Nghiên cứu nâng cao khả năng sinh tổng hợp
vancomyxin của xạ khuẩn Streptomyces
orientalis
Chu Thanh Bình
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Vi sinh vật học; Mã số: 60 42 40
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Phương Nhuệ
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trình bày Chất kháng sinh vancomyxin; Streptomyces orientalis và các yếu
tố ảnh hưởng đến sinh tổng hợp vancomyxin; nghiên cứu duy trì và nâng cao hiệu suất
chủng giống sản xuất vancomyxin; tình hình nghiên cứu và sản xuất vancomyxin. Vật
liệu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu: Bảo quản giống; Xác định đặc điểm sinh
học; Xác định sinh khối; Xác định hoạt tính kháng sinh, … Nghiên cứu đặc điểm sinh
học của chủng Streptomyces orientalis 4912; khả năng sinh tổng hợp kháng sinh của
chủng S. orientalis 4912; nâng cao hoạt tính kháng sinh của chủng S. orientalis 4912;
một số đặc điểm sinh học của biến chủng Streptomyces orientalis 4912- 81- 61; tối ưu
hóa quy trình lên men biến chủng S. orientalis 4912-81-61.
Keywords: Vi sinh vật học; Xạ khuẩn; Tổng hợp vancomyxin; Chất kháng sinh
Content
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CHẤT KHÁNG SINH VANCOMYXIN
1.1.1. Lịch sử phát triển kháng sinh vancomyxin
Vancomyxin là CKS tiêu biểu nhất trong nhóm KS glycopeptit, được Eli Lilly và cộng sự mô
tả lần đầu tiên vào năm 1956, do xạ khuẩn S. orientalis phân lập từ đất ở Indonexia và Ấn Độ
các trung tâm còn lại nằm tại các nhóm cacbonhydrat [58]. Cấu trúc hóa học lập thể quyết
định cơ chế hoạt động của vancomyxin. Vancomyxin có một chuỗi hexapeptit đã glycozyl
hóa, chứa 7 aminoaxit gồm các loại như chloro-β-hydroxytyrozin, p-hydroxylphenylglyxin,
N-metylleuxin và axit aspartic tạo thành bộ khung phân tử vững chắc [13], [43], [53], [64].
1.1.3. Cơ chế kháng khuẩn của vancomyxin
Vancomyxin và các kháng sinh nhóm glycopeptit có hoạt tính kháng vi sinh vật thông
qua việc ức chế sự tổng hợp thành tế bào. Vị trí mà các tác nhân tấn công vào thành tế bào là
lớp peptidoglycan. Đây là lớp cơ bản để vi khuẩn chống lại các điều kiện bất lợi của môi
trường. Nếu không có lớp này hoặc vì một lý do nào đó mà lớp peptidoglycan bị phá hủy thì
tế bào vi khuẩn trở nên cứng nhắc, không linh động, kết qủa tế bào bị chết [33]. Vancomyxin
ức chế giai đoạn cuối của quá trình sinh tổng hợp peptidoglycan qua 3 giai đoạn [58]:
- Giai đoạn 1: Vancomyxin không xâm nhập vào tế bào chất để ức chế các bước sinh
tổng hợp thành tế bào tiếp theo mà chỉ hoạt động ở bên ngoài màng tế bào chất. Sự ức chế các
chất màng trên đã ngăn cản chu trình lặp lại các chất mang C55 lipit làm gia tăng sự tích lũy
tiền chất của tế bào chất. Đây là một cơ chế không thường xuyên xảy ra đối với một tác nhân
kháng vi sinh vật bao gồm việc sử dụng cơ chất thay vì điều khiển hoạt tính của enzyme sinh
tổng hợp.
- Giai đoạn 2: Nhờ cấu tạo hình xoắn của phân tử mà gần đây người ta đã phát hiện ra
khả năng kháng vi sinh vật của vancomyxin tác động ngược lại với sự mẫn cảm penixilin. Ở
màng ngoài tế bào vi khuẩn, enzyme transglycosylaza bổ sung các mảnh disacaryl pentapeptit
để hình thành lớp peptidoglycan của tế bào. Sau đó, enzyme transpeptidaza nối các peptit ở
bên trong với các sợi của lớp peptidoglycan ở bên ngoài bề mặt của màng tế bào. Đích tác
dụng của vancomyxin là gắn với các peptit cơ chất, ngăn cản chúng liên kết với vị trí hoạt
3
động của enzyme. Khi đó, phân tử vancomyxin có dạng hình chiếc cốc liên kết với ái lực cao
nhờ bề mặt lõm của nó tạo năm liên kết hydro với đoạn cuối N-acyl-D-Alanyl-D-Alanin của
cầu liên kết chéo peptit chưa nối với pentapeptit.
- Giai đoạn 3: Liên kết của vancomyxin với chuỗi lipit-PP-Glc NAC- pentapeptit là
liên kết vật lý tương đối bền vững đã ngăn cản tác động tiếp theo của
4
vancomyxin. Dưới tác dụng của vancomyxin tính bền vững vốn có của các cầu khuẩn Gram
(+) đối với penixilin không phát hiện thấy [58]. Mặc dù có nhiều CKS chữa trị các bệnh do vi
khuẩn Gram (+) gây ra đã được công bố trong những năm gần đây, nhưng vancomyxin vẫn là
kháng sinh không thể thay thế trong việc chữa trị những bệnh do Staphyloccus, Enterococcus
và các chủng vi sinh vật kháng nhiều loại kháng sinh thông dụng gây nên [5], [30].
1.2. Streptomyces orientalis VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI SINH TỔNG HỢP
VANCOMYXIN
1.2.1. Streptomyces orientalis
Streptomyces orientalis có khả năng sinh CKS vancomyxin. Lúc đầu, khi mới phát
hiện, xạ khuẩn này có tên là Amycolatopsis orientalis, được xếp vào chi Nocardia, sau đó loài
này được phân loại lại và xếp vào chi Streptomyces, đặt tên là S. orientalis, tuy nhiên, nhiều
tài liệu vẫn gọi tên truyền thống là Amycolatopsis orientalis. Cho đến nay, vẫn chỉ phát hiện
thấy kháng sinh vancomyxin từ loài xạ khuẩn này [23], [26], [31], [35], [51]. S. orientalis
được phân biệt với các loài khác thuộc chi Streptomyces bởi các đặc điểm nuôi cấy, hình thái,
sinh lý, sinh hóa… [23].
1.2.2. Sinh tổng hợp vancomyxin ở xạ khuẩn
Cũng giống như con đường sinh tổng hợp KS nhóm glycopeptit, vancomyxin được
tổng hợp bằng cách ngưng tụ các đơn vị nhỏ mà mỗi đơn vị này lại được tạo thành từ các con
đường sinh tổng hợp riêng (Hình 1.3).
5
Hình 1.3. Quá trình tổng hợp vancomyxin trong tế bào xạ khuẩn [71]
1.2.3. Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vancomyxin
1.2.3.1. Điều kiện nuôi cấy
Theo các tài liệu đã công bố [30], [33], [41], [42], [44], [59], xạ khuẩn S. orientalis sử
dụng trong sản xuất vancomyxin thường phát triển tốt ở nhiệt độ 20-35
o
C, nhiệt độ tối ưu cho
quá trình sinh vancomyxin là 28
ra vancomyxin được coi như cứu cánh cho nhân loại, do có đặc tính chữa bệnh rất cao, phần
nào khắc phục được hiện tượng kháng thuốc của vi sinh vật gây bệnh [58]. Vancomyxin được
đưa vào thử nghiệm chữa bệnh từ năm 1958, và Bộ Y tế Mỹ cho phép sử dụng năm 1964
[71], [72]. Dạng vancomyxin thương phẩm được đóng 500 mg vancomyxin.HCl/lọ, tương
đương 0,34 mmol. VANCOCIN. HCl (Vancomyxin dạng tiêm, USP) của hãng Galaxy được
đóng trong lọ plastic (PL 2040) chỉ sử dụng tiêm tĩnh mạch, làm giảm sự phát triển của vi
khuẩn kháng kháng sinh, bảo vệ hiệu lực của vancomyxin và các thuốc kháng khuẩn khác.
Vancomyxin chỉ nên dùng để chữa hoặc chống nhiễm trùng do vi khuẩn nghi ngờ đã nhờn
thuốc gây nên. Khi dùng vancomyxin trong thời gian dài hoặc quá liều có thể bị giảm thính
giác, gây điếc, tổn thương thận. Ngoài ra vancomyxin chỉ có tác dụng khi tiêm qua đường tĩnh
mạch và không được hấp thụ qua đường tiêu hóa [21], [22]. Vancoxyn, VancoxynD,
VancoxynD IV, “Vancomycin by Abbott | VANCOCIN HCL | VANCOCIN HCL IN” (tên
thương phẩm của vancomyxin) đang được bán trên thị trường thế giới với giá 18,25 USD/ 500
mg vancomyxin dùng để tiêm [72]. Hiện nay, vancomyxin vẫn đang được nghiên cứu hoàn
thiện sản xuất, tăng độ tinh khiết và giảm độ độc của nó [5], [30], [33].
7
dài, giữ giống trong glyxerin ở -20
o
C hoặc -70 đến -80
o
C [2].
8
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CHỦNG Streptomyces orientalis 4912
3.1.1. Đặc điểm nuôi cấy
Chủng S. orientalis 4912 được nuôi trên các môi trường (MT) thạch có thành phần dinh
dưỡng khác nhau. Đây là các MT nuôi cấy đặc trưng để phân loại các chủng xạ khuẩn. Đặc
điểm nuôi cấy của chủng S. orientalis 4912 trên các MT được trình bày ở bảng 3.1. Kết quả
gian xử lý với lysozym, nồng độ glyxin trong MT nuôi cấy. Cần xác định giá trị các yếu tố
này để thu được kết quả tốt nhất.
3.3.3.1. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy tới khả năng hình thành tế bào trần của chủng S.
orientalis 4912
Thời gian nuôi cấy giống có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành tế bào trần.
Kiểm tra sự tạo thành tế bào trần của chủng S. orientalis 4912 tại các thời điểm sinh trưởng
khác nhau 24, 36, 48, 60 và 72 giờ. Sau 60 phút xử lý sinh khối với lysozym (1 mg/ml), làm
tiêu bản soi kính hiển vi thấy các khuẩn ty bị cắt nhỏ và hình thành tế bào trần. Sử dụng
buồng đếm hồng cầu, đếm số lượng TBT tạo thành, kết quả thể hiện trên hình 3.6 cho thấy,
quá trình tạo tế bào trần từ khuẩn ty ở 48 giờ nuôi cấy diễn ra khá nhanh và có hiệu quả nhất.
3.3.3.2. Ảnh hưởng của thời gian xử lý lysozym tới khả năng hình thành tế bào trần của
chủng S. orientalis 4912
Giống nuôi 48 giờ, sau đó xử lý bằng lysozym với nồng độ 1 mg/ml từ 30 đến 120 phút.
Trong quá trình thí nghiệm, làm tiêu bản soi kính hiển vi thấy sau 30 phút các đoạn khuẩn ty
bị cắt, tế bào trần cũng được tạo thành, sau 60 phút lượng tế bào trần tạo thành rất nhiều, sau
90 phút số lượng tế bào trần ít đi, có thể một số tế bào trần đã bắt đầu bị phá hủy. Kết quả trên
cho thấy khả năng tạo tế bào trần và khả năng bền vững của tế bào trần phụ thuộc nhiều vào
thời gian xử lý lysozym. Tại thời điểm trước 60 phút lượng tế bào trần tạo ra là chưa đáng kể,
sau 90 phút thì các tế bào trần tạo ra bắt đầu bị phá huỷ, do đó thời gian xử lý thích hợp nhất
là từ 60-70 phút, lượng tế bào trần tạo ra nhiều nhất và ổn định nhất. Nếu kéo dài thời gian xử
10
lý hơn nữa, lysozym sẽ phá hủy các TBT vừa tạo thành. Làm tiêu bản soi kính hiển vi, dùng
buồng đếm hồng cầu đếm số lượng TBT tạo thành, kết quả được thể hiện ở hình 3.7.
3.3.3.3. Ảnh hưởng của nồng độ lysozym tới khả năng hình thành tế bào trần của
chủng S. orientalis 4912
Giống nuôi 48 giờ, sau đó xử lý lysozym với nồng độ từ 0,5 đến 4 mg/ml trong 60 phút.
Kết thúc thí nghiệm, làm tiêu bản soi kính hiển vi và đếm số lượng TBT. Kết quả trên bảng
3.3 cho thấy, khả năng tạo tế bào trần và khả năng bền vững của tế bào trần tốt nhất khi xử lý
với lysozym ở nồng độ 1 mg/ml. Tại nồng độ 0,5 mg/ml, do ít enzym nên lượng tế bào trần
11
0,03%; bào tử là 4,22 và 0,1%. Thời gian chiếu là 70 giây số cá thể sống không tồn tại. Rõ
ràng khả năng tác động của tia UV lên tế bào trần của chủng 4912 mạnh hơn lên bào tử. Điều
này phù hợp với quy luật tự nhiên.
3.4. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BIẾN CHỦNG Streptomyces orientalis
4912-81-61
Chủng 61 có khả năng ức chế các vi sinh vật kiểm định như Bacillus subtilis ATCC 6633, B.
cereus ATCC 21778, Sarcina lutea M5 và Staphylococcus aureus 209P và Escherichia coli
PA2, nhưng ở mức độ mạnh hơn so với chủng 4912 do có HTKS cao hơn chủng gốc. Giống
như chủng 4912, chủng 61 cũng sử dụng tốt các nguồn đường thông dụng như glucoza,
sacaroza, fructoza, lactoza, maltoza… Ngoài ra chủng 61 còn có khả năng sinh ra các enzym
thủy phân tinh bột, cazein, gelatin, pepton hóa sữa nên sẽ thuận lợi cho việc lựa chọn các
nguồn dinh dưỡng khi lên men sản xuất vancomyxin trong điều kiện Việt Nam.
Bảng 3.10. Một số đặc điểm sinh học của biến chủng S. orientalis 4912-81-61
Các chỉ tiêu
Chủng 61
Chủng 4912
Khuẩn lạc trên MT 48
Tròn, đường kính 6-8mm,
không xẻ thùy, bề mặt
khô, có mấu lồi ở trung
tâm
Tròn, bề mặt xù xì, khô và nhăn
nheo tạo thành các nếp gấp, có
mấu lồi ở trung tâm, có các vết
nứt màu nâu nhạt, đường kính
3-5mm
KTKS
Màu trắng, dạng sợi mảnh
Không
Không
Nhiệt độ tối ưu cho sinh
trưởng (
o
C)
28 - 30
28 - 30
pH tối ưu cho sinh trưởng
6 - 8
6 - 8
Khả năng chịu muối (%)
< 6
< 6 12
3.5. TỐI ƢU HÓA QUY TRÌNH LÊN MEN BIẾN CHỦNG Streptomyces orientalis
4912- 81- 61
Các bước tiến hành như đối với chủng S. orientalis 4912 gốc. Kết quả nhận được như
sau:
3.5.1. Lựa chọn môi trƣờng nhân giống
Nuôi chủng 61 trên một số MT như đã thí nghiệm với chủng 4912: Gauze 1; A-4; A-
4H; TH
4
-47; A-12; A-9 và 48 trong bình tam giác 500 ml trên máy lắc tốc độ 220 vòng/phút,
kéo dài 120 giờ, ở 28
o
C, thể tích MT là 75 ml. Kết quả trên bảng 3.25 cho thấy, chủng 61
cũng phát triển tốt nhất trên MT 48, sinh khối khô đạt 6,0 mg/ml. Thành phần MT 48 đơn
mạnh và tiêu thụ đường với tốc độ nhanh chóng. Như vậy 120 giờ là thời điểm thích hợp để
thu hồi CKS, nếu kéo dài thêm thì HTKS của chủng bị giảm xuống.
KẾT LUẬN
1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn S. orientalis 4912 cho thấy,
chủng này có khả năng sử dụng nhiều nguồn đường; sinh trưởng tốt nhất trong khoảng nhiệt
độ 28-30
o
C và pH 6-9; có khả năng chịu NaCl đến 6% và không sinh xenlulaza. Chủng 4912
có hoạt phổ kháng khuẩn rộng và mạnh, ức chế được cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm.
2. Bằng phương pháp gây đột biến tế bào trần từ chủng S. orientalis 4912 dùng N-
metyl-N
‟
-nitro-N-nitrosoguanidin, đã chọn lọc được biến chủng ký hiệu S. orientalis 4912-81-
61 có hoạt tính kháng sinh cao nhất, cao hơn chủng gốc 94,3 %.
3. Môi trường lên men biến chủng S. orientalis 4912-81-61 sản xuất vancomyxin đã
được tối ưu hóa với thành phần như sau (g/l): đường kính 51,8; glucoza 17; bột đậu tương
30,6; NaCl 2,5; CaCO
3
2; CaCl
2
.2H
2
7. Anupama M., Narayana K. J. P., Vijayalakshmi M. (2007), “Screening of Streptomyces
purpeofuscus for antimicrobial metabolites”, Research Journal of Microbiology
2(12), pp. 992-994.
8. Atta H. M., Dabour S. M., Desoukey S. G. (2009), “Sparsomycin antibiotic production by
Streptomyces Sp. AZ-NIOFD1: Taxonomy, fermentation, purification and biological
activities”, American-Eurasian Journal Agricultural and Environment Science 5(3),
pp. 368-377.
9. Ayar-Kayali H., Tarhan L. (2006), “Vancomycin antibiotic production and TCA-
glyoxalate pathways depending on the glucose concentration in Amycolatopsis
orientalis”, Enzyme and Microbial Technology 38, pp. 727–734.
10. Bates J. (1997), “Epidemiology of vancomycin – resistant enterococci in the
community and the relevance of farm animals to human infection”, Journal of
Hospital Infection 37, pp. 89-101.
11. Bergey’s Manual of Systematic Bacteriology (1989), Williams & Wilkins, Baltimore,
USA, Vol. 4.
12. Carneiro-da-Cunha M. G., de Filho J. L. L., de Campos-Takaki G. M. (2002), “Protoplast
formation and regeneration from Streptomyces clavuligerus NRRL 3585 and
clavulanic acid production”, Brazilian Journal of Microbiology 33, pp. 347-351.
13. Chilukuri S. P. S., Tutika S. R., Pulipaka S. N. H. R. R., Uppuleti V. P. (2002), “Assay of
vancomycin and dotabumin using sodium metaperiodate”, Microchimica Acta 140,
pp. 109-118.
15
14. Demain A. L. (1981), “Industrial Microbiology”, Science 214, pp. 987-995.
15. Derek J. H. (2006), “Production of antibiotics fermentation”, In: Ratledge C., B.
Kristiansen eds., Basic Biotechnology, Cambridge University Press, Cambridge, 3
th
,
pp. 518-534.
16. Diana J., Visky D., Roets E., Hoogmartens J. (2003), “Development and validation of an
vancomycin using the same”, Korean Patent 0421712.
16
26. Ismail A. (2006), “Numerical assessment of mycelium color in classification of some
Streptomyces isolates”, International Journal of Agriculture
Biology 8(6), pp. 872-
875.
27. Jensen S. E. and Demain A. L. (1995), “Beta-lactams”, Genetics and biochemistry of
antibiotics production, Butterworth-Heinemann, Newton, Mass, pp. 239-268.
28. Johnson J. L. H., Yalkowsky S. H. (2006), “Refomulation of a new vancomycin analog:
An example of the importance of buffer species and strength”, American Association
of Pharmaceutical Science Technology 7(1), Article 5, pp. 1-5.
29. Jung H. M., Kim S. Y., Hyun H. H., Lee J. K. (2002), “Ca
2+
and Cu
2+
supplementation
augments vancomycin production by Amycolatoppsis orientalis”, Biotechnology
Letters 24, pp. 293 – 296.
30. Jung H. M., Kim S. Y., Moon H. J., Oh D. K., Lee J. K (2007), “Optimization of culture
conditions and scale-up to pilot and plant scale for vancomycin production by
Amycolatopsis orientalis”, Applied Microbiology Biotechnology 77, pp. 789-795.
31. Kampfer P., Kroppenstedt R. M., Dott W. (1991), “A numerical classification of the
genera Streptomyces and Streptoverticillium using miniaturized physiological test”,
Journal of Genetic Microbiology 137, pp.1831-1891.
32. Kim K. S., Cho N. Y., Pai H. S., Ryu D. D. Y. (1983), “Mutagenesis of Micromonospora
rosaria by using protoplasts and mycelia fragments”, Applied and Environmental
Microbiology 46(3), pp. 689-693.
33. Kim S. Y., Kim D. S., Jung H. M., Lee J. K. (2008), “Mutant strain of Amycolaptosis
43. Mulichak A. M., Losey H. C., Walsh C. T., Garavito R. M. (2001), “Structure of the
UDP-Glucosyltransferase GtfB that modifies the heptapeptide aglycone in the
biosythesis of vancomycin group antibiotics”, Structure 9, pp. 547-557.
44. Nagarajan R. (1991), “Antibacterial activities and modes of action of vancomycin and
related glycopeptides”, Antimicrobiology Agents Chemotherapy 35, pp. 605-609.
45. Nagy M., Miklos J., Istvan F., Ilona V., Geza K., Viola M., Andrasi A., Laszlo K.,
Gabriella Z., Marta S. nee Z., Endre K., Agnes U., Mihaly G. (1993), “Process for the
preparation of vancomycin”, US patent 5223413.
46. Narayana K. J. P., Prabhakar P., Vijayalakshmi M., Venkateswarlu Y., Krishna P. S. J.
(2008), “Study on bioactive compounds from Streptomyces sp. ANU 6277”, Polish
Journal of Microbiology 57(1), pp. 35-39.
47. Padma P. N., Rao A. B., Yadav J. S., Reddy G. (2002), “Optimization of fermentation
conditions for production of glycopeptide antibiotic vancomycin by Amycolatopsis
orientalis”, Applied Biochemistry and Biotechnology 103, pp. 395-406.
48. Peter F. S (2000), “Fermentation technology”, In: Walker J. M., Rapley R., Molecular
Biology and Biotechnology, Royal Society of Chemistry Publishing, Cambridge, 4
th
,
pp 1-24.
18
49. Punita M., Pradeep S., Subir K. (2005), “A comparative evalution of oxygen mass
transfer and broth viscosity using Cephalosporin C production as a case strategy”,
World Journal of Microbiology and Biotechnology 21, pp. 525-530.
50. Radhakrishnan M., Balaji S., Balagurunathan R. (2007), “Thermotolerant actinomycetes
from the Himalayan mountain-antagonistic potential, characterization and
identification of selected strains”, Malaysian Applied Biology 36 (1), pp. 59-65.
51. Robert E.W. H., Daniel S. C. (1999), “Peptide antibiotics”, Antimicrobial agents and
chemotherapy 43, pp. 1317 – 1323.
52. Sahin N., Ugur A. (2003), “Investigation of the Antimicrobial Activity of Some
VXLIII, pp. 100-123.
64. Yan H., Cheng X. and He B. (1998), “Calculation of concentrations of equilibrum
components in an vitro activity test of vancomycin antibiotics and the possible mode
of action”, Biophysical Chemistry 74, pp. 107 -115.
65. Yong G. E., Yongping L., Xue-ying P., Jin, Jian Z. C., Jun R. L. (2003), “Vancomycin
producing strain and optimization of the fermentation medium”, Chinese Journal of
Antibiotics 28(3), pp. 134-143.
66. Waksman S. A. (1961), “Classification, idetification and description of the genera and
species”, In: The Actinomycetes, Vol.2, The Williams and Wilkins Co., Baltimore.
67. Williams S. T., Goodfellow M., Alderson G., Wellington E.M., Sneath P.H.A. and Sackin
M.J. (1983), “Numerical classification of Streptomyces and related genera”, Journal
of Genetic Microbiology 129, pp.1743-1813.
68. Witt D. and Stackebbandt E. (1990), “Unification of the genera Streptomyces and
Streptoverticillium and amendation of Streptomyces Waksman and Henrici 1443”,
Systematic Applied Microbiology 13, pp. 361- 371.
69. Wright G.(2005), “Glycopeptide biosynthesis”, MAC Biochemistry 30, pp.1-3.
70. KCTC Strain Database. http://kctc.kribb.re.kr/intranet. Online Catalogue.
71. http://www.cai.mcgill.ca/meded/drugdb/vancomycin/vancomycin_db.htm
72. http://www.cheap-vancomycin-vancocin.netfirms.com/