Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở hà nội - Pdf 10

Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học
sinh tiểu học ở Hà Nội

Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Người hướng dẫn: TS. Đỗ Ngọc Khanh
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận: lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở
giảng viên đại học, khái niệm stress và những vấn đề lý luận, khái niệm học sinh
tiểu học và những đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi. Tìm hiểu tổ chức và
phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh
tiểu học ở Hà Nội. Phân tích kết quả nghiên cứu: stress của học sinh tiểu học trong
quá trình học tập, những nhân tố liên quan đến mức độ stress ở học sinh tiểu học,
ảnh hưởng của stress tới các mặt hoạt động của học sinh tiểu học. Đề xuất kiến
nghị và giải pháp nhằm giảm thiểu những nhân tố có ảnh hưởng đến stress ở học
sinh, qua đó giúp học sinh đạt được những thành tích cao trong học tập và trong
cuôc sống.
Keywords: Tâm lý học; Tâm lý giáo dục; Học sinh tiểu học; Tâm lý học trẻ em;
Hà Nội

Content
. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam rối nhiễu tâm lý học đường (trong đó có stress) đã trở thành vấn đề
được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh quan tâm. Đã có một
số công trình nghiên cứu về vấn đề học đường đã nhấn mạnh cách yếu tố như sức ép xã
hội, gia đình, chương trình học quá tải, tình trạng dạy thêm học thêm, bệnh thành tích
trong thi cử là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress học đường ngày càng tăng
cao. Hậu quả stress học đường có ảnh hưởng rất lớn tới sinh hoạt và học tập của trẻ. Trẻ
trở nên rất khó tập trung trong học tập, học hành sa sút ở tất cả các môn bất chấp mọi nỗ
lực cố gắng. Nặng hơn, trẻ có những hành vi bột phát, thiếu kiểm soát như bỏ học, phá

tiểu học ở Hà Nội, đồng thời cũng lựa chọn thêm 1 trường tiểu học ở Quảng Ninh để so
sánh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Comment [NK1]: Để một số thôi vì mình không
xem xét hết tất cả các yêu tố
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp trắc nghiệm tâm lý (test)
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp thống kê toán học
8. Đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên nghiên cứu mức độ stress theo cách tiếp cận tâm lý học lâm sàng đối
với học sinh bậc tiểu học.
- Đưa ra được con số chính xác và khoa học về tỷ lệ và mức độ stress ở học sinh
tiểu học hiện nay.
- Chỉ ra được những những yếu tố có liên quan đến stress và những ảnh hưởng của
stress tới mọi mặt hoạt động của học sinh tiểu học.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở học sinh tiểu học
1.1.1. Những nghiên cứu stress ở nước ngoài
Trong các khoa học nghiên cứu về stress hiện nay có ba hướng nghiên cứu cơ bản:
Hướng nghiên cứu thứ nhất là tiếp cận stress dưới góc độ sinh học. Hướng nghiên

- Stress là những phản ứng mạnh không tốt của cơ thể về sinh lý hoặc tâm lý đối với
tác động của tác nhân gây stress, cách hiểu này ngày nay khá phổ biến.
- Stress là những phản ứng mạnh đủ loại, không tốt hoặc tốt đối với cơ thể.
Hai cách hiểu này đều khẳng định stress là những phản ứng mạnh của cơ thể trước
các tác động khác nhau của môi trường. Nhưng trong thực tế không phải phản ứng mạnh
nào của cơ thể cũng đều là stress và không phải chỉ có phản ứng mạnh mới là biểu hiện
stress.
Các nhà khoa học Việt Nam cũng có ý kiến riêng về đề tài stress. Tô Như Khuê đã
cho rằng: "Stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung
khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quản
thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích,
mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó" [19,33].
Từ những quan niệm khác nhau về stress như đã nêu ở trên, dưới góc độ tâm lý học
lâm sàng, chúng tôi cho rằng stress là sự phản ứng của cơ thể và nhân cách đối với
những kích thích được nhận thức là đang đe dọa hoặc gây hại, phản ứng này có thể ít
nhiều cải thiện được kích thích gây stress. Đây cũng được xem là quan điểm tiếp cận của
chúng tôi khi nghiên cứu và đánh giá mức độ stress ở học sinh tiểu học.
1.2.2. Khái niệm stress trong học tập
1.2.2.1. Định nghĩa
Hiện nay có rất nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về stress trong học tập,
nhưng trong đề tài này, chúng tôi hiểu “stress trong học tập là phản ứng tâm – sinh lý
của học sinh trước những kích thích từ phía môi trường học tập (gia đình, nhà trường…)
đang đe dọa sự cân bằng của cơ thể.
1.2.3. Phân loại stress
Stress bình thƣờng
Thông thường stress có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng đời
sống con người, những stress này được gọi là stress bình thường. Stress bệnh lý

điểm không công bằng, vi phạm kỷ luật học tập, căng thẳng trong quan hệ với thầy cô và
các bạn cùng lớp, lớp học quá đông, không gian học tập không yên tĩnh, kết quả học tập
kém, thiếu sự giúp đỡ của bạn bè, thày cô.
1.2.5.2. Các yếu tố bên trongi
Bên cạnh các nguyên nhân bên ngoài, thì các nguyên nhân bên trong cũng đóng vai
trò hết sức quan trọng gây ra stress trong học tập của học sinh. Có rất nhiều các nguyên
nhân bên trong gây ra stress trong học tập của học sinh nhưng có thể phân ra làm ba
nhóm cơ bản sau: (1) nguyên nhân cá nhân; (2) nguyên nhân tâm lý và (3) khả năng ứng
phó đối với các tác nhân gây stress.
1.2.6. Khả năng và kỹ thuật ứng phó với stress
Các nhà tâm lý học chỉ ra có ba chiến lược ứng phó với stress thường gặp ở học sinh
là: nhận thức, hành vi và hỗ trợ xã hội.
Thứ nhất-chiến lược ứng phó nhận thức. Con người có thể ứng phó với những tác
nhân gây stress hoặc với cảm xúc của chính mình bằng cách giải quyết vấn đề, tự nói
chuyện (self-talk) và nhận thức lại vấn đề, từ đó tái cấu trúc nhận thức.
Thứ hai, chiến lược ứng phó hành vi. Chủ thể cũng cần phải ứng phó với stress
bằng hành vi. Các nhà nghiên cứu cho rằng có bốn loại hành vi ứng phó với stress sau:
tìm kiếm thông tin; hành động trực tiếp; kiềm chế hành động và hướng hành vi sang
người khác.
Thứ ba, hỗ trợ xã hội được dùng ở đây để nhấn mạnh bản chất tích cực và nhân văn
của chiến lược ứng phó này. Hỗ trợ tinh thần là khi chủ thể cảm nhận được người khác
yêu thương, đánh giá cao và tạo cơ hội để trao đổi, giao tiếp, chia sẻ. Hỗ trợ thông tin là
khi chủ thể được người khác cho biết ý nghĩa của những sự kiện gây stress, hoăc lời
khuyên về chiến lược ứng phó với stress.
1.3. Khái niệm học sinh tiểu học và những đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi
Học sinh tiểu học là trẻ ở độ tuổi từ 6 – 11 tuổi, đang theo học chương trình tiểu học
từ lớp 1 – lớp 5 tại các trường tiểu học trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Trẻ tiểu học có
những đặc điểm đặc trưng về mặt tâm lý như sau:
Ở lứa tuổi này, trẻ bắt đầu mở rộng mối quan hệ giao tiếp ra bên ngoài, thích làm
quen với bạn bè cùng lứa và nhiều người lớn khác.

2.2.1. Nhóm các phương pháp thu thập thông tin
2.2.1.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.2.1.2. Phương pháp chuyên gia
2.2.1.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2.2.1.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
2.2.1.5. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý
2.2.2. Phương pháp xử lý thông tin
2.2.2.1. Phương pháp thống kê toán học
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Stress của học sinh tiểu học trong quá trình học tập
3.1.1. Tỷ lệ mắc stress của học sinh tiểu học
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 204 học sinh được hỏi không có học sinh nào
mắc stress ở mức độ nặng, nhưng lại có đến 25.8% học sinh cả ở hai vùng nghiên cứu
mắc stress ở mức độ vừa, 74,2% số học sinh còn lại không bị mắc stress trong quá trình
học tập.
Comment [NK2]: Tách nội dung và mục đích ra
riêng như phần trên
Để làm rõ hơn tỷ lệ mắc stress của học sinh tiểu học, chúng tôi có sử dụng thêm trắc
nghiệm đánh giá lo âu của Zung để có những thông số tham chiếu. Kết quả đo của trắc
nghiệm cũng cho thấy một kết quả tương tự. Cụ thể, trong số 204 học sinh có 29% lo âu
ở mức độ vừa và nhẹ, 70,9% không có dấu hiệu của lo âu (xem đồ thị 1). Như vậy, kết
quả của trắc nghiệm và kết quả của bảng hỏi về tỷ lệ mắc stress của học sinh là tương đối
trùng khớp.
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ lo âu ở học sinh bậc tiểu học

Ở một khía cạnh khác, kết quả nghiên cứu cho thấy dường như có một mối liên
quan giữa kết quả học tập với tỷ lệ mắc stress của học sinh. Bảng 3 cho thấy học sinh có
kết quả học tập càng cao thì tỷ lệ mắc stress càng lớn. Cụ thể, trong số những học sinh có
kết quả học tập loại giỏi thì có đến 33% có dấu hiệu của stress trong khi đó ở nhóm học

30
71
33
134
78.9%
75.5%
66.0%
73.6%
Tổng
38
94
50
182
2%
27%
70.90%
Lo âu mức độ vừa
Lo âu mức độ nhẹ
Không lo âu

100.0%
100.0%
100.0%
100.0%

Để đạt thành tích cao trong học tập, bên cạnh tố chất và phương pháp học tập đúng,
học sinh cần phải nỗ lực, chăm chỉ làm nhiều bài tập so với yêu cầu của chương trình. Ở
nhiều gia đình, để con chuẩn bị tốt các kỳ thi tuyển chọn vào các trường chuyên lớp chọn
đã thúc em các em phải đi học thêm nhiều giờ trong tuần, đồng thời giảm bớt thời gian
nghỉ ngơi, giải trí của các em. Vì vậy, ở một số học sinh để duy trì lực học, các em phải

Nữ

c2. Địa điểm
diễn ra của
stress Trong các buổi học
tại nhà trường
1
1
2
4.2%
10.0%
5.9%
Mỗi khi có bài kiểm
tra

19
7
26
79.2%
70.0%
76.5%
Tại các buổi học tại
nhà


với cách ứng phó tích cực.
Bảng 3.7. Quan hệ giữa mức độ stress và cách ứng phó tích cực của học sinh Mức độ stress ở học sinh
Tổng

Có dấu hiệu
của stress
Không có dấu
hiệu của stress

Ứng phó một
cách tích cực
Thường xuyên

0
41
41
.0%
29.1%
21.6%
Thỉnh thoảng

25
63
88
51.0%
44.7%
46.3%

căng thẳng của học sinh trong quá trình học tập tại nhà trường và gia đình.
3.2. Những nhân tố liên quan đến mức độ stress ở học sinh tiểu học
Stress là một phản ứng của cơ thể để đáp lại những tác nhân gây đe dọa sự cân bằng
của cơ thể cả về mặt tâm lý và sinh lý. Vây đâu là nguyên nhân chính dẫn đến stress ở
học sinh tiểu học. Để làm rõ điều này, chúng tôi tập hợp các ý kiến trả lời của những học
sinh đang bị stress về những sự kiện mà các em gặp phải trong quá trình học tập, sinh
hoạt tại nhà trường, sau đó sử dụng phần mềm spss để lượng hóa các ý kiến và rồi thu
được kết quả như sau:
3.2.1. Áp lực trong học tập và stress ở học sinh
Khi xét từng yếu tố thuộc áp lực học tập có liên quan tới stress ở học sinh, kết quả
nghiên cứu mà chúng tôi thu được cho thấy có đến 32,7% học sinh cho rằng tình trạng
căng thẳng mà các em gặp phải là do phải học cả ngày lẫn tối mà không có thời gian để
nghỉ ngơi. Ngoài bài tập trong bài học, cô giáo còn yêu cầu làm thêm các bài tập nâng
cao là nguyên nhân mà 30,06% học sinh cho rằng chúng có ảnh hưởng đến trạng thái
căng thẳng mà các em đang đối mặt.
3.2.2. Phương pháp sư phạm của giáo viên
Kết quả chúng tôi thu được thông qua tổng hợp các ý kiến của học sinh cho thấy,
chỉ có 12,2% học sinh cho rằng phương pháp mà giáo viên đang áp dụng có liên quan đến
tình trạng căng thẳng, 42,9% cho rằng đúng 1 phần và 44,9% cho rằng không đúng.
Tuy nhiên, một con số đáng lưu ý đó là có đến 34,7% học sinh cho rằng cách mà
thầy cô chế diễu hay mắng mỏ các em khi có lỗi có liên quan nhiều đến trạng thái căng
thẳng mà các em đang có. Một hành vi khác của giáo viên cũng khiến cho một bộ phận
học sinh lo lắng đó là việc thầy cô ra những quyết định mang tính thiên vị (chiếm
22,4%)
3.2.3. Môi trường sư phạm nhà trường
Xét về từng yếu tố thuộc về môi trường học tập có ảnh hưởng đến trạng thái căng
thẳng của học sinh. Số liệu mà chúng tôi có được cho thấy có đến 57,1% học sinh cho
rằng lớp chật, đông người và ồn ào có liên quan đến việc căng thẳng của các em. Bên
cạnh đó 32,7% học sinh lại cho rẳng sự căng thẳng hiện có là do ở trường ít có hoạt động
vui chơi, giải trí…

Những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất ở những học sinh có stress đó là các em cảm thấy
khó chịu trong người (chiếm 29,4%); thường xuyên cảm thấy tim đập nhanh, hồi hộp
(27,5%); 19,6% cảm thấy mệt mỏi, không đủ sức để học tập, vui chơi…
3.3.3. Mối quan hệ của stress với sức khỏe tinh thần của học sinh tiểu học
Có 20% học sinh có dấu hiệu của stress cảm thấy tâm trạng và cảm xúc của mình
ngày càng trở nên tồi tệ (buồn nhiều hơn vui), 66% cảm thấy bình thường, không thay đổi
và chỉ có 14% cảm thấy tốt lên, trong khi đó, ở nhóm học sinh không mắc stress lại có
31% học sinh cảm thấy tốt lên, 63,4% cảm thấy bình thường và chỉ có 5,6% cảm thấy tồi
tệ đi.
Trong số những học sinh có dấu hiệu của stress, những dấu hiệu về tâm trạng và
cảm xúc thường gặp đó là cảm thấy tinh thần không yên ổn, luôn lo sợ một điều gì đó sẽ
đến gặp ở 37,3% học sinh; thường xuyên khó giữ được bình tĩnh gặp ở 29,4% học sinh;
cảm thấy luôn luôn buồn với 23,5%; thường xuyên có phản ứng quá đáng trước sự việc
nhỏ như có bạn trêu ghẹo, không chơi cùng với 27,5%; thường xuyên lo lắng cả với
những việc nhỏ nhặt với 31,4%
3.3.4. Ảnh hưởng của stress với mối quan hệ bạn bè
Có 12% học sinh có dấu hiệu của stress nhận thấy mối quan hệ của mình với bạn bè
ngày càng tồi tệ đi, 48% cảm thấy bình thường và 40% cảm thấy tốt lên, trong khi đó ở
nhóm học sinh không có stress, có đến 51,4% học sinh cảm thấy mối quan hệ bạn bè tốt
lên và chỉ có 4,9% là cảm thấy mối quan hệ này xấu đi.
3.3.5. Ảnh hưởng của stress với mối quan hệ với thầy cô giáo
Với nhóm học sinh có stress, 22% các em thấy mối quan hệ của mình với thầy cô
ngày càng tội tệ đi, 42% cảm thấy bình thường và 36% cảm thấy tốt lên, trong khi đó ở
nhóm không có stress, chỉ có 7% cảm thấy mối quan hệ ngày càng tồi tệ, 57% cảm thấy
bình thường và 35,9% cảm thấy tốt lên.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trên cơ sở những phân tích những thông tin thu được, chúng tôi đi đến một số kết
luận như sau:
Kết quả nghiên cứu cho thấy chưa phát hiện được những học sinh mắc stress mức

tiếng, quát nạt, đánh phạt
Trước các kỳ thi, nhà trường, giáo viên cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa hoặc
giảm thiểu các hoạt động học tập, ôn tập với cường độ cao.
Tăng cường sân chơi, giờ chơi, các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội để cần
bằng được những áp lực do quá trình học tập gây ra.
2.2. Đối với cha mẹ học sinh
Cha mẹ không nên vì kỳ vọng của bản thân mà gây áp lực học tập một cách thái quá
lên con em mình.
Giúp trẻ vạch ra thời khóa biểu và cân đối thời gian hợp lí
Ủng hộ và động viên trẻ kịp thời, biết thông cảm và chia sẻ với con .
Giảm bớt áp lực bài vở cho trẻ bằng cách cùng trẻ nghiên cứu và tìm ra phương
pháp cho các vấn đề trẻ vướng mắc.
Giảm việc nhà cho trẻ khi kỳ thi đến và nhắc nhở trẻ thư giãn trong quá trình học
tập cũng như trong ôn thi.
2.3. Đối với xã hội
Cần phải tổ chức các trung tâm, các phòng hỗ trợ tâm lý học đường để tư vấn, hỗ
trợ cho nhà trường trong việc giảm căng thẳng cho học sinh trong quá trình học. Giúp cha
mẹ có phương pháp giáo dục, chăm sóc sức khỏe và tình thần cho con một cách tốt nhất.
Giúp trẻ có nơi để chia sẻ, giải tỏa những áp lực mà các em gặp phải trong cuộc sống và
học tập.

References
1. Phạm Thanh Bình (2005), “Biểu hiện stress trong học tập môn toán của học
sinh trung học phổ thông Yên Mô – Ninh Bình” Kỷ yếu hội thảo đổi mới giảng dạy
nghiên cứu – giáo dục học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước, Đại học Sư phạm Hà Nội.
2. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Siêm (1991), Rối loạn trầm cảm, Bách khoa
thư bệnh học. Nhà xuất bản Y học. Tập 1.
3. Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Từ điển Tâm lý học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội.

quân sự, Cục quân y XB 16/4/1981.
18. Tô Nhƣ Khuê (1995), “Cảm xúc và căng thẳng cảm xúc trong lao động”, Tài liệu
huấn luyện về bảo vệ hộ lao động cho công nhân sửa chữa bảo dưỡng cột An ten
viba, HN, tr 28-45.
19. Tô Nhƣ Khuê (1997), Đại cương tâm sinh lý học lao động, và tâm lý học kỹ
thuật, NXB Khoa học kỹ thuật, HN.
20. Nguyễn Viết Lƣơng và cộng sự (2005), “Nghiên cứu đánh giá trạng thái stress
của nhân viên vận hành (NVVH) ngành Điện lực”, Báo cáo khoa học toàn văn
trong Hội thảo quốc tế Y học lao động và vệ sinh môi trường lần thứ II” Hà Nội.
21. Lại Thế Luyện (1999), “Biểu hiện stress của sinh viên trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh”. Kỷ yếu hội thảo khoa học, TH.HCM
22. Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dƣơng, Nguyễn Sinh Phúc (1998), “Tâm lý
học y học”, Nxb Y học, HN.
23. Nguyễn Thị Kim Quý (1997), “Stress đối với trẻ em 6 tuổi vào lớp một”, Kỷ
yếu hội nghị khoa học về những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và thiếu
niên, 6-7/11/1997 tại Hà Nội.
24. Phạm Ngọc Rao, Nguyễn Hữu Nghiêm, (1986), “Stress trong thời đại văn
minh”, NXB Đà Nẵng.
25. Mạc Văn Trang, (1997), “Sự căng thẳng của sinh viên trong học tập, đời sống
và giải pháp cải thiện tình hình”, Kỷ yếu hội thảo khoa học về những rối loạn có
liên quan đến stress ở trẻ em 6-7/11/1997 tại Hà Nội).
26. Nguyễn Minh Tiến, “Stress”, www.tamlytrilieu.com
TIẾNG ANH.
27. Albrecht. K, Stress and the manager, Making it work for you.
28. Cannon W.B (1932), The wisdom of the body, N.Y. Norton.
29. Frankenhaeuser M (1977), Job demands, health and wellbeing. Journal of
psycholomatic research, 21: 313.
30. Friedman M, and Rosenman (1974), Type A Behavior and your theart.
Greenwich: Fawett publication Inc.
31. Hindle T (1998), Reducing stress, Dorling Kindersley, London.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status