh giá thường xuyên về kết quả học
tập đầu ra của học sinh. "Quan trọng nhất học sinh học được gì từ trường chứ không đơn
giản là xây được bao nhiêu phòng học, mua được bao nhiêu cuốn sách…”
Thông qua những đánh giá và nhận xét khách quan của các nhà tài trợ sẽ giúp cho
các nhà quản lý dự án ODA trong ngành giáo dục Việt Nam có được những kinh nghiệm
quý giá trong việc quản lý có hiệu quả hơn.
Ngoài ra còn một vài luận văn nghiên cứu về nguồn vốn ODA đối với một số
ngành cụ thể như sau :
“Thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức : Trường hợp ngành
đường sắt Việt Nam ” của Bùi Thanh Hương – Đại học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà
Nội (2008), luận văn đã tổng hợp và phân tích chính sách thu hút ODA ở Việt Nam nói
chung và ngành đường sắt nói riêng, làm rõ thực trạng việc thu hút, quản lý và sử dụng
ODA trong ngành đường sắt Việt Nam trong thời gian từ năm 1995 – 2008, trên cơ sở đó
tác giả đưa ra được những giải pháp khả thi để thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa
vốn ODA trong ngành đường sắt Việt Nam trong giai đoạn sau khi Việt Nam ra nhập
WTO.
“ ODA của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong ngành Lâm Nghiệp
(nghiên cứu trường hợp 4 tỉnh Thanh Hóa, Quảng Trị, Gia Lai, Phú Yên giai đoạn
2001 -2005 ” của Nguyễn Ngọc Hải - Đại học kinh tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
(2008), luận văn đã nêu bật những thành công và hạn chế trong sử dụng ODA của ADB
tại dự án vay đầu tiên của ngành Lâm Nghiệp, trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị nhằm khắc phục các mặt hạn chế và rút kinh nghiệm cho các dự án vốn
vay ODA từ ADB trong Lâm nghiệp sau này.
Những kết quả nghiên cứu trên không chỉ có giá trị về lý luận mà còn có ý nghĩa
cả về thực tiễn, song nguồn vốn ODA vẫn luôn là vấn đề mà có nhiều khía cạnh cần được
khai thác và làm rõ.
Từ việc khái quát tình hình nghiên cứu trên, học viên cho rằng lựa chọn ODA cho
ngành giáo dục làm đối tượng nghiên cứu sẽ góp phần tiếp tục làm rõ hơn bằng chứng
thực trạng ODA nói chung và ODA đối với ngành giáo dục nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ODA và vai trò của nguồn vốn ODA đối với
ngành giáo dục ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục Việt
Nam từ năm 1993 - 2010
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA
đối với ngành giáo dục Việt Nam.
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ODA VÀ VAI TRÒ CỦA
NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận chung về nguồn vốn ODA
1.1.1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn ODA
a, Khái niệm về nguồn vốn ODA
Theo Ủy ban Viện trợ phát triển : ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên
ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay được ưu đãi, được hiểu là nguồn vốn dành
cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ
trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên
chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Theo Ngân hàng thế giới : ODA là một bộ phận của Quỹ Hộ trợ phát triển trong đó
có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phải
chiếm ít nhất 25 % trong tổng số viện trợ
Theo định nghĩa của Nhật Bản : Một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ ba yếu
tố :
- Do chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của Chính phủ cấp ;
- Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước nhận viện
trợ ;
- Tính ưu đãi phải trên 25 %.
Theo quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm
theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ thì Hỗ trợ phát triển
chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức
1.2.2. Các nguồn vốn đầu tƣ cho giáo dục Việt Nam
-Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
-Nguồn vốn đóng góp của các doanh nghiệp
-Nguồn vốn đóng góp của nhân dân
-Nguồn vốn đóng góp của tổ chức xã hội
-Nguồn vốn ODA
-Nguồn vốn FDI
-Nguồn vốn huy động từ các DN có vốn đầu tư nước ngoài
-Đóng góp của những người Việt Nam ở nước ngoài
1.3. Kinh nghiệm thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong ngành giáo dục ở một
số nƣớc và bài học đối với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về thu hút nguồn vốn ODA
a, Trung Quốc
Nguyên nhân đã giúp Trung Quốc biết khai thác ODA một cách hiệu quả :
Một là, cán bộ quản lý và điều hành dự án đều được bồi dưỡng đào tạo trước khi được
phân tham gia các gia án.
Hai là, sau khi thực hiện quá trình lựa chọn và phê duyện các dự án theo một trật tự
thống nhất và hiệu quả ngay từ khâu xác định, chuẩn bị dự án, đánh giá dự án.
Ba là, Việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”.
Bốn là, Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát. Hai cơ quan
Trung ương quản lý ODA là Bộ tài chính và Ủy ban cải cách & phát triển quốc gia .
b, Malaysia
Ở Malaysia ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là vụ Kinh tế kế hoạch.
Vụ Kinh tế kế hoạch là cơ quan lập kế hoạch ở cấp trung ương, chịu trách nhiệm phê
duyệt chương trình, dự án và quyết định phân bổ ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển
quốc gia.
Cơ quan bộ giáo dục có bộ phận trực thuộc vụ Kinh tế kế hoạch, chịu trách nhiệm
kêu gọi tài trợ, định hướng đầu tư, thẩm tra phê duyệt dự án, ban hành các văn bản hướng
dẫn thực hiện, điều hành, quản lý, kiểm tra thực hiện dự án.
Trong Bộ giáo dục lại phân ra Các Ban Quản lý dự án, Ban điều hành dự án và Ban
Thứ năm, chú trọng thúc đẩy mối quan hệ hợp tác với các nhà tài trợ. Tổ chức hội
nghị, hội thảo để giới thiệu nhu cầu sử dụng nguồn vốn ODA.
2.2. Phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong các dự án giáo dục ở Việt
Nam
2.2.1. Các nguồn cung cấp ODA cho giáo dục Việt Nam
2.2.1.1.Các nhà tài trợ song phương
2.2.1.2. Các nhà tài trợ đa phương
2.2.2. Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho giáo dục từ năm 1993 đến
nay theo cấp học và loại hình đào tạo
2.2.2.1 Tiểu học
Có thể nói TH là lĩnh vực được ưu tiên nhiều nhất với lượng vốn ODA đầu tư lớn
nhất (591,42 triệu USD chiếm 34,65%), được rất nhiều nhà tài trợ chú ý đầu tư (WB,
Australia, Canada ). Điều này đã phản ánh nhận thức của các nhà tài trợ về ưu tiên cho
giáo dục cơ bản là động lực phát triển kinh tế và giảm nghèo
2.2.2.2 Trung học cơ sở
Các dự án đầu tư vào THCS còn ít, chỉ có 7 dự án, chiếm 10,96% tổng nguồn vốn
ODA sử dụng trong ngành giáo dục. Khác với các cấp học khác thường có số vốn viện
trợ nhiều hơn vốn vay thì số vốn viện trợ dành cho cấp THCS chỉ có 6,67 triệu USD trên
tổng số 180,04 triệu USD nguồn vốn ODA đầu tư cho THCS. Vì vậy, lượng vốn đối ứng
dành cho của cấp THCS chiếm 29,4% trong tổng vốn ODA, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ
vốn đối ứng chung của ngành là 10,37%. Các dự án chủ yếu là vay vốn của ADB
2.2.2.3 Trung học phổ thông
THPT cũng là cấp học ít được đầu tư nhất do xu hướng tập trung vào giáo dục cơ bản.
Từ năm 1993 đến nay đã có 8 dự án đều do ADB viện trợ và hỗ trợ vay vốn
2.2.2.4 Đại học và sau đại học
Xu hướng sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư cho giáo dục ĐH & SĐH ngày càng giảm
do sự tập trung đầu tư vào giáo dục cơ bản. Tuy nhiên các dự án đầu tư cho giáo dục ĐH
& SĐH vẫn chiếm số lượng lớn nhất (49 dự án) và đầu tư vào hầu hết các trường ĐH trên
toàn quốc
2.2.2.5 Trung học dạy nghề
Xây dựng thêm các trường tiểu học, các trường dân tộc nội trú để phấn đấu phổ cấp
giáo dục tiểu học trước năm 2015
2.2.3.5.Vùng Đông Nam Bộ, bao gồm cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Xây dựng các trường đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật ở thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh trong vùng để cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp và góp
phần giải quyết các vấn đề xã hội do đất canh tác nông nghiệp bị thu hẹp trong quá trình
đô thị hoá và công nghiệp hoá
2.2.3.6.Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Xây dựng trường đại học Cần Thơ thành trường trọng điểm quốc gia, xây dựng
thêm một số trường đại học và cao đẳng trong vùng.
Tăng cường năng lực cho cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã trong các lĩnh vực quản lý kinh
tế, cải cách hành chính, quản lý đô thị, quản lý môi trường và giảm nhẹ thiên tai
2.3. Đánh giá chung về thu hút và sử dụng ODA trong ngành giáo dục
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc
2.3.1.1. Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục không ngừng tăng
2.3.1.2. Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến tích cực
2.3.1.3. Mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức, các khu vực được tăng cường
2.3.1.4. Vị thế ngành giáo dục đào tạo Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế.
2.3.2. Những tồn tại cần khắc phục
2.3.2.1. Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước
2.3.2.2. Tỷ lệ giải ngân chưa cao
2.3.2.3. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA chưa cao
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG THU HÚT VÀ SỬ
DỤNG HỢP LÝ NGUỒN VỐN ODA CHO NGÀNH GIÁO DỤC VIỆT NAM.
3.1. Định hƣớng thu hút và sử dụng hợp lý nguồn vốn ODA cho ngành giáo dục Việt
Nam
3.1.1. Thuận lợi và khó khăn của ODA trong các dự án giáo dục
Thuận lợi: Những dự án ODA đã giúp ngành giải quyết những vấn đề cấp thiết nhất là
nâng cao chất lượng giáo dục Đại Học, năng lực làm kế hoạch cho cán bộ quản lý, chất
lượng và công bằng giáo dục
Các bộ, các ngành có liên quan như BKH & ĐT, BGD & ĐT và Bộ Tài chính phải
cùng phối hợp để lựa chọn ra những mục tiêu đáng ưu tiên được đầu tư nhất. Danh sách
các dự án này phải được sự nhất trí cao của các cơ quan chính phủ trung ương cũng như
các địa phương và đồng thời phải được đưa ra công khai trong các văn bản để thông báo
cho mọi người biết.
3.2.1.4. Cải thiện chất lượng dự án ODA
Qua thực tế lập các dự án đầu tư cho ngành giáo dục trong thời gian qua, để nâng
cao chất lượng dự án thì Chính phủ cũng như BKH&ĐT, BGD&ĐT cần phải chú ý một
số vấn đề sau:
-Mục tiêu đầu tư của các dự án giáo dục phải rõ ràng
-Đảm bảo tính khoa học của dự án
-Đảm bảo tính hệ thống của dự án
-Đảm bảo tính cụ thể của dự án
-Đảm bảo tính chuẩn mực của dự án
Đối với những dự án mà phía Việt Nam cùng chuẩn bị với phía tư vấn nước ngoài, thì
ngay từ khâu lập dự án cần xác định rõ các quy trình, quy phạm kỹ thuật được áp dụng,
tránh tình trạng áp dụng quy trình nước ngoài nhưng lại không phù hợp với hoàn cảnh,
điều kiện cụ thể của khu vực được đầu tư, ảnh hưởng đến công tác trình, duyệt dự án sau
này.
3.3.2.Nhóm giải pháp nhằm tăng tốc độ giải ngân cho ngành giáo dục ở Việt Nam
trong thời gian tới
3.3.2.1. Hài hoà thủ tục giữa phía Việt Nam và các nhà tài trợ
Hài hoà thủ tục trong quá trình thẩm định, phê duyệt dự án cũng như hài hoà trong
quy chế đấu thầu dự án từ cả hai phía Chính phủ và nhà tài trợ là biện pháp quan trọng
nhất để nâng cao tốc độ giải ngân cho các dự án
3.3.2.2. Tăng cường hiệu quả công tác xây dựng kế hoạch giải ngân
Đây là một khâu rất quan trọng trong tiến trình thực hiện các dự án ODA vì nó
quyết định đến hiệu quả của việc thực hiện dự án đầu tư. Vì vậy, khi lập kế hoạch cho dự
án, Chính phủ và BKH&ĐT, BGD&ĐT phải xác định rõ mức vốn đối ứng, hình thức
đóng góp và nguồn đóng góp (từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương hay ngân
Trong thời gian tới, Chính phủ cũng như các bộ ngành cần tập trung nâng cao năng lực
đội ngũ cán bộ bằng các biện pháp sau:
- Xây dựng chiến lược cán bộ chuyên trách quản lý, kết hợp đào tạo tại chỗ cán bộ
hiện có với đào tạo lâu dài đội ngũ cán bộ kế cận.
- Khuyến khích các cán bộ quản lý tự nghiên cứu nâng cao năng lực về chuyên môn
và ngoại ngữ trong việc mình phụ trách.
- Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý dự án ODA, các chương trình đào tạo cần
được thiết kế cho từng chức danh khác nhau của ban quản lý dự án, và cần có đánh giá
sau đào tạo và cấp chứng chỉ.
- áp dụng những biện pháp nhằm thu hút các cán bộ có năng lực và trình độ từ các
nơi khác tham gia vào việc thực hiện các dự án vay vốn và tài trợ.
- Tổ chức các khoá đào tạo mời các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, kể cả chuyên
gia nước ngoài đến giảng dạy; cử cán bộ tham gia các khoá đào tạo do các cơ quan trung
ương, viện nghiên cứu trường đại học tổ chức và các khoá đào tạo về quản lý ở nước
ngoài.
- Vận động các nhà tài trợ nước ngoài tài trợ cho các khoá học nâng cao năng lực
cho cán bộ quản lý.
3.3.3.5. Đẩy mạnh công tác theo dõi và đánh giá dự án
Có thể áp dụng các biện pháp sau để đẩy mạnh công tác theo dõi và đánh giá dự án
ODA trong ngành giáo dục :
- Thiết lập một bộ phận chuyên trách theo dõi và quản lý các dự án ODA với nhiệm vụ
chính :
+ Xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án ODA
+ Cung cấp các thông tin liên quan cho các bên liên quan để kịp thời bố trí vốn đối
ứng.
+ Thu thập các báo cáo theo dõi định kỳ từ các cơ quan thực hiện, phân tích tìm ra
những vướng mắc để thành phố và cấp cao hơn giải quyết.
- Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu thống kê đánh giá tình hình thực hiện dự án ODA.
Các ban quản lý dự án cần coi trọng trong công tác báo cáo tình hình thực hiện dự án,
tránh tình trạng sơ sài, nặng về số liệu, ít phần kiến nghị và giải pháp. Các ban quản lý cũng
Nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá về thu hút và sử dụng ODA phần nào
thấy được hiệu quả do ODA đem lại cũng như tồn tại để từ đó thấy được những vấn đề
đặt ra đối với ngành giáo dục Việt Nam. Để tăng cường hiệu quả thu hút và sử dụng
nguồn vốn ODA trong thời gian tới cần chú trọng các giải pháp hài hòa thủ tục giữa nhà
tài trợ và bên nhận viện trợ, nâng cao năng lực quản lý ODA, xây dựng chiến lược dài
hạn thu hút ODA đồng thời không thể thiếu đó là công tác quy hoạch cán bộ.
Với thời gian 17 năm tiếp nhận lại nguồn vốn ODA là một chặng đường chưa thực
sự dài nhưng cũng đã đủ để học hỏi và rút ra được phần nào bài học kinh nghiệm cho
công tác thu hút và sử dụng đối với chính phủ và các đơn vị được hưởng lợi nguồn vốn
này. Bài luận văn đã đưa ra một bức tranh khá khái quát về tình hình thu hút và sử dụng
nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục, hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé đối với ngành
giáo dục.
References
Tài liệu tiếng Việt:
1. Bộ Kế hoạch và đầu tư (6/2006) “Định hướng thu hút và sử dụng nguồn ODA trong
thời kỳ 2006 – 2010”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (6), tr 7.
2. Bùi Thanh Hương (2008), Thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức :
Trường hợp ngành đường sắt Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh Tế - Đại Học
Quốc Gia Hà Nội
3. Ngân hàng Thế giới (1999), Đánh giá viện trợ: Khi nào có tác dụng, khi nào không và
tại sao?, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Hà Thị Ngọc Oanh (2004), Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - những kiến thức căn
bản và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Thủ tướng chính phủ (2006), Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 ban hành
Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức.
6. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (2008), Quản lý ODA ở một số nước trên thế giới,
Tạp chí Kinh tế và dự báo (106), tr 7.
7. Nxb Chính trị Quốc gia (2006),“ Nghị quyết Trung ương Đảng khóa X”.
8. Hoàng Phước Hiệp (2006), Khuôn khổ pháp lý để tăng cường giám sát và quản lý