Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
LỜI MỞ ĐẦU
Nợ công đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nhưng sẽ trở thành
quốc nạn khi bắt đầu gây tổn hại đến nền kinh tế. Nó có thể dẫn đến lạm phát, làm
cho quốc gia mất khả năng thanh toán và các nhà đầu tư mất niềm tin…Hơn bao
giờ hết, trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2007 – 2008, nợ công đang là
vấn đề nóng bỏng của nhiều nước. Không chỉ các nước nghèo, đang phát triển mà
ngay cả Mỹ và một số nước đã phát triển trong Cộng đồng chung châu Âu cũng
gặp phải vấn đề này.
Học viên: Nhóm 4 - 1 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
1. DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ CHÂU ÂU (Từ 5/11/2009 đến nay)
1.1. Khái niệm nợ công và bản chất nợ công
Nợ công là hậu quả của vấn đề chi tiêu công bất hợp lý. Chi tiêu công chính
là các khoản chi của nhà nước (trung ương và chính quyền địa phương) thực hiện
thông qua ngân sách Nhà nước. Chi tiêu công bao gồm các khoản chi để duy trì bộ
máy nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi các mục tiêu văn hóa-xã hội, chi quốc
phòng, chi trả nợ nước ngoài và dự phòng. Mỗi quốc gia đều phải cân đối mức thu
chi. Khi thu không đủ chi, nhà nước phải đi vay dẫn đến hình thành nợ công.
Nợ công (nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà
chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho
các khoản thâm hụt ngân sách.
Cho đến nay có nhiều cách phân loại nợ công khác nhau:
+) Phân theo chủ nợ:
- Nợ trong nước
- Nợ nước ngoài
+) Thời hạn:
- Nợ ngắn hạn (dưới 1 năm)
- Nợ trung hạn (từ 1 năm đến dưới 10 năm)
- Nợ dài hạn (trên 10 năm)
+) Tính chất/ hình thức vay:
GDP. Lương lao động trong lĩnh vực công giảm 4%.
- 11/4/2010, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu
chấp thuận kế hoạch 30 tỷ euro dành cho Hy lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố
không cần.
- 23/4/2010, Hy Lạp cầu cứu EU và IMF.
Học viên: Nhóm 4 - 3 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
- 02/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp cho biết, chính phủ nước này đã đạt được thỏa
thuận với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi
tiêu 30 tỷ euro trong 3 năm tới.
- 9/5/2010, IMF đơn phương chấp thuận trước một phần kế hoạch giải cứu, cung
cấp lập tức 5,5 tỷ Euro.
- 18/5/2010, Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được
coi như nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ, công bố cấm bản khống vô căn cứ
cổ phiếu của 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ và hợp
đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS),
- 25/5/2010, Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết
kiệm 24 tỷ euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách GDP từ mức
5,3% của năm 2009 về mức 2,7% GDP.
- 27/5/2010, Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách
nhằm tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD.
- 28/5/2010, Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi
nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể
đến nợ công đang ở mức đáng báo động.
- 29/5/2010, hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon- Bồ Đào Nha để phản đối kế
hoạch thắt chặt ngân sách của Chính phủ.
- 7/6/2010, Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngạn sách và
thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sa1hc của Đức về mức qui định
của liên minh Châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013.
- 8/6/2010, Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực
Pacific Index đã mất 16% trong quý trước, mức sụt giảm mạnh nhất kể từ năm
2008 và nguy cơ bán tháo hoảng loạng tại khu vực cho thấy không còn nơi nào để
ẩn nấp khi các nền kinh tế lớn rơi vào khó khăn. Theo IMF, các ngân hàng nước
ngoài có thể sẽ bán tài sản ở Châu Á, cắt giảm hạn mức tín dụng đối với khu vực
Học viên: Nhóm 4 - 5 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
và tránh kéo dài thời hạn thanh toán đối với các khoản vay tới hạn nếu họ đối mặt
với việc thua lỗ lớn tại quê nhà. “Việc cắt giảm đó có thể dẫn tới những tác động
to lớn đối với các nền kinh tế. Châu Á vốn gắn với hệ thống ngân hàng Châu Âu
và Mỹ. ” Các nhà hoạch định chính sách Châu Á đang đối mặt với việc cần phải
có những phản ứng cân bằng một cách khéo léo để bảo vệ mình trước các nguy cơ
ảnh hưởng đến tăng trưởng trong khi vẫn phải kìm chế thiểu lạm phát
Cuộc khủng hoảng kinh tế của châu Âu đe dọa một cách rộng rãi quá trình
phục hồi kinh tế thế giới. Châu Âu quá rộng lớn và có mối quan hệ mật thiết, gần
gũi với các nền kinh tế như Mỹ và toàn thế giới. Vì vậy, cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng tại châu Âu sẽ có thể gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng, đè nặng
lên quá trình tăng trưởng và cân bằng của nền kinh tế thế giới cũng như giảm
lượng cầu”. Cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu đã tạo ra tình trạng thiếu hụt
USD và tình trạng này sẽ lan ra khắp địa cầu. Sự chuyển hướng đầu tư, hay đầu cơ
sẽ gây nhiều tác hại cho Á châu. Cho đến gần đây, các nền kinh tế Á châu sống
nhờ thị trường phương Tây vẫn còn lo sợ về đồng tiền quốc gia quá mạnh sẽ gây
khó khăn cho việc bán hàng hóa ra nước ngoài. L‹c này, các nước châu Á lại đang
đứng trước hai nguy cơ mới là kịch bản đồng tiền mất giá, làm gia tăng tình trạng
lạm phát.
Cuộc khủng hoảng nợ và tài chính tại Mỹ và châu Âu có thể tác động đến
nền kinh tế của nhiều quốc gia châu Phi, do Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) sẽ cắt
giảm nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và quan hệ thương mại với lục địa
này trong thời gian tới.
2.2. Đối với Việt Nam
2.2.1. Xuất khẩu giảm
Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận
trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự: 3 số liệu cảnh báo bao gồm: nợ
quá nhiều, thể hiện ở tỷ lệ nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức
thâm hụt ngân sách lớn so với GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.
Học viên: Nhóm 4 - 7 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
Hệ quả là Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triển miên đang bị
các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp
ngay trên Hy Lạp (321) và Iceland (466). Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong
việc thu h‹t các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.
2.2.5. Biến động tỷ giá hối đoái sẽ rất khó lường
Khủng hoảng nợ châu Âu cũng tạo ra những biến động khó lường về tỷ giá.
Đồng USD và đặc biệt là đồng Yên sẽ tiếp tục đà tăng mạnh so với đồng Euro. Do
đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay, trả ngoại tệ cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Ngoài ra, lãi suất thấp ở các nước, trong khi cao ở Việt Nam sẽ bất lợi về
chi phí cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
3. NGUYÊN NHÂN
Hiện nay, nền kinh tế các nước phát triển đang đứng trước những thách
thức vô cùng khó khăn đối với vấn đề nợ công.
Đầu tiên, Chính phủ các nước dễ tổn thương trước những thay đổi nhanh
chóng và bất ngờ trong hành vi của nhà đầu tư, và hệ quả là những chính sách
cũng bị thay đổi theo để kịp thời thích nghi.
Hơn thế nữa, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn hoặc từ chối cho
vay mượn trước nỗi lo về khả năng vỡ nợ ở các quốc gia rủi ro cao. Hiện ba nước
trong khu vực eurozone là Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha đang phải gánh chịu áp
lực này; tuy nhiên các nước lớn khác trong khu vực eurozone và IMF đã cho các
nước này vay mượn để tránh nguy cơ vỡ nợ.
Thứ hai, sự cạnh tranh vốn của chính phủ cho những khoản nợ vay sẽ đẩy
thể được minh họa bằng trường hợp của Bồ Đào Nha. • quốc gia này mặc dù nợ
công thâm hụt khá cao nhưng cũng chỉ tương tự như Pháp. Vai trò quan trọng nhất
Học viên: Nhóm 4 - 9 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
mà Bồ Đào Nha đang phải đối mặt không phải là chính sách tài chính mà là các
khoản nơ nước ngoài của khu vực tư nhân: các ngân hàng và các DN Bồ Đào Nha.
Trong khủng hoảng các khoản nợ tư có xu hướng chuyển thành nợ công. Và
điều quan trọng trên thị trường tài chính khi nhìn vào nợ công của 1 quốc gia là ai
là chủ nợ của ch‹ng. Tại các quốc gia khu vực đồng Euro, điều quan trọng là đảm
bảo được hoạt động thu thuế. Với những quốc gia có nợ công cao nhưng nợ nước
ngoài thấp, nợ công chủ yếu do người dân nắm giữ, và Chính phủ luôn luôn có thể
giải quyết vấn đề nợ công bằng một số hình thức thu thuế.
Vì thế, nợ nước ngoài là thành phần chủ yếu gây ra những vấn đề trong khả
năng thanh toán nợ của một quốc gia.
Một điều phức tạp hơn nữa là, một quốc gia có nợ nước ngoài cao, trong khi
cư dân của họ cũng nắm giữ một lượng tài sản lớn của nước ngoài. Trong trường
hợp này, Chính phủ phải đối mặt với trường hợp, quốc gia có thể vỡ nợ trong khi
người dân của mình vẫn có thể hưởng lợi nhuận từ tài sản nước ngoài. Ngay cả
khi điều này xảy ra, Chính phủ có thể giải quyết bằng cách, kêu gọi người dân bán
tài sản nước ngoài và mua trái phiếu Chính phủ trong nước thay thế.
Nguyên nhân từ nền chính trị của các quốc gia phương Tây: chưa kịp đưa ra
những điều chỉnh để thích ứng với thay đổi to lớn của thời đại: toàn cầu hóa, khi
lối sống được thay đổi hoàn toàn bởi khoa học kỹ thuật và chủ nghĩa cá nhân.
Tính hợp pháp của nền chính trị phương Tây vẫn xây dựng trên nền tảng
quốc gia dân tộc, những biện pháp được áp dụng vẫn chỉ dừng lại ở quá khứ, thêm
vào đó tố chất người lãnh đạo chưa thật xuất sắc, tất cả những điều này đều dẫn
đến thất bại của nền dân chủ. Giới chính trị - rất hiếm trường hợp ngoại lệ cá biệt -
đều chưa kịp nhận thức để đưa ra những điều chỉnh tương ứng hoặc đánh giá thấp
cường độ của điều chỉnh. Các chính khách gần như tin tưởng rằng cơ cấu và chế
độ của quá khứ vẫn có thể tiếp tục tồn tại, nhưng thực tế, họ không thể duy trì tất
phục hồi kinh tế. Việc cắt giảm mạnh tay chi tiêu khu vực công và phụ cấp đã
Học viên: Nhóm 4 - 11 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
được tiến hành ở Ailen, Tây Ban Nha và Hy Lạp. Italia dự định giảm lương khu
vực công trong ba năm. Đức và Hy Lạp sẽ giảm chi lương hưu. Bồ Đào Nha giảm
trợ cấp thất nghiệp. Nhìn chung việc giảm thâm hụt ngân sách bằng bất cứ phương
thức nào cũng hiếm khi tạo hiệu ứng tốt cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong
giai đoạn kinh tế suy yếu tai một số nước châu Âu, đặc biệt là Hy Lạp đang đối
mặt với nguy cơ vỡ nợ hay Đức là vấn đề thắt chặt chi tiêu tiêu dùng, thì biện
pháp giảm lương khu vực công và ph‹c lợi xã hội có thể sẽ có tác dụng giảm thâm
hụt ngân sách, tuy nhiên vẫn khó tránh khỏi rủi ro chi tiêu sụt giảm.
4.2. Giải pháp lâu dài
Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công ngày càng trầm trọng, Chủ tịch Ủy
ban châu Âu (EC) José Manuel Barroso đã nêu ra những giải pháp mà Khu vực sử
dụng đồng (Eurozone) có thể triển khai để vượt qua cuộc khủng hoảng như phát
hành trái phiếu chung, siết chặt kỷ luật tài chính, hỗ trợ vốn cho các ngân hàng và
nhanh chóng thông qua thỏa thuận mở rộng quy mô Quỹ Bình ổn Tài chính châu
Âu (EFSF) đã được các nhà lãnh đạo Eurozone nhất trí tại Hội nghị thượng đỉnh
ngày 21/7. Theo ông Barroso, 17 nước Eurozone mở đường cho việc tăng quy mô
EFSF và thành lập quỹ cứu trợ dài hạn mang tên Cơ chế bình ổn châu Âu (ESM),
công cụ thay thế khi EFSF hết hiệu lực vào năm 2013. Ông cho rằng một khi có
tiềm lực mạnh hơn và linh hoạt hơn, EFSF mới đủ khả năng tiến hành các hành
động can thiệp mang tính ngăn ngừa hoặc hỗ trợ các ngân hàng huy động vốn và
tham gia các thị trường thứ cấp để ngăn chặn khủng hoảng nợ lan rộng.
Việc phát hành trái phiếu chung với tên gọi "trái phiếu ổn định" thay vì trái
phiếu Euro sẽ được coi là một bước đi đương nhiên và có lợi cho toàn EU.
Ngoài ra, ông Barroso cho biết EC sẽ trình lên Nghị viện châu Âu kế hoạch
đánh thuế giao dịch tài chính mà theo ước tính sẽ đem lại cho ngân sách của EU
55 tỷ euro mỗi năm.
Khủng hoảng nợ Châu Âu đem đến những bài học đối với tất cả các
khoá- tức là ngân sách. Ch‹ng ta đã bội chi ngân sách quá dài. Mặc dù vẫn dưới
mức nguy hiểm nhưng cũng cảnh báo ch‹ng ta phải cẩn thận, nếu vượt qua
Học viên: Nhóm 4 - 13 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
ngưỡng đó thì gay go bởi kinh tế của ch‹ng ta còn yếu. Vì vậy phải quản lý nợ
công rất chặt chẽ.”
Vấn đề mấu chốt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là
phải vay mượn, nhất là vay vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức, thì mới có
nguồn đầu tư cho tăng trưởng. Do đó, không l‹c nào được lãng quên vấn đề sử
dụng vốn vay sao cho hiệu quả, bởi đó là những đồng tiền vay mượn, phải trả lãi
và đến hạn sẽ phải trả nợ.
Thông thường, vốn vay nước ngoài được các nước đang phát triển đầu tư
vào các dự án cơ sở hạ tầng để tạo đà cho tăng trưởng. Nhưng phải có sự tính
toán, cân đối giữa chính các dự án cơ sở hạ tầng. TS Vũ Quang Việt nói : “Đầu tư
vào hạ tầng cơ sở phải đặt ra vấn đề là nó có làm cho chi phí sản xuất của những
người trong khu vực giảm đi hay không, phải tính toán xem có lợi cho doanh
nghiệp hay không. Nếu dùng nợ công để phát triển thì xây xong phải tạo ra công
ăn việc làm, tạo lợi nhuận, chứ không thể để những đầu tư đó không làm tăng
năng suất sản xuất cho nền kinh tế, không tạo ra cái gì cho hoạt động kinh tế.”
Cuối cùng, một bài học lớn phải được r‹t ra trong suốt quá trình quản lý,
ngăn chặn bùng nổ nợ công, cho đến giải quyết hậu quả trong trường hợp vỡ nợ
là bài học “Tự lực cánh sinh”, tự mình làm, tự mình chịu, khi ấy sẽ biết quý và
thận trọng từng đồng tiền trong chi tiêu.
Thật vậy, khủng hoảng nợ tại châu Âu cũng đang làm thức tỉnh toàn thế
giới về nhu cầu duy trì tính ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường thắt chặt hoạt
động tài khóa để giảm bớt nợ công không thật cần thiết cho nhu cầu tăng trưởng
bền vững. Và Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ.
Học viên: Nhóm 4 - 14 - Lớp: CH17A
Thị trường tài chính toàn cầu và và khu vực ASEAN
Kết Luận
Thứ tư, khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo
báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia
khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở
thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế.
Thứ năm, việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ
công là hết sức quan trọng, tuy nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích
“thực chất” nợ công. Đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước
ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng “sức khỏe” nói chung của
nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia…
Như vậy, việc đánh giá đ‹ng nợ công và “thực chất” nợ công của một nền kinh tế,
một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm.
Bởi lẽ, nếu chỉ ch‹ trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần t‹y sẽ gây
nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng
thẳng xã hội, bị giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm
chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ
công còn trong giới hạn an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, ch‹ ý đ‹ng mức
đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh
tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng
xoáy thâm hụt ngân sách – “thắt lưng buộc bụng” – tác động tiêu cực đến tăng
trưởng…
Với các bức tranh nợ công nêu trên, có thể khẳng định mỗi nước dù ở mức
độ nào cũng liên quan đến nợ công và nợ công vẫn thực sự cần thiết cho mọi nền
kinh tế, cho mọi quốc gia. Điều quan trọng cần bàn đó là qui mô nền kinh tế như
thế nào thì có khả năng hấp thụ nguồn tín dụng tương ứng. Hiện tại thế giới chưa
có công thức chuẩn xác cho mọi trường hợp nợ công và như vậy nợ công vẫn là
câu chuyện dài, vì lẽ đó mỗi quốc gia cần nhận thức và xử lý các vấn đề phát sinh
từ nợ công cho phù hợp.
Học viên: Nhóm 4 - 16 - Lớp: CH17A