Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên
ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Lương Tuấn Long
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận về những vấn đề quản lý nhà trường và công tác
quản lý sinh viên. Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà
Nội như quản lý học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy; công tác
giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên; các chế độ chính sách; quản
lý sinh viên ngoại trú; công tác thi đua khen thưởng và kỷ luật Qua đó đề xuất một số
biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mỏ Hà Nội: tăng cường
quản lý hoạt động học và tự học của sinh viên; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống cho sinh viên; tổ chức tốt công tác quản lý sinh viên ngoại trú; ứng
dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý sinh viên; tổ chức tốt công tác thi đua khen
thưởng cho sinh viên và các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác quản lý sinh viên
Keywords: Quản lý giáo dục; Viện Đại học Mở Hà Nội; Sinh viên
Content
1. Lí do chọn đề tài
Bác Hồ đã từng nói: “Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy,
yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước cũng
như trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, thanh niên đóng một vai trò
Nghiên cứu cơ sở lý luận về những vấn đề quản lý nhà trường và công tác quản lý sinh
viên.
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Đề xuất những biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà
Nội
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai
đoạn mới.
5. Giả thuyết khoa học
Trong hoàn cảnh thực tế hiện nay của Viện Đại học Mở Hà Nội, việc quản lý sinh viên
còn nhiều hạn chế và bất cập. Nếu tìm ra những biện pháp hợp lý nhằm tăng cường công tác
quản lý sinh viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với sinh viên trong nhà
trường. 6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu,
tác giả sử dụng các nhóm phương pháp sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Bao gồm việc phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các văn kiện, văn bản và
tài liệu có liên quan đến các vấn đề quản lý, công tác quản lý sinh viên.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
6.2.2. Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn
6.2.3. Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến
6.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục và quản lý giáo dục
6.2.5. Phương pháp thống kê toán học
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện
Tạo nên sự tôn trọng lẫn nhau; Tạo được niềm tin, uy tín; Tạo điều kiện cùng có lợi; Hợp tác
trên tinh thần cởi mở, chân thành. Tuy nhiên, kết quả đạt được ngoài sự cam kết, phục tùng, ủng
hộ đôi khi người quản lý còn gặp phải những phản kháng hoặc chống đối mà không lường trước
được sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý.
1.1.1.3. Chức năng quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì : Đó là tác động có định hướng, có
chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ
chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt
động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Người quản lý
(Manager) là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận
hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
Quản lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), tổ chức
(Organizing), chỉ đạo - lãnh đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling).
1.1.1.4. Các nguyên tắc quản lý
Ở nước ta, trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…) mà yếu
tố chủ yếu là con người, các nhà lãnh đạo quản lý thường vận dụng những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng; Nguyên tắc tập trung dân chủ; Nguyên tắc đảm bảo tính khoa
học tự nhiên.
1.1.2. Quản lý giáo dục
1.1.2.1. Định nghĩa về quản lý giáo dục
Các nhà lý luận Xô Viết về quản lý giáo dục cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện
pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của
cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng
như chất lượng” [29, Tr .22] Quản lý chính là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau [10, Tr. 13].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều
Muốn quản lý quá trình giáo dục đào tạo đạt được kết quả như mong muốn, người quản
lý cần phải đáp ứng một số yêu cầu sau: Phải nắm vững bản chất, chức năng, nhiệm vụ, nội dung
và các yếu tố của quá trình.
1.1.3. Quản lý nhà trường (trong bối cảnh hiện nay)
Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản.
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm
sao đưa hoạt động đó dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý
lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và
tiến tới mục tiêu giáo dục.
1.1.4. Sinh viên, một số đặc trưng tâm lý – xã hội của sinh viên hiện nay
1.1.4.1. Khái niệm sinh viên
- Sinh viên: là danh từ được gọi chung cho người học ở bậc cao đẳng, đại học.
Sinh viên có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Là những người đã tốt nghiệp tú tài… đã qua kỳ thi tuyển sinh đại học cấp quốc gia mới
được trúng tuyển chính thức vào học các trường đại học, cao đẳng. Họ là thanh niên ưu tú, có
học lực từ khá đến xuất sắc ở trường trung học phổ thông, các loại (trường chuyên hoặc bình
thường), thông minh, tiếp thu nhanh, có động cơ, ý thức học tập, ham học hỏi…
- Về cơ cấu tâm lý – xã hội có đặc điểm riêng là: có độ tuổi từ 17,18-24,26, chưa có nghề
nghiệp, còn lệ thuộc gia đình, việc làm không ổn định, có tri thức, được đào tạo chuyên môn, tâm
lý dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách. Nhận thức cũng chưa đầy đủ, dễ bị kích động
và lôi kéo khi những gì vượt qua phạm vi của khái niệm khoa học hạn hẹp đã học. Đây là một
trong những nhược điểm mà nhà trường, các nhà giáo dục cần lưu ý để khắc phục và hướng các
em đi đúng mục tiêu đào tạo.
1.1.4.3. Nhiệm vụ của sinh viên
1.1.4.4. Quyền của sinh viên
1.1.4.5. Các hành vi sinh viên không được làm
1.1.5. Biện pháp quản lý sinh viên
dục và đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước.
+ Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Nguyên tắc kết hợp Nhà nước xã hội
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính kế hoạch
+ Nguyên tắc về tính cụ thể, cá thể, thiết thực và hiệu quả
+ Nguyên tắc trách nhiệm, tự chủ và phân công trách nhiệm
1.2.2. Nội dung công tác quản lý sinh viên
Công tác quản lý sinh viên là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên theo
đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành. Tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên. Tổ chức, quản lý đời sống vật chất và
tinh thần của sinh viên.
1.2.2.1. Nội dung công tác quản lý sinh viên (Công tác học sinh-sinh viên)
1.2.2.2. Hệ thống tổ chức làm công tác quản lý sinh viên.
1.2.3. Vai trò, vị trí của công tác sinh viên ở trường đại học
Công tác quản lý sinh viên là một bộ phận trọng tâm, chủ yếu hình thành nhân cách cho
sinh viên trong toàn bộ quá trình tổ chức đào tạo ở các trường đại học. [2, Tr .3]
1.2.4. Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội sinh viên trong công tác quản lý sinh viên
Tiểu kết chương 1
Sau khi trình bày các khái niệm, công cụ và thuật ngữ có liên quan với trọng tâm bàn về
vai trò quản lý sinh viên, những vấn đề đặc điểm của quản lý sinh viên trong chương 1, luận văn
đã làm rõ các cơ sở lý luận khoa học về vấn đề nghiên cứu. Tác giả dựa vào tài liệu, tư liệu, phân
tích hệ thống một cách cơ bản và làm rõ các khái niệm về sinh viên trong bối cảnh nhà trường ở
nước ta hiện nay. Đồng thời nêu lên một số khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý sinh viên và
nội dung công tác quản lý sinh viên hiện nay. Những cơ sở lý luận của công tác quản lý sinh viên
nêu trên tạo điều kiện và định hướng cho việc tìm hiểu thực trạng và đề ra giải pháp cho công tác
quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà Nội trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở VIỆN ĐẠI HỌC MỞ
2.3.1.1. Các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác quản lý sinh viên hệ chính quy
được thực hiện ở Viện Đại học Mở Hà Nội
2.3.1.2. Quy định của Viện Đại học Mở Hà Nội về công tác quản lý sinh viên
Viện Trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội quy định chức năng của các đơn vị trong Viện về
công tác quản lý sinh viên như sau:
- Phòng Quản lý Đào tạo: Có chức năng quản lý đào tạo sinh viên từ khâu tuyển sinh, quá
trình học tập đến việc tổ chức cho sinh viên thi tốt nghiệp.
- Phòng Công tác chính trị và sinh viên: Phòng mới được thành lập từ ngày 29 tháng 4
năm 2005, Phòng có nhiệm vụ: Là đầu mối trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị tư
tưởng cho sinh viên, xây dựng môi trường học đường trong sạch, lành mạnh, góp phần nâng cao
chất lượng học tập, rèn luyện của sinh viên.
- Phòng Tổ chức - Hành chính: Cấp giấy chứng nhận cho sinh viên giải quyết các vấn
đề hành chính, dân sự
- Thư viện
- Văn phòng Đoàn TNCS HCM
- Các khoa chuyên môn: quản lý trực tiếp sinh viên, phối hợp với các phòng, ban và các
tổ chức có liên quan trong việc quản lý sinh viên.
2.3.2. Thực trạng việc quản lý học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên hệ chính quy
Việc quản lý học tập của sinh viên của Viện thực hiện theo đúng quy chế của BGD&ĐT
song chất lượng đào tạo chưa cao, số sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi còn rất ít, đa số sinh viên
tốt nghiệp chỉ đạt ở mức trung bình khá. Công tác quản lý học tập của sinh viên chưa được quan tâm đúng mức, năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên còn rất hạn chế. Chưa ứng dụng được công
nghệ tin học vào công tác quản lý đào tạo.
2.3.3. Thực trạng Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được quan tâm
với nhiều hình thức đa dạng. Viện đã tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá, văn
nghệ, thể dục, thể thao và các hoạt động khác của sinh viên. Những hạn chế trong công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên: Công tác giáo dục chưa được thường
(1) Mặt mạnh của công tác quản lý sinh viên
Công tác quản lý sinh viên được thực hiện theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ quản lý
của VĐHMHN có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với nghề. Đảng uỷ, Ban giám hiệu Viện rất
quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, quan tâm đến việc đổi mới hoàn thiện cơ chế
quản lý.
- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được quan tâm,
Viện đã tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao và các
hoạt động khác của sinh viên. Viện đã thực hiện nghiêm túc quy chế của Bộ GD&ĐT về việc
giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự phối hợp giữa các bộ phận làm công tác chính trị, tư
tưởng ngày càng nhịp nhàng và có hiệu quả (như phối hợp giữa phòng Đào tạo và phòng Công
tác Chính trị và sinh viên trong việc tổ chức học chính trị đầu khoá cho sinh viên, trong việc phát
động các phong trào học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên; phối hợp giữa đoàn Thanh niên,
hội Sinh viên, với phòng Công tác chính trị và sinh viên trong việc phòng chống các tệ nạn và
xây dựng các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao…)
- Công tác quản lý việc học tập của sinh viên được thực hiện theo đúng chương
trình, kế hoạch đã định và các quy chế, quy định hiện hành, việc xét lên lớp cho sinh viên
hàng năm được thực hiện nghiêm túc. Đối với những sinh viên yếu Viện đã có thông báo
kịp thời về gia đình để cùng gia đình động viên các em cố gắng học tập, rèn luyện.
- Viện đã thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với sinh viên về
miễn giảm học phí, bảo hiểm, vay vốn…
- Biểu dương được những sinh viên đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện nghiên cứu
khoa học và xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm pháp luật và nội quy, quy chế.
(2) Mặt yếu của công tác quản lý sinh viên
Phòng Công tác Chính trị và sinh viên mới được thành lập còn thiếu về nhân lực, công
tác quản lý sinh viên còn chưa thực sự động viên được tinh thần học tập, rèn luyện của sinh viên.
Chất lượng đào tạo của Viện chưa cao, đa số sinh viên tốt nghiệp chỉ đạt loại trung bình khá, số
sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi và loại xuất sắc còn rất ít.
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên vẫn còn những hạn
chế như: Việc học tập giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin còn chưa thực sự hiệu quả, đa số
sinh viên học các môn này còn chưa hào hứng. Việc học chính trị đầu khoá chỉ được thực hiện
viên, phần kinh phí dành cho công tác thi đua khen thưởng còn quá ít.
2.3.8. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản lý sinh
viên
Trong thực tế và tim hiểu mức độ nhận thức của cán bộ quản lý công tác quản lý SV, kết
quả điều tra xã hội học bằng phiếu thăm dò ý kiến ở 200 Trưởng, phó Phòng, Khoa, Trung tâm,
Đoàn, Hội SV, Giáo viên chủ nhiệm lớp và cán bộ quản lý sinh viên tại thời điểm tháng 11/2007 cho thấy nhận thức rất tích cực của đội ngũ cán bộ quản lý về tầm quan trọng của công tác quản
lý SV.
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy rằng đa số cán bộ quản lý trong nhà trường và đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm đều nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý sinh viên, Thứ nhất:
Mức độ rất cần thiết là 89,5%; Thứ 2: Mức độ cần thiết là: 10,5% ; Thứ 3: Mức độ không cần
thiết là 0%, từ đó nhận thấy cần có những biện pháp hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý sinh
viên trong thời gian tiếp theo để đáp ứng yêu cầu của công tác này.
Tiểu kết chương 2
Công tác quản lý sinh viên ở Viện Đại học Mở Hà Nội trong thời gian vừa qua đã đạt
được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập tồn tại như: Chưa có biện pháp
thích hợp để tăng cường quản lý việc học và tự học của sinh viên. Công tác giáo dục chính trị tư
tưởng sinh viên dừng lại ở mức tuyên truyền cổ động, chưa đi vào chiều sâu cũng như đa dạng
về hình thức. Công tác thi đua khen thưởng chưa thực sự khuyến khích được sinh viên phấn đấu
trong học tập và rèn luyện, chưa động viên được các đơn vị và cá nhân làm tốt công tác quản lý
sinh viên, phần kinh phí dành cho công tác thi đua khen thưởng còn quá ít.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, qua đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của công
tác quản lý sinh viên tại Viện Đại học Mở Hà Nội chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp
quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội với mong muốn góp phần khắc phục
những hạn chế trong công tác quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện trong nhà trường.
Chương 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
mới PPDH từ đó giáo viên có ý thức và nhu cầu đổi mới đồng bộ cả năng lực và kỹ năng của
mình trong quá trình giảng dạy.
- Phải có giải pháp về học liệu
- Lãnh đạo Viện phải nghiên cứu đầu tư cho khâu biên soạn giáo trình, học liệu phục vụ
cho việc tự học của sinh viên.
- Có chính sách tạo động lực đối với giáo viên và cán bộ trong trường đi đầu trong trong
đổi mới PPDH và tổ chức thi, kiểm tra.
3.2.2. Biện pháp thứ hai: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh
viên
3.2.2.1. Mục đích ý nghĩa của biện pháp
Giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên là một hoạt động có tổ chức,
có mục đích, có kế hoạch của nhà trường nhằm chuyển hoá những chuẩn mực, giá trị tư tưởng,
chính trị, đạo đức và pháp luật thành những phẩm chất giá trị của cá nhân sinh viên.
Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên có ý nghĩa quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện sinh viên, giáo dục để sinh viên nắm vững quy chế
của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như nội quy, quy định của nhà trường và pháp luật của Nhà
nước; Giúp sinh viên nhận thức được vai trò và trách nhiệm của bản thân trong việc học tập lĩnh
hội tri thức, đảm bảo cho sinh viên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. 3.2.2.2. Nội dung thực hiện biện pháp
Để tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên VĐHMHN
cần thực hiện các nội dung cụ thể sau:
- Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh.
- Xây dựng quy định về việc tính điểm rèn luyện của sinh viên hệ chính quy.
- Xây dựng kế hoạch quản lý quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho
sinh viên.
- Thông qua công tác Đoàn, Hội và các phong trào trong nhà trường để giáo dục chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên.
Trong thời đại công nghệ tin học phát triển như vũ bão, với điều kiện thực tế của Viện và
với lượng sinh viên của Viện ngày càng tăng thì việc ứng dụng công nghệ tin học vào việc quản
lý đào tạo sinh viên là một yêu cầu cấp bách.
Hiện nay đã có quy chế mới về quản lý đào tạo, quản lý sinh viên của Bộ GD&ĐT vì vậy
Viện Đại học Mở Hà Nội cần triển khai việc xây dựng phần mềm cho quản lý đào tạo và quản lý sinh
viên để công tác quản lý sinh viên có hiệu quả và khoa học, tiết kiệm được thời gian và sức lao động
của người quản lý.
3.3.4.2. Nội dung thực hiện biện pháp
Để xây dựng được phần mềm quản lý đào tạo, quản lý sinh viên chúng ta phải phân tích
nhu cầu của người sử dụng đó là phòng Quản lý đào tạo và phòng Công tác Chính trị và sinh
viên.
(1) Phòng Quản lý đào tạo cần quản lý được các thông tin của sinh viên từ khi nhập học
đến khi ra trường. Thông qua hệ thống người quản lý dễ dàng truy nhập tìm kiếm thông tin về
quá trình học tập cũng như thông tin cá nhân của sinh viên.
Hệ thống quản lý giúp cho việc theo dõi sử lý học tập cuối năm học và cuối khoá học
được nhanh chóng chính xác. Căn cứ vào các dữ liệu đã có, hệ thống cho phép thống kê báo cáo
các yêu cầu đặt ra
Trên cơ sở những số liệu thống kê cán bộ quản lý các cấp biết được tình hình học tập của
sinh viên từng lớp, từng ngành, từng khoa và tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả
học tập của sinh viên từ đó tìm ra các biện pháp để khắc phục.
(2) Phòng Công tác chính trị và sinh viên cần quản lý được các thông tin về cá nhân của
sinh viên, sở thích năng khiếu, về gia đình, về chỗ ở (địa chỉ nhà trọ, chủ nhà trọ, số điện
thoại…) Thông qua hệ thống người quản lý dễ dàng truy nhập tìm kiếm thông tin về quá trình
học tập cũng như thông tin cá nhân của sinh viên.
Hệ thống quản lý giúp cho việc theo dõi đánh giá kết quả rèn luyện cuối năm và cuối
khoá học được nhanh chóng chính xác. Căn cứ vào các dữ liệu đã có, hệ thống cho phép thống
kê báo cáo các yêu cầu đặt ra
3.3.4.3. Điều kiện thực hiện biện pháp:
sinh viên hệ chính quy.
Để có cơ sở xác định tính khả thi của các biện pháp, chúng tôi tiến hành tham khảo ý kiến
của một số cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, phụ huynh, chủ nhà trọ, chính quyền địa
phương, công an bằng các phiếu hỏi để đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. - Biện pháp nhất: Tăng cường quản lý hoạt động học và tự học của sinh viên.
Tổng số phiếu phát ra 80, số phiếu thu lại 80.
Trong đó: Cán bộ quản lý 40 người
Giáo viên 20 người
Sinh viên 20 người
Kết quả đa số ý kiến cho rằng biện pháp “Tăng cường quản lý hoạt động học và tự của
sinh viên” được đề xuất trong luận văn có tính cần thiết và tính khả thi tương đối cao: 75/80
ý kiến được hỏi cho rằng biện pháp này rất cần thiết, 5/80 ý kiến được hỏi cho rằng biện
pháp này cần thiết, 73/80 ý kiến được hỏi cho là thực hiện được, 7/80 ý kiến được hỏi cho là
khó thực hiện.
- Biện pháp thứ hai: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho
sinh viên.
Tổng số phiếu phát ra 100, số phiếu thu lại 100.
Trong đó: Cán bộ quản lý 30 người
Giáo viên 30 người
Sinh viên 40 người
Kết quả đa số ý kiến cho rằng biện pháp “Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo
đức, lối sống cho sinh viên” được đề xuất trong luận văn có tính cần thiết và tính khả thi tương
đối cao: 100/100 ý kiến được hỏi cho là cần và rất cần thiết, 90/100 ý kiến được hỏi cho là thực
hiện được, 10/100 ý kiến được hỏi cho là khó thực hiện.
- Biện pháp thứ ba: Tổ chức tốt công tác quản lý sinh viên ngoại trú.
Tổng số phiếu phát ra 100, số phiếu thu lại 100.
Trong đó: Cán bộ quản lý 30 người
Giáo viên 30 người
cần thiết, 30/100 ý kiến được hỏi cho rằng biện pháp này cần thiết, 95/100 ý kiến được hỏi cho là
thực hiện được, 5/100 ý kiến được hỏi cho là khó thực hiện.
Tóm lại 100% ý kiến được hỏi cho rằng cả 5 biện pháp QLSV đề xuất trong luận văn là rất
cần thiết và cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đưa ra tương đối cao: từ 90% đến 98% ý kiến
được hỏi cho là thực hiện được. Chỉ có 6% ý kiến được hỏi cho là khó thực hiện ở biện pháp thứ
nhất, 9% ý kiến được hỏi cho là khó thực hiện ở biện pháp thứ 2, 10% ý kiến được hỏi cho là khó
thực hiện ở biện pháp thứ 3,2% ý kiến được hỏi cho là khó thực hiện ở biện pháp thứ 4, 5% ý kiến
được hỏi cho là khó thực hiện ở biện pháp thứ 5.
Căn cứ vào kết quả tham khảo các ý kiến bước đầu có thể khẳng định rằng các biện pháp
đề xuất trong luận văn có cơ sở để ứng dụng vào thực tiễn. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ
góp phần tăng cường quản lý sinh viên hệ chính quy ở Viện Đại học Mở Hà Nội và góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo ở Viện Đại học Mở Hà Nội. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng có một ý nghĩa quan trọng trong việc
cung cấp nguồn nhân lực cho đất nước. Giáo dục đại học phải đào tạo được nguồn nhân lực có
chất lượng cả về tri thức khoa học và khả năng vận dụng những tri thức đó vào cuộc sống, đồng
thời phải có tính sáng tạo, tự chủ trong học tập để trau dồi kiến thức nghề nghiệp đáp ứng yều
cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quản lý sinh viên để nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các
nhà trường nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu, đối tượng, và phạm vi nghiên cứu, luận văn đã giải
quyết được một số vấn đề sau:
- Luận văn đã khái quát hoá các khái niệm quản lý, quản lý đào tạo, quản lý sinh viên,
tạo, NXB giáo dục, Hà Nội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu tham khảo (Dùng cho lớp tập huấn Công tác HSSV
đầu năm học 2007 – 2008)
4. Đặng Quốc Bảo - Nguyên Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai, vấn đề
và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý Giáo
dục và Đào tạo TW1.
6. Đặng Quốc Bảo (1997), Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý
Giáo dục và Đào tạo TW1.
7. Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1999), Khoa học tổ chức và quản lý – vấn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Chính phủ (2005), Nghị quyết đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai
đoạn 2006-2020, Hà Nội.
9. Nguyễn Quốc Chí. Giáo trình cao học Cơ sở khoa học quản lý. Đại học quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Bá Dương (Chủ biên) – Tâm lý học quản lý dành cho người lãnh đạo, NXB Chính
trị Quốc gia, HN, 1999
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IIIX, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001),Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002),Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung
ương khoá IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Lê Văn Giang (2001), Những vấn đề cơ bản của Khoa học giáo dục, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
16. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
biết, Hà Nội.
34. Vũ Cao Đàm, Giáo trình cao học Phương pháp nghiên cứu khoa học, Đại học quốc gia Hà
Nội
35. Vụ Công tác lập pháp (2005), Luật giáo dục, NXB Tư pháp, Hà Nội.