Địa tầng phân tập trầm tích oligocene miocene khu vực trung tâm bể nam côn sơn - Pdf 10


Địa tầng phân tập trầm tích oligocene-miocene
khu vực trung tâm bể Nam Côn Sơn Nguyễn Văn Kiểu Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS. ngành: Thạch học, Khoáng vật học và Địa hóa học
Mã số: 60 44 57
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Tùng
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Phân chia địa tầng phân tập và liên kết các tập (sequence) và các hệ thống
trầm tích của khu vực Trung tâm bể Nam Côn Sơn. Phân tích đặc điểm trầm tích và
môi trƣờng thành tạo trầm tích (tƣớng trầm tích) của từng tập trầm tích thuộc khu vực
Trung tâm bể Nam Côn Sơn đặt trong mối quan hệ với chu kỳ giao động mực nƣớc
biển. Luận giải sự biến đổi môi trƣờng trầm tích theo không gian và thời gian.

Keywords. Thạch học; Trầm tích; Địa tầng phân tập; Địa chất; Bể Nam Côn Sơn Content
MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phân chia địa tầng trầm tích bể Nam Côn Sơn từ trƣớc đến nay đã đƣợc nghiên cứu rất
chi tiết thông qua nhiều đề tài, dự án của các nhà thầu trong và ngoài nƣớc. Các kết quả phân
chia đã phần nào làm sáng tỏ đặc điểm địa tầng trầm tích tại đây dựa trên các phƣơng pháp

nƣớc biển.
- Luận giải sự biến đổi môi trƣờng trầm tích theo không gian và thời gian.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Các thành tạo trầm tích Oligocene -Miocene trũng phía Tây khu vực trung tâm bể Nam
Côn Sơn (Hình 1.1)
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 83 trang đánh máy, 9 ảnh minh họa, 1 biểu đồ và 21 hình minh họa,
45 tài liệu tham khảo với bố cục nhƣ sau:
Mở đầu
Chƣơng 1: Đặc điểm địa chất khu vực
Chƣơng 2: Lịch sử nghiên cứu, cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Địa tầng phân tập trầm tích Oligocene-Miocene khu vực nghiên cứu
Kết luận CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. VỊ TRÍ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Khu vực nghiên cứu của luận văn là nơi tiếp giáp của phần sƣờn đới nâng Côn Sơn và
phần phía Tây Nam thuộc địa phận trung tâm bể. Nếu phân theo đới cấu trúc, khu vực nghiên
cứu thuộc đới chuyển tiếp và nằm giữa hai phụ đới B1 và B2 theo hƣớng Bắc – Nam. Phạm vi
nghiên cứu đƣợc giới hạn trong khoảng 7.324
o
đến 8.125
o
vĩ độ Bắc và 107.841
o
đến 108.500
o


HỆ NEOGEN
Thống Miocene
a) Hệ tầng Dừa (N
1
1
d)
Hệ tầng đƣợc xác định và đặt tên dựa trên kết quả phân tích giếng khoan Dừa -1X ở độ
sâu từ 2.852m đến 3.680m, phân bố rộng khắp bể với chiều dày của hệ tầng thay đổi từ 200-
800m. Tuổi của hệ tầng Dừa đƣợc xác định dựa vào đới Foram N6-N8 (theo Martini, 1971).
Trầm tích của hệ tầng bao gồm chủ yếu là cát kết, bột kết màu xám sáng, xám lục xen kẽ với
sét kết màu xám, xám đỏ, xám xanh.
b) Hệ tầng Thông – Mãng Cầu (N
1
2
tmc)
Trầm tích của hệ tầng Thông – Mãng Cầu phân bố rộng khắp bể Nam Côn Sơn. Đặc
biệt, trầm tích của hệ tầng này phát triển mạnh về phía Bắc và phía Tây Nam của bể trong
khoảng độ sâu từ 2.170 đến 2.850m. Trầm tích chủ yếu là trầm tích lục nguyên chứa glauconit,
vôi, sét vôi và nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Dừa với bề dày thay đổi từ 400 đến 800m.
c) Hệ tầng Nam Côn Sơn (N
1
3
ncs)

Phân bố rộng rãi với tƣớng đá thay đổi mạnh ở các khu vực khác nhau với bề dày trầm
tích vào khoảng 200-600m, khoảng 302m tại giếng khoan Dừa -1X và nằm bất chỉnh hợp trên
hệ tầng Thông – Mãng Cầu. Ở rìa phía Bắc (lô 10, 11) và phía Tây – Tây Nam (lô 20, 21, 22,
28) đá của hệ tầng chủ yếu là trầm tích lục nguyên gồm: sét kết, sét vôi chứa nhiều hóa thạch
foraminifera màu lục đến xám xanh, gắn kết yếu cùng các lớp cát bột kết chứa vôi.
Thống Pliocene - Đệ Tứ

phía Tây và chủ yếu phân bố ở đới trũng trung tâm. Điển hình nhất là hệ thống đứt gãy nằm ở
phía Đông - Bắc của bể và khuôn theo đới nâng Côn Sơn. Phần lớn các đứt gãy này có mặt
trƣợt đổ về phía Đông Nam hƣớng về phần trũng Trung tâm bể.
Hệ thống đứt gãy Đông –Tây kém phát triển hơn so với các đứt gãy theo các phƣơng
trên, phân bố không tập trung, chiều dài của đứt gãy không lớn và bắt gặp ở phần phía Tây
thuộc phần trũng Trung tâm bể. Đứt gãy điển hình nhất theo phƣơng này bắt gặp ở lô 11.2.
Dọc theo hệ thống đứt gãy này, phát triển một trũng hẹp nằm giữa ranh giới của phụ đới B1 và
B2.
2. Phân vùng cấu trúc
Trên cơ sở phân loại đứt gãy, cơ chế hình thành và đặc điểm cấu trúc móng, có thể
phân chia các đơn vị cấu trúc trong bể Nam Côn Sơn thành ba đơn vị cấu trúc chính: Đới phân
dị phía Tây (C), đới phân dị chuyển tiếp (B) và phía Đông bể (A):
a) Đới phân dị phía Tây (C)
Đây là đới nằm ở phần phía Tây của bể và chiếm một nửa phía Tây các lô 18, 19, 20,
21, 22 và toàn bộ các lô 27, 28, 29. Cơ sở phân chia đới này là hệ đứt gãy Sông Đồng Nai
chạy dọc theo hƣớng Bắc Nam.
b) Phụ đới chuyển tiếp (B)

Đới này có ranh giới là hệ thống đứt gãy Sông Đồng Nai, ở phía Đông đƣợc giới hạn
bởi hệ đứt gãy Hồng - Tây Mãng Cầu và hệ thống đứt gãy khuôn theo đƣờng đẳng sâu móng
1.000m của đới nâng Côn Sơn với độ sâu 1.000 – 1.500m.
c) Đới trũng phía Đông (A)
Trũng phía Đông bao gồm phần diện tích rộng lớn ở Trung tâm và phần phía Đông bể
Nam Côn Sơn, với đặc tính kiến tạo sụt lún. Đứt gãy hoạt động theo nhiều pha khác nhau. Địa
hình móng phân dị mạnh với chiều sâu thay đổi từ 1.400m trên phụ đới nâng Mãng Cầu đến
hơn 10.000m ở trung tâm. Đới trũng phía Đông đƣợc phân chia làm 5 phụ đới.
1.3.2. Lịch sử phát triển địa chất.
1. Giai đoạn trước tách giãn (Pre- rift) Paleocene -Eocene.
Đây là giai đoạn san bằng kiến tạo không chỉ xảy ra riêng đối với bể Nam Côn Sơn mà
còn xảy ra trên toàn khu vực thềm lục địa Việt Nam. Trƣớc đó, các chuyển động kiến tạo

Dale. Các nhà thầu đã thu nổ hàng nghìn km địa chấn 2D.
2.1.2. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay.
Sau khi hai miền Nam Bắc đƣợc thống nhất, cả nƣớc bắt tay vào công cuộc củng cố và
xây dựng nền kinh tế nƣớc nhà. Hòa cùng không khí sôi động đó, tháng 11 năm 1975 Tổng
cục Dầu khí đã quyết định thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam nhằm đẩy mạnh quan hệ hợp
tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên toàn thềm lục địa Việt Nam với các nƣớc. Điển hình là
những năm 1975-1980 công ty Agip và Bow Valley đã ký hợp đồng khảo sát tỉ mỉ vào khoảng
14.859 km địa chấn 2D với mạng lƣới 2x2 km và tiến hành khoan 8 giếng: 04A-1X, 04B-1X,
12A-1X, 12B-1X, 12C-1X, 28A-1X và 29A-1X. Những năm 1981- 1987 đánh dấu bằng sự ra

đời của Xí nghiệp liên doanh Vietsopetro. Kết quả của hiệp định thăm dò dầu khí trên đã mở
ra một thời kỳ phát triển mới cho ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam.
Từ năm 1995 đến nay một loạt các Công ty và các nhà thầu trong và ngoài nƣớc đã thu
nổ tổng cộng trên 35.000km địa chấn 2D và trên 5.500km
2
địa chấn 3D và khoan hàng chục
giếng khoan, đồng thời đã phát hiện ra các mỏ khí có giá trị công nghiệp lớn: nhƣ mỏ Rồng
Đôi, Rồng Đôi Tây thuộc lô 11.2, Thiên Nga (lô 12), Lan Tây, Lan đỏ (lô 06-1), Mộc Tinh (lô
05-3), Hải Thạch (lô 05-2).
2.2. CƠ SỞ TÀI LIỆU
2.2.1. Tài liệu địa chất
Khu vực nghiên cứu theo tác giả thống kê có khoảng 43 giếng khoan đƣợc thực hiện từ
năm 1993 cho đến nay bao gồm cả giếng thăm dò, thẩm định và giếng khoan khai thác. Qua
đó, tác giả đã lựa chọn ra 4 giếng khoan để phân chia và liên kết địa tầng phân tập của các
thành tạo trầm tích Oligocene-Miocene thuộc hai cấu tạo nằm phía Bắc và Đông Nam thuộc
khu vực nghiên cứu của luận văn. Trên cơ sở phân tích tài liệu cũng nhƣ kế thừa các kết quả
phân tích cổ sinh và thạch học trầm tích của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Xí nghiệp liên
doanh Vietsopetro (VSP) tác giả muốn làm rõ hơn đặc điểm địa chất và môi trƣờng thành tạo
thông qua việc áp dụng mô hình địa tầng phân tập.
2.2.2. Tài liệu địa vật lý.

tích
2.3.4. Phƣơng pháp địa vật lý giếng khoan
Địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK) gồm tổ hợp những phƣơng pháp nghiên cứu tính
chất vật lý của đất đá cắt ngang qua giếng khoan bằng cách ghi sự biến đổi các thông số vật lý
của chúng ở những độ sâu khác nhau dọc theo chiều sâu giếng khoan. Đây là phƣơng pháp

đƣợc ứng dụng nhằm cung cấp các tài liệu một cách gián tiếp giúp phân chia các thể địa chất
khác nhau theo chiều sâu giếng khoan và xác định môi trƣờng thành tạo của các thể địa chất. CHƢƠNG 3
ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP TRẦM TÍCH OLIGOCENE - MIOCENE
KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. CƠ SỞ PHÂN CHIA VÀ LIÊN KẾT ĐỊA TẦNG
3.1.1. Phân chia địa tầng phân tập
Việc phân chia địa tầng phân tập đƣợc áp dụng theo mô hình của Embry và
Johannessen (1992) trên cơ sở phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan, tài liệu sinh địa tầng và
tài liệu thạch học:
 Tài liệu địa vật lý giếng khoan bao gồm: đƣờng cong đo độ phóng xạ tự nhiên (GR),
các đƣờng cong đo điện trở suất (SP, LLS, LLD), đƣờng cong mật độ (RHOB), đƣờng
kính giếng khoan và đƣờng cong siêu âm (DT)
 Tài liệu cổ sinh bao gồm kết quả phân chia chi tiết các đới Foram, đới bào tử phấn và
tảo nhằm xác định tuổi tƣơng đối của các ranh giới tập trầm tích và ranh giới bề mặt
ngập lụt của mỗi tập. Đồng thời qua đây cũng xác định đƣợc môi trƣờng thành tạo trầm
tích chứa các hóa thạch trên.
 Tài liệu thạch học giếng khoan với khoảng lấy mẫu cách nhau từ 4,5-7m đƣợc phân
tích nhằm làm rõ đặc điểm thạch học cũng nhƣ môi trƣờng.
3.1.2. Liên kết các đơn vị của địa tầng phân tập
Việc liên kết địa tầng giếng khoan hay liên kết các tập trầm tích, các hệ thống trầm tích

2
đƣợc phân chia thành hai hệ thống trầm tích khá rõ bởi nóc của lớp đá phiến sét
tƣơng ứng với bề mặt ngập lụt cực đại nằm ở độ sâu 3.449m (GK: A-3X). Thành phần trầm
tích có xu hƣớng thô dần lên phía trên và đặc trƣng bởi các vỉa cát và sét tƣơng đối dày. Hệ
thống trầm tích biển tiến (TST): thành phần trầm tích chủ yếu là cát kết subarkose hạt trung
(0,25-0,5mm) và cát kết sublitharenite hạt nhỏ đôi chỗ xen kẹp bột sét, sét vôi màu xám đặc
trƣng cho thời kỳ biển tiến bao phủ hầu hết các địa hào với bề dày trầm tích khoảng 398m
(GK: A-3X). Hệ thống trầm tích biển thoái (RST) thành phần đặc trƣng là cát kết hạt nhỏ, bột

kết, bột sét chứa các vẩy mica và phiến sét. Trong hệ thống trầm tích này bề dày các lớp cát
đạt đến hơn 30m.

GK: A-1X
GK: A-4X
GK: A-1X và A-2X
Hình 3.1: Liên kết tài liệu giếng khoan và tài liệu địa chấn cắt qua các giếng khoan
3.2.2. Vĩ tập Ms
II

1. Tập S
3

3
với đặc trƣng giá trị
GR cao (132.22 API) và giá trị điện trở đạt giá trị thấp (3,48 Ohmm) thuộc phần nóc lớp đá
phiến sét chứa than với bề dày thay đổi 7 – 22m đặc trƣng môi trƣờng đầm lầy-hồ.
Đƣờng cong ĐVLGK phía dƣới bề mặt ngập lụt cực đại thể hiện đặc điểm thạch học
có xu thế mịn dần nên tƣơng ứng với một chu kỳ biển tiến (GR tăng dần, LLD giảm dần) để
tạo nên hệ thống trầm tích biển tiến (TST) với thành phần trầm tích bao gồm nhiều lớp cát sét
xen kẽ các lớp đá vôi mỏng.
Phía trên bề mặt ngập lụt (MFS) của tập này có đặc trƣng đƣờng log lại có xu hƣớng
trái ngƣợc thể hiện thành phần trầm tích thô dần lên phía trên, bề dày vỉa cát lớn hơn nhiều,
đặc trƣng cho hệ thống trầm tích biển thoái (RST) với bề dày hệ thống trầm tích đạt khoảng
20m (GK: A-1X). Thành phần trầm tích đôi chỗ bắt gặp đá vôi và các vỉa mỏng sét than ở độ
sâu khoảng 3.093m (GK: A-3X).
2. Tập S
4

Tập trầm tích S
4
nằm phủ trên tập trầm tích trƣớc đó (S
3
) và đƣợc giới hạn bởi nóc tập
là bề mặt bất chỉnh hợp nằm phía trên lớp cát dày. Trên mặt cắt địa chấn đôi chỗ phát hiện
cấu tạo onlap trên mặt ranh giới này. Ranh giới này nằm giữa ranh giới thay đổi đột ngột giá
trị GR (từ 58,5-130,0 API). Kết quả đối sánh với tài liệu sinh địa tầng cho thấy nóc của tập
cát đƣợc hình thành muộn nhất cách đây khoảng 17,7 Ma. Ngoài ra, từ đặc trƣng đƣờng cong
địa vật lý giếng khoan ta cũng có thể rất dễ phân chia tập S
4
thành hai hệ thống trầm tích TST
và RST.
Hệ thống trầm tích biển tiến (TST) đƣợc thành tạo bởi hai nhịp trầm tích. Nhịp thứ

dolomite xen kẹp các lớp đá vôi chứa Foram: Miogypsinoides, Praeorbulina. Nhịp biển tiến ở
thời kỳ đầu có thời gian ngắn hơn với tốc độ dâng cao mực nƣớc biển chậm hơn so với thời
kỳ sau và đặc trƣng cho môi trƣờng biển, biển nông ven bờ. Cuối tập S
6
biển bắt đầu rút

nhanh tạo nên quá trình bào mòn các thành tạo trầm tích tƣớng ven bờ trƣớc đó để chuyển
sang các thành tạo đặc trƣng cho tƣớng đồng bằng châu thổ (GK:A-4X, GK:A-2X). Ảnh 3.1: Mẫu lõi giếng khoan GK: A-4X,
độ sâu 3731.50m. Trầm tích của châu thổ,
hồ (tập S
5
).
Ảnh 3.2: Mẫu lõi giếng khoan GK:
A-4X, độ sâu 3739.8m. Trầm tích
cát kết lấp đầy sông (tập S
5
).
3.2.3. Vĩ tập Ms
III

1. Tập S
7

Tập trầm tích S
7
đƣợc thành tạo trong khoảng thời gian 15,5-13,1Ma. Trong thời gian
này, quá trình biển tiến diễn ra nhanh hơn so với biển thoái. Điểm đặc trƣng dễ thấy nhất

8
đã xảy ra quá trình bào mòn các hệ thống trầm tích biển
thoái ứng với tuổi từ 12,8-12,1Ma ở 3 giếng A-1X, A-2X và A-3X và thậm chí là bào mòn
một phần hệ thống trầm tích trầm tích biển tiến (TST
1
). Sau giai đoạn bào mòn lại xuất hiện
một tập biển tiến nằm chỉnh hợp trên bề mặt bào mòn với tốc độ khá nhanh để tạo lên hệ

thống trầm tích biển tiến (TST
2
) báo hiệu một tập trầm tích mới tiếp theo đƣợc hình thành.
Nhƣng sau TST
2
không phát hiện một ranh giới bề mặt ngập lụt cực đại nào và cũng không
hình thành đƣợc một hệ thống trầm tích biển thoái nào trong 4 giếng khoan nghiên cứu mà
thay vào đó là bề mặt bất chỉnh hợp mang tính khu vực nằm ngay trên hệ thống trầm tích
TST
2
. Trên các mặt cắt địa chấn cắt qua giếng khoan, bề mặt ranh giới bất chỉnh hợp đƣợc
kết nối với những rãnh đào khoét tạo các canyon và các giếng khoan trên cắt qua đáy của
canyon. Điều này giải thích tại sao trên hệ thống trầm tích TST
2
không thấy xuất hiện hệ
thống trầm tích biển thoái theo đúng mô hình địa tầng phân tập của Embry and Johannessen
(1992) ở các giếng khoan mà chỉ bắt ngặp chúng trên các mặt cắt địa chấn với bề dày RST
2

chỉ bằng 1/3 bề dày của TST
2
(Biểu đồ 3.1). Vì thế tác giả coi thời kỳ 13,1-10,4Ma là một

10
đƣợc xác định nhờ vào việc liên kết ranh giới ĐVLGK của
các giếng khoan A-4X, A-2X và tài liệu địa chấn để chuẩn hóa chúng (Hình 3.6). Trên mặt
cắt địa chấn cắt qua giếng khoan ranh giới này trùng với bề mặt đào khoét của biển tiến (Hình
3.1). Ranh giới này phân chia tập thành hai hệ thống trầm tích RST và TST. Trên đƣờng cong
địa vật lý giếng khoan MFS
10
đƣợc đặc trƣng bởi cƣờng độ phóng xạ tự nhiên (GR) thấp và
điện trở suất cao.
Tập trầm tích S
10
bề dày khá mỏng, thành phần cát chiếm ƣu thế ở cả hai hệ thống
trầm tích. Trong đó các thành tạo trầm tích RST đặc trƣng cho môi trƣờng ven bờ còn TST
đặc trƣng cho môi trƣờng biển nhiều hơn. Ngoài ra trong hệ thống trầm tích bắt gặp khá phổ
biến các lớp cacbonat mỏng xen kẹp các lớp cát và sét môi trƣờng biển nông.
3. Tập S
11

Tập S
11
bề dày trầm tích trung bình đạt 365m (Biểu đồ 3.1). Ranh giới phân chia hai
hệ thống trầm tích (TST và RST) là bề mặt ngập lụt cực đại có tuổi khoảng 6,1Ma nằm trên
nóc tập sét ở độ sâu 1330m (GK: A-2X):
Hệ thống trầm tích biển tiến (TST): phần trên xuất hiện lớp đá vôi dày, xuống dƣới
lớp đá vôi mỏng dần xen bột sét. Trên đƣờng cong ĐVLGK thành phần đá vôi đƣợc nhận biết
nhờ sự thay đổi điện trở suất của phƣơng pháp đo sâu LLD thay đổi đột ngột 129.54 -
47.26Ohmm. Phần đáy là lớp cát dày khoảng 138m tƣơng ứng với cƣờng độ phóng xạ tự
nhiên GR thấp (41.18 API). Kết quả phân tích thạch học cho thấy trầm tích thuộc loại cát kết
arkose lithic: thạch anh (43-54%), feldspat kali (7-14%), plagiocla (0.5-2.1%), mica (0.5-


của các thực vật hóa than trong vùng đầm lầy.
Tập S
2

Theo tài liệu phân tích cổ sinh của Viện Dầu khí Việt Nam đã nhận định: trầm tích tập
S
2
tƣơng ứng với tuổi Oligocene muộn đƣợc thành tạo trong các môi trƣờng sông, hồ và đầm
lầy ven biển chứa phức hệ bào tử phấn hoa gồm các hóa thạch: Acrostichum sp, Stenochlaena
palustris, Baringtonia sp, Browlowia sp, Nypa sp, Zonocostites ramonae, v.v….
Kết quả phân tích các mẫu thạch học lấy đƣợc tại một số giếng khoan cho thấy: các
thành tạo trầm tích tập S
2
kích thƣớc hạt thô chiếm ƣu thế bao gồm cát kết và sạn kết môi
trƣờng aluvi. Các lớp trầm tích sét chứa nhiều vật chất hữu cơ thuộc môi trƣờng đầm hồ.
3.3.2. Môi trƣờng trầm tích Miocene
1. Vĩ tập MsII
Trầm tích Miocene sớm đƣợc thành tạo vào giai đoạn cuối cùng của hoạt động đồng
tách giãn (syn-rift). Trong giai đoạn này, biển đang có xu hƣớng tiến sâu vào phần phía Tây –
Tây Bắc khu vực nghiên cứu qua 4 chu kỳ dao động mực nƣớc biển ứng với các thành tạo hệ
thống trầm tích biển tiến trong các tập S
3
, S
4,
S
5
và S
6
.
Tập S

biển
thoái xuống rất nhanh đã tạo nên bề mặt bất chỉnh hợp ở phần Tây Bắc và phần phía Tây
Nam đới nâng Hồng. Xung quanh hai khu vực này, phát triển các tƣớng trầm tích đặc trƣng
cho môi trƣờng châu thổ và biển ven bờ. Sang đến các giếng khoan thuộc phần phía Đông,
môi trƣờng đặc trƣng bằng các thành tạo trầm tích cát sét biển/biển nông (Hình 3.2).
2. Vĩ tập MsIII
Tập S
7
Trong giai đoạn từ 15.5-13.1 Ma, biển đang có xu thế thoái mạnh dẫn đến đƣờng bờ
dịch chuyển gần về phía Đông khu vực nghiên cứu (Hình 3.2). Điển hình trong hệ thống trầm
tích biển thoái của tập này, bề dày trầm tích khá lớn thuộc các tƣớng châu thổ, các thành tạo
ven bờ bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan phần phía Bắc và Tây Bắc (Biểu đồ 3.1, Hình 3.2).
Sang giai đoạn biển tiến, tốc độ dâng cao mực nƣớc biển có xu hƣớng tăng theo thời gian.
Môi trƣờng trầm tích đƣợc thể hiện ở các giếng khoan nhƣ sau: môi trƣờng đồng bằng ven bờ
(GK: A-1X), môi trƣờng biển (GK: B1-X) và môi trƣờng biển nông (GK: A-3X).
Tập S
8
Cuối giai đoạn hình thành tập trầm tích S
8
biển rút xuống nhanh và đƣờng bờ dịch
chuyển ra xa (về phía Đông) để lộ ra các thành tạo đồng bằng châu thổ chiếm phần lớn diện
tích nghiên cứu (Hình 3.2). Môi trƣờng biển chỉ còn bắt gặp trong giếng khoan A-3X với diện
tích nhỏ hơn nhiều so với các giai đoạn trƣớc đó. Đồng thời trong giai đoạn này, trên đồng
bằng châu thổ phát triển nhiều hệ thống đào khoét của sông. Trên các mặt cắt địa chấn với
đặc trƣng trƣờng sóng ở đáy các lòng sông có biên độ phản xạ mạnh, độ liên tục kém đặc
trƣng cho các thành tạo trầm tích aluvi. Kết quả của quá trình biển thoái đã tạo lên các bề mặt
bất chỉnh hợp bắt gặp ở nhiều nơi thuộc khu vực nghiên cứu (Hình 3.2).
3. Vĩ tập Ms
IV


(trầm tích Miocene muộn). Ranh giới giữa các vĩ tập, tập và các bề mặt ngập lụt cực đại đƣợc
xác định dựa trên cơ sở các tài liệu: ĐVLGK, địa chấn và các tài liệu cổ sinh, thạch học của
các giếng khoan.
Các tập trầm tích thuộc vĩ tập Ms
II
và Ms
IV,
bề dày trầm tích của các hệ thống trầm
tích biển tiến khá dày phản ánh xu thế biển dâng trong một thời gian dài đã tạo nên đƣợc bề

dày trầm tích các tập lớn hơn so với các tập trầm tích biển thoái trong cùng một tập. Cuối giai
đoạn Miocene giữa
,
mực nƣớc biển có xu hƣớng giảm xuống và đƣờng bờ dịch chuyển dần về
phía Đông Nam khu vực nghiên cứu để lộ ra các thành tạo trầm tích đồng bằng châu thổ phân
bố rộng khắp khu vực nghiên cứu làm thu hẹp diện tích biển ven bờ, biển nông trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn.
Bề dày của các hệ thống trầm tích biển hạ (RST) trong các vĩ tập Ms
I
, Ms
II
dày gấp
đôi bề dày của các hệ thống trầm tích biển tiến (TST) trong cùng một tập. Điều này phần nào
đã minh chứng cho sự mở rộng trũng địa hào (trũng trung tâm khu vực nghiên cứu) tạo không
gian tích tụ trầm tích và nguồn cung cấp vật liệu khá dồi dào trong giai đoạn biển thoái thuộc
thời kỳ Oligocene và Miocene sớm. Nhƣng sang đến cuối vĩ tập Ms
III
và trong các tập thuộc
vĩ tập Ms
IV

cho môi trƣờng biển (vĩ tập Ms
IV
).
References
Tiếng Việt
1. Đặng Văn Bát, Đỗ Đình Loát, Mai Thanh Tân (1994), “Đặc điểm thạch học, thạch
hóa các đá phun trào Oligocen Việt Nam”, Tạp chí các Khoa học Trái đất 16/2, tr.
59-66.
2. Đặng Văn Bát, Chu Phƣơng Long, Nguyễn Khắc Đức, Cù Minh Hoàng, Nguyễn Thị
Anh Thơ, Trần Mỹ Bình (2009), “Địa hình chôn vùi Paleogen ở bồn trũng Nam
Côn Sơn và các bẫy phi kiến tạo liên quan”, Tạp chí Dầu khí, (số 3/2009), tr. 22-
26.
3. Đỗ Bạt (2001), “Địa tầng tổng hợp trầm tích Đệ tam thềm lục địa Tây Nam thềm lục
địa Việt Nam”, Hội nghị khoa học kỷ niệm 20 năm Vietsopetro và khai thác tấn
dầu thứ 100 triệu, Hà Nội.
4. Đỗ Bạt (2000), “Địa tầng và quá trình phát triển trầm tích Đệ Tam thềm lục địa Việt
Nam”, Hội nghị KHKT 2000 – ngành Dầu khí trước thềm thế kỷ 21, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Chiển, Trịnh Ích, Phan Trƣờng Thị (1973), Thạch học, Nhà xuất bản Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
6. Lê Văn Cự (1986), Lịch sử phát triển địa chất Kainozoi thềm lục địa Đông Nam Việt
Nam, Luận án Tiến sĩ Địa chất Khoáng sản, Thƣ viện QG, Hà Nội.

7. Hoàng Thế Dũng (2008), Báo cáo điều tra khảo sát tình trạng dữ liệu tài nguyên và
môi trường biển phục vụ cho cơ sở dữ liệu dầu khí, Trung tâm Công nghệ thông
tin Viễn thông và Tự động hóa Dầu khí, Hà Nội.
8. Võ Dƣơng (1982), “Địa tầng trầm tích Kainozoi ở vùng trũng Nam Côn Sơn”, Nội
san Dầu khí, (số 2/1982).

21. Nguyễn Trọng Tín và nnk (2004). Cấu trúc địa chất và tiềm năng dầu khí bể Nam
Côn Sơn, Đề tài cấp ngành, Viện Dầu Khí.
22. Nguyễn Trọng Tín và nnk (2005). Đánh giá tiềm năng và trữ lượng dầu khí bể trầm
tích Nam Côn Sơn trên cơ sở tài liệu đến 12/2003, Lƣu trữ VDK, Hà Nội
23. Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (2005), Địa chất và tài tài nguyên Dầu khí Việt Nam,
tr.313-355, Hà Nội
24. Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam– XN Liên Doanh Vietsopetro (2011), Báo cáo tổng kết
công tác tìm kiếm thăm dò đến thời điểm hiện tại và đánh giá triển vọng dầu khí lô
12/2-11 và 12/11 ở bồn Trũng Nam Côn sơn, Viện Dầu khí, Hà Nội.
Tiếng Anh
25. Catuneanu O. (2002), “Sequence stratigraphy of clastic systems: concepts, merits, and
pitfalls”, Journal of African Earth Sciences, (Vol 35/2002), pp.1–43.
26. Catuneanu O. (2006), Principles of sequence stratigraphy, Elsevier’s Science &
Technology Rights.

27. Catuneanu O., Abreu V., Bhattacharya J.P., Blum M.D., Dalrymple R.W. (2009),
“Towards the standardization of sequence stratigraphy”, Earth-Science Reviews,
(Vol 92/2009), pp. 1–33.
28. Embry A.F., Johannessen E.P. (1992), “T–R sequence stratigraphy, facies analysis
and reservoir distribution in the uppermost Triassic- Lower Jurassic succession,
western Sverdrup basin, Arctic Canada”, Vorren T.O., Bergsager E., Dahl-Stamnes
O.A., Holter E., Johansen B., Lie, E., Lund T.B. (edited), Arctic Geology and
Petroleum Potential, Norwegian Petroleum Society, (vol. 2), pp.121–146.
29. Jim Cole. (2011), “Biofacies and sequence stratigraphy, Oligocene to Pliocene, Cửu
Long and Nam Con Son basins, Vietnam”, An official Publication of The Vietnam
National Oil and Gas Group, (Vol 6/2011), pp. 3-14.
30. Kendall C.G.St.C. and Lerche. (1988), “The rise and fall of estuasry”, Wilgus C.K,
Hastings B.S, Kendall C.G.St.C, Posamentier H.W, Ross C.A and Van Wagoner
J.C (edited), Sea level change: an integrated approach, SEMP Special publication
42, pp.3-17.

42. Sukarno M., Taufik Rahman M. and Noon S.W. (2007), Biostratigraphy and
paleoenvironment of the interval 1000-3670m Dua-4X well Nam Con Sơn basins
block -12 offshore VietNam, Permier oil VietNam offshore BV, Vietnam.
43. Vail P.R., R.M. Mitchum Jr., Thomson. (1977), “Seismic stratigraphy and global
changes of sea level, part 4”, Payton C.E. (edited), Seismic stratigraphy –

applications to hydrocarbon exploration, AAPG Menoir 26, pp. 83-97.
44. Van Wagoner J.C., Posamentier H.W., Mitchum R.M., Vail P.R., Sarg, J.F., Loutit
T.S., Hardenbol J. (1988), “An overview of sequence stratigraphy and key
definitions”, Wilgus C.K., Hastings, B.S. Kendall C.G.St.C., Posamentier H.W.,
Ross, C.A., Van Wagoner, J.C. (editeds.), Sea Level Changes––An Integrated
Approach, SEPM Special Publication, (vol. 42), pp.39–45.
45. Van Wagoner J.C., Mitchum R.M., Campion K.M., Rahmanian V.D. (1990),
Siliciclastic sequence stratigraphy in well logs, cores and outcrops: Concepts for
high-resolution correlation of times and facies, AAPG methods in exploration (vol.
7), 55p.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status