MỤC LỤC:
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………….…2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.1. Lịch sử hình thành thị trường tài chính…………………..……………4
1.2. Khái niệm về thị trường tài chính:...…………………...………………7
1.3. Chức năng của thị trường tài chính:…………………..…………….…7
1.4. Phân loại thị trường tài chính:…………………………………………8
1.5.Vai trò của thị trường tài chính. ………………………………………11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.1.Thị trường tiền tệ:
2.1.1. Thị trường vốn ngắn hạn:………………………….………..15
2.1.2. Thị trường liên ngân hàng:……………………...…………..15
2.2. Thị trường hối đoái:…………………………………………………..15
2.3. Thị trường chứng khoán:……………………………………….…….16
2.3.2. Những hạn chế của thị trường chứng khoán Việt
Nam………………………………………………………………………….……17
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Thị trường tài chính tạo lập nguồn vốn cho nền kinh tế……………..24
3.2. Thị trường tài chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh
tế……………………………………………………………...…………….25
3.3. Thị trường tài chính góp phần đầy nhanh quá trình tự do hóa tài chính và
hội nhập quốc tế……………… ..………………………………….………….26
CHƯƠNG 4 :ĐÁNH GIÁ VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP:
4.1 Đánh giá:……………………………………..………………………28
4.1.1. Về thị trường tiền tệ…………….………………………… 28
4.1.2. Về thị trường chứng khoán: ………………………….……28
4.2 Giải pháp:…………………...………………………………………..28
KẾT LUẬN
1
1.Lời mở đầu :
dưới nhiều hình thức khác nhau để bảo đảm và tăng nguồn vốn.
TTTC giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền
đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua
lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả.
Có thể nói, TTTC là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, tạo điều
kiện thuận lợi chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến nơi thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế. Thông qua TTTC mà hình thành giá mua giá bán các loại cổ
phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn hạn, dài hạn…hình thành nên tỷ lệ lãi suất
đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn, trung hạn và dài hạn.
2
Ở Việt Nam, kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường,
đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,gia nhập WTO, lĩnh
vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về mặt
nhận thức và thực tiễn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu thi trường tài chính là hết sức quan trọng, nó sẽ giúp
cho các nhà đầu tư hiểu rõ loại thị trường đặc biệt này, từ đó nắm bắt được tầm
quan trọng, ảnh hưởng của nó đối với hoạt động SXKD để có kế hoạch sử dụng vốn
có hiệu quả nhất.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.1.Lịch sử hình thành thị trường tài chính.
Thị trường tài chính xuất hiện hàng ngàn năm trước công nguyên:
“Những thỏa thuận cho vay giữa các cá nhân đã xuất hiện ở nhiều nền văn
minh cổ đai.Bằng chứng cho thấy ít nhất hai tổ chức hoạt động dạng ngân hàng
vào thời đại Babylonia và Assyria.”
Cũng giống như các loại thị trường khác, thể chế thị trường phải được duy trì
trong nền kinh tế tài chính. Tức là, các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trên thị trường
tạo ra cung và cầu về sản phẩm tài chính.
Trong cơ chế kinh tế bao cấp,việc kinh doanh do NN điều phối, các chủ thể
hoàn toàn bị động trong ước muốn kinh doanh, dù biết hướng đó là mang lại lợi
này đều có thể cho vay.
Các hộ gia đình, cá nhân có tiền để dành, tiền được thừa kế, mặc dù số tiền mỗi cá
nhân, hộ gia đình có được không phải lớn nhưng thành phần này lại chiếm tỉ trọng
cao trong xã hội (khoảng 70%) nên nếu tập trung lại thì sẽ trở thành một nguồn tài
chính vô cùng mạnh.
Còn có quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội, quỹ bảo hiểm mà chưa sử dụng cũng là
nguồn cung ứng vốn.
Các chủ thể thừa vốn không muốn để phí nguồn tài chính nhàn rỗi của mình, họ tìm
kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn dùng nó để
bổ sung vốn cho hoạt động SXKD và các nhu cầu đầu tư khác sao cho có hiệu quả
và tiết kiệm.
Vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi để tạo ra sự
gặp gỡ này. Sự gặp gỡ này chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn là cần
tạo ra một nơi để cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗ đầu tư giao lưu với
những nhà đầu tư đang cần vốn.
Ban đầu, việc vay và cho vay dựa trên sự quen biết, tín nhiệm (anh em, hàng xóm,
bạn bè…) nên phạm vi và số lượng rất hạn chế.
Khi các chủ thể gặp nhau thông qua vai trò của người trung gian là Ngân hàng thì có
sự dễ dàng hơn, việc luân chuyển vốn được nhanh chóng và đáng tin cậy hơn.
Nhưng phạm vi lựa chọn các phương án cho vay của Ngân hàng không được rộng
lớn,lãi suất không phải lúc nào cũng hấp dẫn người gửi tiền vào để có tiềm lực
mạnh, việc gửi và rút tiền gặp nhiều phiền hà, việc cho vay không phải lúc nào cũng
dễ dàng với bất kì ai…
Có thể khẳng định rằng: một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động
đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu
quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm. Bắt nguồn từ mối quan hệ
nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm, một yêu cầu đặt ra là cần có nhiều hình thức huy
5
động vốn mới, nhanh chóng, linh hoạt hơn, góp phần giải quyết cân đối giữa cung
và cầu về nguồn tài chính trong xã hội.
ảnh hưởng đến mọi thành phần trong nền kinh tế nên thị trường tài chính là thị trường bậc
cao. Do đó, thị trường tài chính phải là loại thị trường bậc cao, chỉ tồn tại và hoạt động
trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
1.3. Chức năng của thị trường tài chính:
Chức năng đầu tiên, cũng là chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính là
khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội. Để
thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo ra các kênh huy động vốn từ nơi thừa,
như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, … ở
trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế,
Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình, …
Chức năng thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu tư. Thị
trường tạo ra sân chơi, để những người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu tư như nhau và được
tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư có suất sinh lợi cao nhất, tạo
thành thói quen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, là một nguồn đầu vào không
thể thiếu của thị trường. Nếu thị trường không kích thích được người dân tích lũy và tham
gia vào thị trường như là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể
hoạt động tốt. Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các
hoạt động đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu
suất sử dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy. Chính vì vậy, thị
trường tài chính có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền
kinh tế, kích thích đổi mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả
đầu tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
7
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanh khoản cho các
tài sản tài chính. Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tài chính
thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán, giao dịch cổ
phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp. Tính thanh khoản ở thị
trường tài chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp
chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu. Do đó,
mỗi thị trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển
tài chính chỉ bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
- Thị trường chứng khoán là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có
giá trung hạn và dài hạn. Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng nhất của thị
trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát
hành; qua đó, thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế. Sản phẩm tài chính trên thị trường chứng khoán là các loại trái
phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như: chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phát sinh
- hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền. Thị trường chứng
khoán tập trung vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế. Do đó, nó có tác động rất lớn đến môi
trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Căn cứ vào cơ cấu của thị trường, thị trường tài chính được phân thành thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp.
- Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành lần đầu các chứng từ có giá để
huy động và tập trung vốn. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ
cấp có đặc điểm là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành, tạo
ra hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế.
Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà
nước, Công ty phát hành, Tập đoàn bảo lãnh phát hành, …Thị trường sơ cấp thường diễn
ra trong một thời gian nhất định.
- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán trao đổi các chứng từ có giá đã
phát hành lần đầu. Trên thị trường này, các nhà đầu tư chuyển nhượng quyền mua bán
chứng khoán và điều đó làm cho chứng khoán đã phát hành có tính thanh khoản. Khoản
tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh
chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành nên luồng tiền chỉ vận chuyển giữa những
nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của
thị trường chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. Giao dịch trên thị trường
thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá giao dịch chứng khoán do cung - cầu
trên thị trường quyết định.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị