Nghiên cứu căn nguyên vi khuẩn và nấm gây
viêm màng não tại bệnh viện Bạch Mai từ năm
2008 đến 2010
Khƣơng Thị Doanh
Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Sinh học
Luận văn Thạc sĩ ngành: Vi sinh vật học; Mã số: 60 42 40
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Đoàn Mai Phƣơng
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Xác định căn nguyên vi khuẩn và nấm gây viêm màng não. Mô tả đặc
điểm dịch tễ học của các tác nhân thƣờng gặp gây viêm màng não. Xác định mức độ
đề kháng với các kháng sinh của loài vi khuẩn thƣờng gặp.
Keywords. Vi sinh vật học; Sinh học; Vi khuẩn; Nấm; Bệnh viêm màng não
Content
Viêm màng não là tình trạng viêm nhiễm màng não. Bệnh có nguy cơ tử vong cao
hoặc để lại những di chứng nặng nề ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển tâm thần
kinh ở ngƣời lớn và trẻ em
Trên thế giới, khi không có các vụ dịch, khoảng một triệu trƣờng hợp viêm màng não
do vi khuẩn và khoảng 200.000 ngƣời chết hàng năm.
Ở nƣớc ta, theo thống kê của Viện Vệ sinh dịch tễ TW, tỷ lệ mắc/chết năm 1994 là
3,15 và 0,09/100.000 ngƣời dân mắc bệnh dịch này
Căn nguyên gây viêm màng não rất đa dạng, có thể do vi khuẩn, virus, vi nấm hoặc
ký sinh trùng… Định hƣớng sơ bộ cũng nhƣ xác định chính xác căn nguyên gây viêm màng
não rất cấp thiết và quan trọng giúp bs lâm sàng đƣa phác đồ điều trị tiến hành điều trị cho bn
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Vi sinh - Bệnh viện Bạch Mai
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/01/2008 đến 31/12/2010
2.4 Vật liệu nghiên cứu
Môi trƣờng nuôi cấy, phân lập vi khuẩn và nấm gây bệnh
Vật liệu – trang thiết bị định danh
+ Máy định danh tự động Phoenix
+ Các bộ tính chất sinh vật hóa học API
+ Vật liệu làm kháng sinh đồ
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Quy trình tiến hành: xét nghiệm các trƣờng hợp có chỉ định nuôi cấy của bệnh nhân
vào điều trị tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian nghiên cứu
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nhuộm soi
KQ nhuộm soi phát hiện vi khuẩn và nấm gây bệnh là 95 trƣờng hợp. Trong đó nhóm
cầu khuẩn Gram dƣơng chiếm tỷ lệ 74,6%, nhóm trực khuẩn Gram âm chiếm 13,7% và nấm
chiếm 11,6%.
Kỹ thuật nhuộm soi phát hiện hình thể VK và nấm có ý nghĩa thực tiễn. Đây là khâu
quan trọng và cần thiết cấp bách. Khi đứng trƣớc bệnh nhân nghi ngờ viêm màng não, việc
chọc hút dịch não tủy của bệnh nhân để quan sát màu sắc, xét nghiệm sinh hóa và tế bào học
phải tiến hành ngay kỹ thuật nhuộm Gram. Khi đã phát hiện hình thể vi khuẩn trong dịch não
tủy của bệnh nhân có thể căn cứ vào lứa tuổi và một số yếu tố yếu tố dịch tễ khác cần lựa
chọn kháng sinh hợp lý và tiến hành điều trị kịp thời cho bệnh nhân. Đây là phƣơng pháp đơn
giản, nhanh, ít tốn kém [2]. Hơn nữa, kết quả thƣờng đƣợc thông báo sau khi gửi bệnh phẩm
khoảng 30 phút đến 1h. Do vậy, kết quả dƣơng tính càng quan trọng và có ý nghĩa.
Kết quả nhuộm soi ban đầu của chúng tôi cho thấy, nhóm căn nguyên vi khuẩn Gram
dƣơng chiếm tỷ lệ 74,6%. Nhóm vi khuẩn này chiếm ƣu thế hơn hẳn so với hai nhóm căn
nguyên vi khuẩn Gram âm và nấm. Dựa trên kết quả nhuộm soi sơ bộ này cho phép dự báo
phẩm dịch não tủy đục đƣợc gửi tới nuôi cấy thì dƣơng tính một trƣờng hợp. Tỷ lệ dƣơng tính
tới 52,5% rất cao so với 6,2% dƣơng tính trong thời gian nghiên cứu 3 năm. Rõ ràng sự chỉ
định rộng rãi từ bác sỹ lâm sàng rất ảnh hƣởng đến kết quả nuôi cấy dƣơng tính cũng nhƣ tổn
thất về mặt kinh tế cho bệnh nhân.
Từ 128 bệnh phẩm dịch não tủy lẫn máu chúng tôi cũng phân lập đƣợc 3 chủng vi
khuẩn chiếm tỷ lệ 2,3%. Kết quả dƣơng tính này có thể do viêm màng não mủ có xuất huyết
màng não hoặc có thể do lỗi kỹ thuật khi chọc dò dịch não tủy [16] hoặc dịch não tủy lờ đục
nhƣng lẫn máu nên chúng tôi không quan sát rõ đƣợc màu sắc chính xác đƣợc độ đục của
bệnh phẩm
Đối với dịch não tủy màu vàng chanh, chúng tôi không phân lập đƣợc chủng vi khuẩn
nào. Có thể hiện tại chúng tôi chƣa triển khai đƣợc kỹ thuật cấy tìm vi khuẩn lao tại phòng
xét nghiệm.
Chúng tôi cũng phân lập đƣợc 29 chủng vi khuẩn và nấm từ bệnh phẩm dịch não tủy
trong. Kết qủa này, có thể bệnh đang ở giai đoạn sớm hoặc màu sắc đục nhẹ nên không quan
sát chính xác đƣợc hoặc do bệnh nhân đã dùng kháng sinh phủ đầu, lƣợng vi khuẩn giảm
trong dịch não tủy. Đối với bệnh phẩm này thƣờng đƣợc nghĩ đến căn nguyên virus do vậy tỷ
lệ dƣơng tính rất thấp, chỉ chiếm 1,1%
3.4 Kết quả phân lập theo nhóm vi khuẩn gây bệnh
Trong số 163 chủng vi khuẩn phân lập đƣợc trong thời gian nghiên cứu 3 năm, có
130 chủng vi khuẩn Gram dƣơng, chiếm tỷ lệ 79,8% so với 20,2% nhóm vi khuẩn Gram âm.
Đối với các nhiễm trùng khác nhƣ viêm phổi, viêm đƣờng tiết niệu hay nhiễm khuẩn
huyết căn nguyên chủ yếu là nhóm trực khuẩn Gram âm. Tuy nhiên đối với viêm màng não,
nhóm gây bệnh chiếm ƣu thế là nhóm cầu khuẩn Gram dƣơng.
Lý giải căn nguyên khác nhau ở các vị trí nhiễm trùng khác nhau trên, do thời gian
gần đây, tỷ lệ đề kháng kháng sinh của các chủng Gram dƣơng đã tăng nhanh dẫn đến sự
chọn lọc gây bệnh của chúng
3.5 Kết quả phân lập VK Gram dương
Trong 130 chủng vi khuẩn Gram dƣơng phân lập đƣợc trong thời gian nghiên cứu,
đặc biệt lƣu ý căn nguyên Streptococcus suis 85 chủng (chiếm 65,4%). Đây là căn nguyên
gây dịch liên cầu lợn đáng báo động hiện nay. Một trong những di chứng đặc biệt mà S. suis
Theo khuyến cáo của CLSI, các kháng sinh điều trị liên cầu nhóm viridians bao gồm:
Penicillin, cephem (bao gồm cephalosporin thế hệ 1, 2, 3, và 4), carbapenem, macrolide,
glycopeptides, tetracyclines, phenicol, oxazolidinones (linezolid)…Trong đó penicillin đƣợc
xếp vào nhóm A, là những kháng sinh ƣu tiên hàng đầu luôn cần đƣợc thử nghiệm và báo cáo
kết quả [38]
Penicillin thấm tốt vào màng não.Tuy nhiên, không thể đo đƣợc nồng độ ức chế tối
thiểu của penicillin với nhóm Streptococcus spp bằng phƣơng pháp khoanh giấy khuếch tán.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đo nồng độ ức chế tối thiểu của penicillin G bằng
phƣơng pháp E-test
Trong 40 chủng thử nghiệm có 38 chủng kháng trung gian với ở nồng 0,23 µg/ml, 2
chủng kháng trung gian ở nồng độ MIC 0,32 µg/ml. Nhƣ vậy, 100% các chủng S. suis hoàn
toàn kháng trung gian với penicillin.
Penicillin G là loại kháng sinh có độ an toàn cao (tính độc thấp), giá thành rẻ. Điều trị
thành công những KS cổ điển sẽ làm giảm sự đề kháng KS của VK. Nhƣ vậy, theo thời gian
tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày càng tăng. trong khi đây vẫn đƣợc coi là chủng
mới xuất hiện ở nƣớc ta
Ngoài penicillin, ceftriaxone cũng đƣợc lựa chọn để điều trị viêm màng não do S.
suis [48], [67]. Đây là một cephalosporin thế hệ 3, có độ khuếch tán tốt, thuộc kháng sinh
nhóm B có thể đƣợc lựa chọn để bổ sung trong trƣờng hợp bệnh nhân không dung nạp thuốc,
không đáp ứng với kháng sinh nhóm A và đƣợc chỉ định trong các trƣờng hợp nhiễm khuẩn
nặng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, chủng S. suis đề kháng tƣơng
đối cao với ceftriaxone tới 40%, chỉ có 29,3% chủng còn nhạy cảm
Erythromycin là kháng sinh đƣợc chỉ định thay thế khi bệnh nhân bị dị ứng với
kháng sinh nhóm β-lactam. Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận S. suis đã đề kháng với
erythromycin tới 38,2%[38], [39].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng 97.1% kháng tetracycline.
Cloramphenicol cũng là kháng sinh thấm tốt qua màng não, là thế hệ kháng sinh ra
đời sau nhƣng trong nghiên cứu của chúng tôi, S. suis đã đề kháng với tỷ lệ 28%. Với
vancomycin và linezolid vẫn còn là các kháng sinh còn có tác dụng tốt, nhạy cảm 100%. Tuy
nhiên phải rất cân nhắc khi dùng vancomycin. Đôi khi đây là loại kháng sinh duy nhất để
KIẾN NGHỊ
Dựa vào kết quả nghiên cứu đã tiến hành tại bệnh viện Bạch Mai, chúng tôi xin đề
xuất một số kiến nghị sau:
1. Tiếp tục nghiên cứu sự phân bố các vi khuẩn hiếu khí và nấm; triển khai nghiên
cứu về vai trò của vi khuẩn kỵ khí gây viêm màng não tại bệnh viện
2. Tiếp tục nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học các tác nhân thƣờng gặp
3. Hằng năm, thông báo tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây viêm màng
não tới bác sỹ lâm sàng trong toàn bệnh viện
4. Triển khai kỹ thuật kháng sinh đồ nấm các chủng nấm gây viêm màng não tại
bệnh viện Bạch Mai