Đề tài
CÁC LOẠI HÌNH NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế sôi động hiện nay, các ngành kinh tế ngày càng phát
triển thì hoạt động kinh tế không chỉ bao gồm mối quan hệ cung cầu về hàng
hoá, mà còn có mối quan hệ cung cầu về tiền tệ. Quan hệ này xuất hiện dẫn
đến tất yếu sự luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ
các chủ thể thừa vốn đến các chủ thể thiếu vốn. Hoạt động này diễn ra trên
thị trường tài chính, mà chủ thể chính là các trung gian tài chính. Nhờ có sự
hoạt động tích cực của các trung gian tài chính, nhu cầu vay vốn của các
khách hàng đã được đáp ứng kịp thời về cả số lượng cũng như thời gian sử
dụng; đồng thời cũng giúp giảm bớt rủi ro trong quá trình chuyển giao vốn.
Điều này có được đó là nhờ vào khả năng thu thập và xử lý thông tin một
cách chính xác, cách quản lý và kiểm soát các nguồn vốn một cách chuyên
nghiệp. Ngoài ra các trung gian tài chính còn tiết kiệm được chi phí chuyển
giao vốn bằng cách giúp các chủ thể giảm bớt được chi phí tìm kiếm đối tác,
tìm kiếm các thông tin. Chính những vai trò quan trọng đó của các trung
gian tài chính ( điển hình là ngân hàng thương mại), đã góp phần thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế. Vì lý do đó, nhóm chúng em xin đưa ra đề tài
“Các loại hình Ngân hàng thương mại ở Việt Nam”. Do sự hiểu biết còn
hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ suy nghĩ của mình.
Bài viết còn rất nhiều sai sót, chúng em kính mong cô giúp đỡ để chúng em
hoàn thành bài viết tốt hơn.
I. BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA NHTM:
1. Khái niệm:
Các quan điểm khác nhau về NHTM:
1 Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại.
2 Quan điểm của các nhà kinh tế Hoa Kỳ
3 Quan điểm của các nhà kinh tế Pháp.
4 Quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam
NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong xã hội từ các
doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân cơ quan nhà nước. Mặt khác, các
NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay lại đối với những chủ
thể có nhu cầu bổ sung vốn. Theo những cách thức đó NHTM là một trung
gian về tín dụng giữa những chủ thể dư thừa về vốn và những chủ thể có nhu
cầu về sử dụng vốn. Ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích công
bằng cho cả ba bên trong quan hệ: người gửi tiền, ngân hàng và người vay.
+ Đối với người gửi tiền: Họ sinh lời được vốn tạm thời nhàn rỗi của
mình bởi lãi suất tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ hoặc họ được ngân hàng
tạo ra cho họ các tiện ích như sự an toàn hoặc cung cấp cho họ các phương
tiện thanh toán.
+ Đối với người vay: Sẽ thỏa mãn được nhu cầu kinh doanh hoặc chi
tiêu, thanh toán mà khỏi tốn nhiều công sức, thời gian cho việc tìm kiếm nơi
vay tiền tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
+ Đối với ngân hàng thương mại: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho
bản thân mình từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa
hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở tồn tại và phát triển của ngân
hàng thương mại. Ngày nay, có thể nói mọi quan hệ kinh tế xã hội của loài
người đều thông qua quan hệ tiền tệ và chủ yếu thông qua hoạt động của
ngân hàng bên cạnh hoạt động của tổ chức phi ngân hàng.
Những hoạt động trên của NHTM mang tính chất kinh doanh, bởi vì
khi cho vay, NHTM đặt ra một mức lãi suất cao hơn so với khi huy động
vốn. Những hoạt động đó ngày càng được mở rộng nhiều, nó tiết kiệm được
các chi phí về thôngtin và giao dịch cho nền kinh tế.
Như vậy, với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã hỗ trợ, khắc
phục những hạn chế của cơ chế phân phối vốn trực tiếp, tạo ra một kênh điều
chuyển vốn quan trọng. Kết quả của những hoạt động đó góp phần nâng cao
hiệu quả trong việc điều chuyển vốn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm cho người lao động.
3.2. Chức năng trung gian thanh toán:
tiền cung ứng.
Những hoạt động mà NHTM thực hiện làm hình thành nên một cơ chế
tạo tiền trong toàn hệ thống ngân hàng. Ban đầu, với những khoản tiền dự
trữ nhận được từ NHTW, NHTM sử dụng để cho vay, sau đó những khoản
tiền này sẽ được quay lại NHTM một phần khi những người sử dụng tiền gửi
vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình huy động tiền gửi và cho
vay của NHTM trên cơ sở lượng tiền do NHTW cung ứng sẽ được kéo dài
và chỉ dừng lại khi nào toàn bộ lượng tiền do NHTW cung ứng ban đầu đã
quay trở về hết NHTWdưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc. Khi đó, các
NHTM đã có một số dư rất lớn trên các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn.
Đây chính là số tiền do các NHTM tạo ra, bởi vì những khách hàng gửi tiền
có thể sử dụng nó để thanh toán, chi trả dưới hình thức thanh toán qua ngân
hàng, mà không cần sử dụng tới tiền mặt do NHTW phát hành.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Khi ngân hàng thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà chưa cho vay, ngân
hàng chưa hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới
bắt đầu tạo tiền.
Khối lượng tiền do các NHTM tạo ra có ý nghĩa kinh tế to lớn, nó mở
ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất, đáp
ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội bên cạnh lượng tiền do NHTW phát
hành.
Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã cung cấp thêm một lượng
vốn khá lớn cho nền kinh tế, chiếm khoảng 16-18% GDP hàng năm và gần
bằng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Điều này chứng tỏ hệ thống ngân
hàng đã có một sự phát triển vượt bậc, phát huy hiệu quả vai trò huyết mạch
trong việc làm cầu nối giữa sản xuất, tiêu dùng và tiết kiệm.
II. THỰC TRẠNG:
1. Thực trạng phát triển của NHTM ở Việt Nam:
Thập kỷ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân
1. Vài nét về hệ thống NHTM trong quá trình hội nhập:
Trong vài năm qua, những đóng góp của hệ thống NHTM VN vào quá
trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất lớn. Các NHTM không chỉ tiếp tục khẳng
định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn
định sức mua đồng tiền . Đến nay, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn
do các NHTM đáp ứng, với tổng tài sản của hệ thống lên tới khoảng 140%
GDP.
Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lượng các NHTM VN đã
tăng nhanh, đã và đang từng bước chuyển dần hướng tới một hệ thống tương
thích của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển.
Sự lớn mạnh của hệ thống NHTM VN thể hiện ở sự tăng lên của vốn
chủ sở hữu, tổng tài sản, mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự
đóng góp của ngành vào GDP hàng năm: về tổng vốn đăng ký đã tăng gấp
12 lần, tổng tài sản và tiền gửi tăng hơn 16 lần và các khoản vay tăng
khoảng 14 lần.
2. Các loại hình NHTM ở Việt Nam:
2.1. Dựa vào hình thức sở hữu hệ thống NHTM Việt Nam được chia làm
4 loại:
10 NHTM Nhà nước:
Là ngân hàng thương mại do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà
nước. Quản trị ngân hàng thương mại Nhà nước là Hội đồng quản trị do
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thỏa
thuận với Ban Tổ chức – Cán bộ của Chính Phủ. Điều hành hoạt động của
ngân hàng thương mại là Tổng giám đốc. Giúp việc cho Tổng giám đốc có
các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.
Các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện nay gồm:
STT Tên ngân hàng Vốn điều lệ (tỷ đồng) Tên viết tắt
1
dụng, tổ chức khác, và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước. Loại hình ngân hàng này hiện tại nhỏ hơn ngân hàng thương mại
Nhà nước về qui mô nhưng về số lượng thì nhiều hơn và ngày càng tỏ ra
năng động và nhanh chóng đổi mới công nghệ nhằm mục tiêu hội nhập.
Các ngân hàng thương mại Cổ phần hiện nay gồm:
STT Tên ngân hàng
Vốn điều lệ
(tỷ đồng)
Tên viết tắt
1 Ngân hàng Phương Đông 3140 OCB
2 Ngân hàng Á Châu 11252 ACB
3 Ngân hàng Đại Á 3100 DaiA Bank
4 Ngân hàng Đông Á 4500 DongA Bank, DAB
5 Ngân hàng Đông Nam Á 5335 SeABank
Ưu điểm
24 Nếu mặt bằng lãi suất không chênh lệch,thì NHTM cổ phần thường
thu hút khách hàng hơn do giấy tờ thủ tục đơn giản và dịch vụ chăm
sóc khách hàng tốt.
25 Có mạng lưới chi nhánh phân bố rộng hơn so với NHTM nhà nước.
26 Nếu NHTM nhà nước thu hút khách hàng là các doanh nghiệp thì
NHTM cổ phần thu hút khách hàng là các cá nhân.
Nhược điểm
27 Khó đủ độ tín nhiệm để huy động vốn từ nước ngoài.
28 Tuy có nhiều chi nhánh nhưng quy mô không lớn.
29 Nguồn nhân lực chưa đạt được trình độ cao.
30 Trong thời gian vừa qua, ở Việt Nam có nhiều NHTM cổ phần được
thành lập nhưng sau một thời gian lại giải thể do không có đủ vốn và
trong quá trinh hoạt động không đem lại lợi nhuận.
31 Chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân
hàng truyền thống.
ứng yêu cầu về chuyên môn.Giúp tăng cường hợp tác kinh tế đối
ngoại.
38 NHTM liên doanh đáp ứng nhu cầu về vốn, khoa học công nghệ hiện
đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến mà một nước cần để phát triển kinh
tế.
39 à Sự ra đời của NHTM liên doanh mang tính tất yếu khách quan, phù
hợp với tình hình lịch sử và điều kiện kinh tế của một nước đang phát
triển.
40 NHTM 100% vốn nước ngoài:
Là ngân hàng được lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi
nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Loại hình này xuất
hiện ngày càng nhiều kể từ khi Việt Nam đổi mới và hội nhập kinh tế.
Các NHTM nước ngoài đang hoạt động ở nước ta hiện nay gồm:
STT Tên ngân hàng
Vốn điều lệ
(tỷ đồng)
Tên viết tắt
1 ANZ Việt Nam 2500 ANZ
2 HSBC 3000 HSBC
3 Shinhan Việt Nam 3000
Shinhan Vietnam Bank
Limited - SHBVN
Nguồn: www.sbv.gov.vn
Ưu điểm
41 Có thế mạnh về nguồn vốn.
42 Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp.
43 Gây được sự chú ý đối với khách hàng về thương hiệu.
44 Tài trợ xuất khẩu, cho vay dự án với lãi suất ưu đãi.
45 Có ưu thế hơn so với các NHTM trong nước nhờ có các sản phẩm
dịch vụ cá nhân đa dạng, là sự lựa chọn hàng đầu của các doanh
cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường độ tin cậy đối với khách
hàng.
54 Hội nhập quốc tế sẽ tạo động lực thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng
VN, thị trường tài chính sẽ phát triển nhanh hơn tạo điều kiện cho các
ngân hàng phát triển các loại hình dịch vụ mới…
55 Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng VN từng bước
mở rộng hoạt động quốc tế, nâng cao vị thế của các NHTM VN trong
các giao dịch tài chính quốc tế.
56 Mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt
động kinh doanh tiền tệ, đề ra giải pháp tăng cường giám sát và phòng
ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống NHTM VN
trong các giao dịch quốc tế. Từ đó, có điều kiện tiếp cận với các nhà
đầu tư nước ngoài để hợp tác kinh doanh, tăng nguồn vốn cũng như
doanh thu hoạt động.
57 Chính hội nhập quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia
tất cả các dịch vụ ngân hàng tại VN buộc các NHTM VN phải chuyên
môn hoá sâu hơn về nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản trị
tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín
dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và
phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước ngoài
dự kiến sẽ áp dụng ở VN.
58 Thách thức:
59 Do khả năng cạnh tranh thấp, việc mở cửa thị trường tài chính sẽ làm
tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công
nghệ, trình độ quản lý làm cho áp lực cạnh tranh tăng dần.
60 Áp lực cải tiến công nghệ và kỹ thuật cho phù hợp để có thể cạnh
tranh với các ngân hàng nước ngoài.
61 Hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường chưa đầy đủ, chưa
đồng bộ và nhất quán, còn nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc
tế về ngân hàng.
chính những nhân tố bên trong của hệ thống ngân hàng VN. Vấn đề
cần quan tâm hàng đầu là nguồn nhân lực và các cơ chế khuyến khích
làm việc tại ngân hàng hiện nay. Chảy máu chất xám là vấn đề khó
tránh khỏi khi mở cửa hội nhập. Các NHTM VN cần có các chính
sách tiền lương và chế độ đãi ngộ hợp lý để lôi kéo và giữ chân các
nhân viên giỏi.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP:
Để tăng cường hơn nữa tác động hoạt động của hệ thống NHTM đến
quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau
đây:
1. Phát huy vai trò chủ lực của NHTM Nhà nước:
Ở Việt Nam, hiện các NHTM Nhà nước đang trong quá trình cổ phần
hóa, song vai trò chủ lực vẫn luôn được khẳng định. Nhiệm vụ đặt ra cho
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, nhất là những NHTM Nhà nước
đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế nhiều thách thức to lớn, đó là vừa phải
duy trì tăng trưởng tín dụng và đầu tư nhưng vẫn phải bảo đảm duy trì và
nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa rủi ro trước các biến động liên
tục của thị trường hàng hóa, lãi suất, tỷ giá…Để phát huy được vai trò chủ
đạo trong hoạt động của hệ thống NHTM, các NHTM Nhà nước cần hoạt
động kinh doanh đa năng với chất lượng dịch vụ cao; năng lực tài chính lành
mạnh; trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và quản trị ngân hàng đạt mức
tiên tiến theo các thông lệ chuẩn mực quốc tế.
2. Tăng cường hoạt động quản trị nội bộ của các ngân hàng:
Để tăng cường vai trò của các NHTM trong công cuộc phát triển kinh
tế đất nước. Trước hết, bản thân các ngân hàng cần lành mạnh hoá hoạt động
của chính bản thân mình.Trong đó, quan trọng nhất là kiểm toán nội bộ ngân
hàng.Yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường
chứng khoán cũng như các vấn đề trong quản trị cho thấy sự cần thiết của
kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.
Trước những yêu cầu cấp bách, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban
đào tạo lại nguồn nhân lực, có chính sách khen thưởng/kỷ luật hợp lý…
5. Hoàn thiện hành lang pháp lý cho sự phát triển ngành Ngân hàng:
Sau một thời gian gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có
bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tạo ra một thị trường mở cửa và có tính
cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực dịch vụ ngân hàng tăng trưởng cả về
quy mô và loại hình hoạt động, thích ứng nhanh hơn với những tác động từ
bên ngoài. Từ đó có khả năng đóng góp nhiều hơn và chủ động hơn vào sự
phát triển chung của nền kinh tế. Tất nhiên, bên cạnh những tác động tích
cực, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra khá nhiều thách thức cho
hệ thống ngân hàng, cần phải được nhận diện đầy đủ và có những giải pháp
phù hợp. Việc tạo hành lang pháp lý thuận lợi là yêu cầu cần thiết để phát
triển ngành Ngân hàng. Để làm được điều đó, cần hoàn thiện các quy định
có liên quan của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, tiếp tục đổi
mới và hoàn thiện các vấn đề liên quan đến điều hành chính sách tiền tệ (chú
trọng lãi suất, tỉ giá, thị trường mở…), hoạt động thanh tra giám sát (chuyển
từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro theo các quy định của
Basel), quản lý rủi ro của NHTM, việc quản lý và cấp phép thành lập ngân
hàng mới…
6. Nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại:
Nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại bằng việc
đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, điều chỉnh lãi suất tiền gửi trung
và dài hạn hợp lý. Để nâng cao năng lực tài chính cần có các giải pháp
chính, đó là:
70 Xử lý dứt điểm nợ tồn đọng
71 Tăng vốn chủ sở hữu của các NHTMNN
72 Nâng cáo năng lực quản trị của các NHTMNN
7. Tăng cường hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh
toán.