Nghiên cứu ứng dụng xỉ thải pyrit của công ty supe phốt phát và hóa chất lâm thao làm vật liệu xử lý asen và mangan trong nước ngầm sử dụng làm nước sinh hoạt - Pdf 10


1
Nghiên cứu ứng dụng xỉ thải pyrit của Công ty
Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao làm vật
liệu xử lý Asen và Mangan trong nước ngầm
sử dụng làm nước sinh hoạt

Nguyễn Thanh Huyền

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Khoa Hóa học
Luận văn ThS Chuyên ngành: Hóa Phân tích; Mã số: 60 44 29
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Hồng Côn
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về các vấn đề cần nghiên cứu: Asen
(As); Các phương pháp phân tích As; Mangan (Mn); Các phương pháp
xác định Mn; Lý thuyết cơ bản về quá trình hấp phụ; Các phương pháp
vật lý xác định đặc trưng vật liệu. Trình bày phương pháp nghiên cứu và
tiến hành thực nghiệm: Dụng cụ, hóa chất; Chế tạo vật liệu hấp phụ từ
nguồn nguyên liệu ban đầu; Xác định As bằng phương pháp HgBr2; Xác
định Mn bằng phương pháp trắc quang; Nghiên cứu khả năng hấp phụ
của các vật liệu đối với các ion As và Mn trong dung dịch. Đưa ra một số
kết quả cần nghiên cứu: Thành phần cấu trúc xỉ pyrit ban đầu; Khảo sát
đánh giá hàm lượng As và Mn trong mẫu xỉ; Nghiên cứu hàm lượng As
và Mn trong nước đọng và nước chảy ra từ bãi xỉ; Quy trình hoạt hóa;
Tìm hiểu cấu trúc của vật liệu; Nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật
liệu; Khảo sát khả năng hấp phụ Mn2+ của vật liệu

Keywords: Hóa phân tích; Xỉ thải Pyrit; Asen; Mangan; Nước sinh hoạt;
Vật liệu hấp phụ


trường, chúng tôi đã sử dụng chính xỉ thải pyrit sau khi được hoạt hóa làm vật liệu hấp
phụ As, Mn và hướng tới xử lý nước phục vụ cho nước cấp sinh hoạt.
II - MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn
đề nóng bỏng được nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều quốc gia quan tâm. Chính vì thế
việc bảo vệ sự trong sạch của môi trường sống trên trái đất là nhiệm vụ đặt ra hàng đầu
đối với nhân loại.
Sự phát triển kinh tế xã hội gắn liền với sự phát triển công nghiệp. Tuy nhiên,
với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp cùng quá trình đô thị hoá thì
nguồn nước ngày càng bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải khác nhau. Nước thải từ các
nguồn sinh hoạt, dịch vụ, chế biến thực phẩm và công nghiệp có chứa nhiều chất ô

3
nhiễm, bao gồm các chất ô nhiễm dạng hữu cơ, vô cơ, vi sinh khi đi vào nguồn nước
sẽ gây ô nhiễm nước.
Kiểm soát các nguồn nước thải là công việc hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu
ô nhiễm do nước thải. Đặc biệt là các kim loại nặng như asen và mangan cần phải
được kiểm soát chặt chẽ ở ngay tại nơi phát sinh nước thải hoặc trước khi thải vào
nguồn tiếp nhận. Hàm lượng vượt quá mức cho phép của các kim loại này trong thành
phần xỉ thải pyrit của nhà máy Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao là một tác nhân
gây ô mhiễm môi trường nghiêm trọng. Do đó việc xử lý các kim loại nặng asen và
mangan trong nước thải là rất quan trọng.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về asen và mangan và các phương
pháp xử lý chúng trong môi trường, như phương pháp kết tủa, phương pháp thẩm thấu
ngược hay phương pháp điện thẩm tách. Các phương pháp này thường là khá tốn kém
hoặc gây ra một lượng bùn thải lớn. Những năm gần đây, phương pháp sử dụng vật
liệu hấp phụ đang được chú ý nhiều trên thế giới. So với các phương pháp khác thì
phương pháp này có ưu điểm là nguyên liệu rẻ tiền, sẵn có, không đưa thêm vào nước
thải các tác nhân độc hại. Luận văn này tập trung nghiên cứu khả năng tách loại asen
và mangan bằng vật liệu hấp phụ được sử dụng chính là xỉ thải pyrit sau khi được hoạt

4
3-
, HAsO
4
2-
, H
2
AsO
4
-
, H
3
AsO
4
;

còn dạng As(III) hay các
arsenit gồm H
3
AsO
3
, H
2
AsO
3
-
, HAsO
3
2-
và AsO

3
) và manganit (MnOOH).
Mangan cũng được tìm thấy trong các mô động vật và thực vật.
Khi bị nhiễm độc mangan, nạn nhân thường có những biểu hiện như rối loạn
tâm lý, rối loạn thần kinh dẫn đến bệnh paskinson (bệnh rung cơ). Run nhẹ có làm việc
được nhưng năng suất lao động giảm, run nặng không làm việc được ảnh hưởng tới
cuộc sống. Khi mổ tử thi những nạn nhân bị tử vong do nhiễm độc mangan cho thấy
thần kinh trung ương bị tổn thương. Liều tối thiểu gây ngộ độc đối với người rất khó
xác định, song những người thường xuyên tiếp xúc với không khí chứa khoảng 2-
5mg/m
3
nhận thấy có những tác động bất lợi.
Mangan có độc tính nặng tới màng nguyên sinh chất của tế bào, tác động lên hệ
thần kinh trung ương, gây tổn thương thận và bộ máy tuần hoàn. Nếu nhiễm nặng có thể
dẫn đến tử vong. Mangan được xác định là nguyên tố gây ung thư.
Tỷ lệ hấp thụ mangan vào cơ thể phụ thuộc vào số lượng mangan thâm nhập và
sự hiện diện của các kim loại khác như Fe, Cu.
1.3. Lý thuyết cơ bản về quá trình hấp phụ
Hấp phụ là sự tích luỹ chất trên bề mặt phân cách pha. Chất có bề mặt trên đó xảy
ra sự hấp phụ gọi là chất hấp phụ, còn chất được tích luỹ trên bề mặt gọi là chất bị hấp
phụ. Nếu chất bị hấp phụ xuyên qua lớp bề mặt đi sâu vào thể tích chất hấp phụ giống như
sự hoà tan thì hiện tượng đó gọi là sự hấp thụ. Hấp phụ và hấp thụ gọi chung là hấp thu.

5
Quá trình ngược với hấp phụ, khi chất đi ra khỏi bề mặt gọi là sự giải hấp. Khi quá trình
hấp phụ đạt tới trạng thái cân bằng thì tốc độ hấp phụ bằng tốc độ giải hấp.
Hấp phụ vật lý và hấp phụ hoá học
Tuỳ theo bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ mà
người ta chia ra thành hấp phụ vật lý hay hấp phụ hoá học.
Hấp phụ vật lý gây ra bởi lực Van Der Walls giữa phân tử chất bị hấp phụ với

sấy khô. Hòa tan bằng H
2
O cất rồi chuyển vào bình định mức 100 ml, thêm nước cất
tới thể tích chung 100,00ml thu được dung dịch gốc có nồng độ Mn
2+
là 1g/l.
+ Dung dịch gốc asen chuẩn có nồng độ 1g/l. Cân chính xác 1,3200g As
2
O
3

tinh khiết phân tích hòa tan trong 10ml dung dịch NaOH 10% khuấy đều rồi cho vào
bình định mức 1000ml, tráng cốc 3 lần bằng nước cất. Dùng axit HCl 1:1 chuyển dung

6
dịch asenit sang môi trường axit. Sau đó thêm nước cất đến vạch mức. Dung dịch pha
xong đựng trong chai polyetylen, từ dung dịch gốc pha ra các dung dịch có nồng độ
tùy ý khi sử dụng.
+ Dung dịch bạc nitrat AgNO
3
10%. Hòa tan 10g AgNO
3
trong 90ml nước cất
đựng vào bình sẫm màu.
+ Axit sunfuric đặc H
2
SO
4.

+ Amonipesunfat (NH

+ Giấy tẩm HgBr
2
: Hoà tan 4g HgBr
2
trong 100 ml cồn 95%, tẩm dung dịch lên
giấy lọc không chứa asen để khô tự nhiên, sau đó cắt nhỏ thành kích thước 3x150mm.
2.2. Chế tạo vật liệu hấp phụ từ nguồn nguyên liệu ban đầu.
Mẫu xỉ được lấy ở bãi nhiều xỉ chứa các hạt bằng nhau (cỡ hạt 0,5 – 1,0mm)
nung trong lò hở ở nhiệt độ 950
o
C trong vòng 4h để nguội rửa sạch rồi sấy khô. Chúng
tôi tiến hành loại As và Mn bằng cách ngâm trong dung dịch NaOH 0,5M đun sôi
khoảng 30 phút, sau đó chúng tôi rửa bằng nước cất cho đến hết OH
-
. Vật liệu tiếp tục
được hoạt hóa bằng cách ngâm trong HCl 3M trong vòng 3h sau đó trung hòa bằng
NaOH 0,5M đến môi trường pH trung tính. Rửa sạch kiềm dư và sấy khô ở 60
o
C.
Vật liệu M1: Vật liệu sau khi loại As và Mn, hoạt hóa và sấy khô ở 60
o
C (M1)
Vật liệu M2: Vật liệu sau khi loại As, Mn hoạt hóa và sấy khô ở 60
o
C chúng tôi cho
nung ở 300
o
C thời gian 2h (M2).
2.3. Xác định asen bằng phƣơng pháp HgBr
2

ra đo chiều cao
khoảng có màu. Chiều cao của dải màu ký hiệu là L, đơn vị đo là mm. Lượng asen có
trong mẫu phân tích sẽ tỉ lệ với chiều cao L này.
2.4. Xác định mangan bằng phƣơng pháp trắc quang.
Dùng pipet hút chính xác 9,5ml dung dịch mẫu phân tích vào ống nghiệm khô,
thêm 0,5ml axit H
2
SO
4
đặc; 2-3 giọt AgNO
3
10%. Thêm tiếp 1g amonipesunfat, lắc
đều cho tan hết. Sau đó đem đun cách thủy cho dung dịch hiện màu (khoảng 10 – 15
phút). Để nguội rồi đem đo mật độ quang trên máy trắc quang ở bước sóng λ = 525 nm
với dung dịch so sánh là mẫu trắng.

Chƣơng III - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần cấu trúc xỉ pyrit ban đầu
Bằng phương pháp Rơnghen, thành phần khoáng vật kết tinh trong xỉ được xác
định như sau:

Faculty of Chemistry, HUS, VNU, D8 ADVANCE-Bruker - Mau Quang
01-070-3755 (C) - Quartz - SiO2 - Y: 31.73 % - d x by: 1. - W L: 1.5406 - Hexagonal - a 4.91600 - b 4.91600 - c 5.40900 - alpha 90.000 - beta 90.000 - gamma 120.000 - Primitive - P3121 (152) - 3 - 113.206 -
00-025-1402 (I) - Maghemite-Q, syn - Fe2O3 - Y: 47.45 % - d x by: 1. - WL: 1.5406 - Tetragonal - a 8.34000 - b 8.34000 - c 25.02000 - alpha 90.000 - beta 90.000 - gamma 90.000 - Primitive - P43212 (96) -
00-024-0072 (D) - Hematite - Fe2O3 - Y: 54.70 % - d x by: 1. - WL: 1.5406 - Rhombo.H.axes - a 5.03800 - b 5.03800 - c 13.77200 - alpha 90.000 - beta 90.000 - gamma 120.000 - Primitive - R-3 (148) - 6 - 3
File: Huyen K20 mau quang.raw - Type: Locked Coupled - Start: 10.000 ° - End: 70.000 ° - Step: 0.030 ° - Step time: 1. s - Temp.: 25 °C (Room) - Time Started: 12 s - 2-Theta: 10.000 ° - Theta: 5.000 ° - Chi:
Lin (Cps)
0
100
200

= 47,45 - 54,70%, SiO
2
= 31,73%, ngoài ra
còn có các thành phần khác như Fe
3
O
4
, FeS
2
(sản phẩm chưa cháy hoàn toàn của
nguyên liệu), CaCO
3
và còn chứa một lượng Mn, As. Thành phần Fe
2
O
3
trong nguyên
liệu khá cao, điều đó có lợi rất nhiều trong việc tạo ra một vật liệu có khả năng hấp
phụ asen tốt. Các thành phần khác không gây ảnh hưởng gì trong quá trình xác định.
3.2. Quy trình hoạt hoá
Thành phần chủ yếu trong xỉ là Fe
2
O
3
được sử dụng làm nguồn cung cấp ion
Fe
3+
để cố định Fe(OH)
n
trên bề mặt.

Sau ba giờ ngâm trong HCl 3M ta tiến hành trung hoà bằng NaOH 0,5M đến
môi trường pH trung tính. Rửa sạch, sấy khô thu được vật liệu đã được cố định lớp sắt
hiđroxit trên bề mặt, kí hiệu M1.
Hình 3.8: Kết tủa sắt hiđrixit trên bề mặt xỉ pyrit
Quy trình hoạt hoá có thể tóm tắt như sau: Fe
3
+

Fe
3
+



Fe
3
+

Fe
3
+

Fe
3
+

Fe
3
+

Fe
3
+

Fe
3
+

Fe
3
+

Fe

4
, FeS
2
(là sản phẩm chưa cháy hoàn toàn của
nguyên liệu), SiO
2
, CaCO
3
và có chứa một lượng khá cao As, Mn. Vật liệu ban đầu
này theo kết quả khảo sát chính vật liệu và nước thôi ra ở trên có chứa nhiều As và
Mn. Ý tưởng dùng vật liệu này để xử lý As ban đầu có thể xem như là bất khả thi. Vì
vậy trước tiên phải được loại bỏ hết As và cố định Mn.
Khi vật liệu được nung ở t
o
= 950
0
C trong vòng 4h, hầu hết các sản phẩm chưa
cháy hết đã chuyển hoàn toàn về dạng Fe
2
O
3
và phần lớn As đã bị loại qua thăng hoa
dưới dạng As
2
O
3
. Phần As
2
O
3

- 70
0
C

phần lớn
Fe(OH)
3
chuyển sang dạng FeOOH và bám chắc hơn trên bề mặt vật liệu. Để lớp phủ
bền hơn chúng tôi đã tiến hành nung ở 300
0
C, vật liệu qua nung khá trơ trong nước
song dung lượng hấp phụ bị giảm đôi chút so với vật liệu phủ Fe(OH)
3
mới sinh.
Sự hoạt hóa vật liệu nhằm tạo ra một lớp oxit/hydroxit lên trên bề mặt của vật
liệu, tăng khả năng hấp phụ asen, kim loại nặng lên bề mặt vật liệu. Lớp vỏ bề mặt
được phủ bởi FeOOH và MnO
2
có khả năng hấp phụ kim loại nặng. Độ hấp phụ được
quyết định bởi độ xốp trên bề mặt vật liệu.
3.3. Nghiên cứu cấu trúc của vật liệu
3.3.1. Nghiên cứu cấu trúc bề mặt vật liệu (SEM)
Vật liệu sau hoạt hóa được xem xét bề mặt nhờ phương pháp kính hiển vi điện
tử quét (SEM). Kết quả cho thấy lớp hidroxit đã phủ kín bề mặt vật liệu gốc. Lớp sắt
hidroxit khá dày, là tập hợp các phân tử hidroxit vô định hình có kích thước cỡ nm.
Như vậy, các trung tâm được cho là có khả năng hấp phụ asen tốt - Fe(OH)n đã được
cố định và phân bố rất đồng đều tạo thành lớp màng bao phủ toàn bộ bề mặt vật liệu.
Kết quả chụp nhiễu xạ tia X cũng cho cùng kết quả. Một lần nữa có thể khẳng định rõ
ràng lớp sắt hidroxit đã được cố định tồn tại ở dạng vô định hình.


d=2.695
d=3.292
d=2.511
d=2.161
d=1.486
d=2.223

Hình 3.15: Dạng thù hình của vật liệu M1

11
Faculty of Chemistry, HUS, VNU, D8 ADVANCE-Bruker - Mau M2
01-089-8103 (C) - Hematite, syn - Fe2O3 - Y: 97.38 % - d x by: 1. - WL: 1.5406 - Rhombo.H.axes - a 5.02060 - b 5.02060 - c 13.71960 - alpha 90.000 - beta 90.000 - gamma 120.000 - Primitive - R-3c (167) -
` - File: Huyen K20 mau M2.raw - Type: Locked Coupled - Start: 20.000 ° - End: 70.010 ° - Step: 0.030 ° - Step time: 1. s - Temp.: 25 °C (Room) - Time Started: 10 s - 2-Theta: 20.000 ° - Theta: 10.000 ° - Chi
Lin (Cps)
0
100
200
300
400
500
600
700
800
2-Theta - Scale
20 30 40 50 60 70
d=3.654
d=3.513
d=2.694
d=2.509
d=2.181

120
180
240
C
l
(ppb)
311,84
243,84
201,84
173,84
145,84
143,84
HSHP %
68,82
75,62
79,82
82,62
85,42
85,63 65
70
75
80
85
90
0 30 60 90 120 150 180 210 240 270
Thời gian (phút)
Hiệu suất HP (%)

62.42
69.82
72.42
76.22
77.82
0
20
40
60
80
100
0 30 60 90 120 150 180 210 240 270
Thời gian (phút)
Hiệu suất HP (%)

Hinh: Đồ thị hiệu suất asen theo thời gian
Từ đồ thị ta thấy 30ph - 120ph đầu tốc độ hấp phụ tăng rất nhanh; từ phút thứ
180 đến 240 tốc độ hấp phụ tăng chậm, ít thay đổi gần như đạt cân bằng. Với vật liệu
M
2
thì hiệu suất hấp phụ thấp hơn vật liệu M
1
, qua ảnh SEM ta thấy bề mặt vật liệu M
2

trơ hơn, ít xốp, ít lỗ hổng hơn vật liệu M
1
nên khả năng hấp phụ kém hơn. Vì vậy mà
trong các bước thí nghiệm tiếp theo ta sử dụng vật liệu M
1

s
: Nồng độ asen cân bằng trong dung dịch và trong pha rắn
Kết quả thu được như sau:
Đối với vật liệu M1
Bảng: Các giá trị đường cong hấp phụ của vật liệu M1
C
0
( ppm )
5
10
20
40
60
80
100
150
200
C
l
( ppm)
0.56
1.01
1.26
2.97
3.85
6.73
10.56
32.5
65.21
C

16
0 20 40 60 80
Cl (ppm)
Cs (mg/g)

Hình: Đường cong hấp phụ asen của vật liệu M1

y = 0.0623x + 0.7219
R
2
= 0.9624
0
1
2
3
4
5
6
0 20 40 60 80
C
l
(ppm)
C
l
/Cs

Hình: Đường xác định tải trọng asen của vật liệu M1
Theo kết quả trên bảng 3.4, để tính lượng hấp phụ cực đại, chúng tôi tiến hành
vẽ đồ thị phương trình Langmuir biến đổi và được đường thẳng như trên hình 3.21.
Đường thẳng có hệ số góc là 0,0497. Từ đó giá trị C

1800
15.01
3400
110.31
300
0
1900
17.34
3500
130.24
400
0
2000
24.49
3600
140.56
500
0
2100
25.68
3700
155.32
600
1.13
2200
30.44
3800
165.45
700
2.5

2800
44.73
4400
197.44
1300
9.01
2900
51.86
4500
198.5
1400
10.4
3000
60.42
4600
199.84
1500
11.39
3100
70.45
4700
200.1
1600
12.34
3200
88.11
4800
200.2
-50
0

10
20
30
40
60
90
C
l
(ppb)
2,165
2,025
1,829
1,633
1,549
1,493
1,465
HSHP %
56,88
59,50
63,42
67,34
69,02
70,14
70,7
Sau 60 phút nồng độ Mn
2+
gần như không thay đổi, vậy thời gian cân bằng có
thể coi là 60 phút.
50
55


(mg/g)
Trong đó: C
0
: Nồng độ asen trước khi hấp phụ.
C
l,
C
s
: Nồng độ asen cân bằng trong dung dịch và trong pha rắn
Kết quả thu được như sau:
Bảng: Các giá trị đường cong hấp phụ của vật liệu M1
C
0
( ppm )
5
10
20
30
40
50
60
80
C
l
( ppm)
1.69
3.77
6.19
10.85

16
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
0 10 20 30 40 50 60
C
l
(ppm)
Cs(mg/g)

Hình: Đường cong hấp phụ mangan của vật liệu
y = 0.2307x + 3.9589
R
2
= 0.9577
0
5
10
15
20
0 10 20 30 40 50 60
C
l
(ppm)
C

11.68
20.45
52.02
69.12
82.39
161.47
189.06 17

0
30
60
90
120
150
180
210
Đ1 Đ2 Đ3 Đ4 Đ5 Đ6 Đ7
Địa điểm
Nồng độ (ppb)

Hình: Biểu đồ khảo sát hàm lượng asen trong nước mặt xung quanh khu vực
bãi xỉ.
Tiến hành xử lý mẫu nước Đ7 bị ô nhiễm asen trên bằng vật liệu hấp phụ. Lấy
mẫu nước nhiễm asen, phân tích được ở nồng độ 186.06 ppb đem hấp phụ động bằng
vật liệu trên chúng tôi thu được bảng kết quả sau:
Bảng: Sự phụ thuộc nồng độ asen theo thể tích dung dịch qua cột
V(ml)

0
1900
35.2
3200
140.56
600
3.25
2000
36.39
3300
155.32
700
4.54
2100
38.77
3400
165.45
800
5.63
2200
39.96
3500
170.22
900
6.82
2300
43.34
3600
180.64
1000

0
50
100
150
200
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000
Thể tích đầu ra (ml)
Nồng độ đầu ra (ppb)

Hình: Sự phụ thuộc asen đầu ra vào thể tích dung dịch qua cột

18
Như vậy, ta thấy sau 1100 ml đầu tiên nồng độ asen ở đầu ra đo được <10ppb
(đạt tiêu chuẩn cho phép cho nước sinh hoạt < 10ppb). Nếu lấy 10g vật liệu có thể xử
lý được 2500ml nước nhiễm asen 186.06 ppb.
Tóm lại: Qua các kết quả thu được trình bày ở trên có thể thấy rằng, từ nguồn chất thải
nguy hại nếu biết tận dụng và xử lý đúng cách chúng ta có thể tạo ra được một vật liệu
có ích có khả năng xử lý các chất độc hại trong nước để có nguồn nước an toàn sử
dụng trong ăn uống hàng ngày.

KẾT LUẬN
Để góp phần vào việc nghiên cứu qui trình tách loại các ion kim loại nặng ra
khỏi các nguồn nước bị ô nhiễm, luận văn này tập trung nghiên cứu khả năng tách loại
các ion kim loại nặng asen và mangan từ dung dịch nước bằng VLHP là xỉ thải pyrit
của nhà máy Supe phôt phát và Hóa chất Lâm Thao. Các kết quả chính thu được trong
quá trình nghiên cứu như sau:
1. Đã tiến hành khảo sát đánh giá mức độ ô nhiễm asen và mangan trong
đất và trong nước xung quang khu vực bãi xỉ. Trong đất Mn không vượt quá giới
hạn cho phép, asen lớn gấp 100 đến 200 lần giới hạn cho phép. Trong nước mặt
cả asen và mangan đều vượt quá giới hạn cho phép.


2[MnO
2
.Mn]
2+
+ O
2
+ 2H
2
O → 4MnO
2
+ 4H
+

4. Khảo sát thời gian đạt cân bằng hấp phụ với As và Mn trên các VLHP
chế tạo được, kết quả nhận thấy thời gian đạt cân hấp phụ là khá nhanh, đối với
asen thời gian đạt cân bằng là 3h, đối với Mn thời gian đạt cân bằng là 60 phút.
5. Xác định tải trọng hấp phụ cực đại của VLHP đối với asen và mangan.
Kết quả cho thấy khả năng hấp phụ của xỉ pyrit sau khi được hoạt hóa có khả
năng hấp phụ asen và mangan tốt. Vật liệu có khả năng hấp phụ asen tốt hơn
mangan với C
m
= 16.05 mg/g.

19
6. Đánh giá khả năng sử lý vật liệu đối với nguồn nước bị ô nhiễm, nếu lấy
1 g vật liệu thì có thể sử lý được 250 ml nước nhiễm asen 186,06ppb.
Với một nguồn nguyên liệu sẵn có được ứng dụng để xử lý nguồn nước bị ô
nhiễm kim loại nặng có ý nghĩa rất to lớn. Trong luận văn này bước đầu chúng tôi đã
nghiên cứu xây dựng qui trình xử lý các kim loại nặng As và Mn trong nguồn nước bị

and hair in forensic science, J am acad dermatol, Vol. 50, No. 2, pp. 258 - 261.
14. Eid I.Brima, Parvez I. Haris, Richard O. Jenkins, Dave A. Polya, Andrew
G.Gault, Chris F. Harrington. (2006), “Understanding arsenic metabolism
through a comparative study of arsenic levels in the urine, hair and fingernails
of healthy volunteers from three unexposed ethnic groups in the United
Kingdom”, Toxicology and Applied Pharmacology, 216, pp. 122 - 130.
15. Gautam Samanta, Ramesh Sharma, Tarit Roychowdhury, Dipankar
Chakraborti. (2004), “Arsenic and other elements in hair, nails, and skin -
scales of arsenic victims in West Bengal, India”, Science of the Total
Environment, 326, pp. 33 - 47.
16. Gautam Samanta, TaritRoy Chowdhury, Badal K. Mandal, Bhajan K.
Biswas, Uttam K. Chowdhury, Gautam K. Basu, Chitta R. Chanda, Dilip
Lodh, and Dipankar Chakraborti. (1999), “Flow Injection Hydride Generation
Atomic Absorption Spectrometry for Determination of Arsenic in Water and
Biological Sample from Arsenic - Affected Districts of West Bengal, India,
and Bangladesh”, Microchemical Journal, 62, pp. 174 - 191.
17. Jen – How Huang, GunterIlgen. Blank value, adsorption, speciation of
environmental water sample. Analytica chimica Acta 512 (2004), P. 1-10.
18. L.Rahman, W.T. Corns, D.W.Bryce, P.B. Stockwell. (2000), “Determination of
mercury, selennium, bismuth, arsenic and antimony in human hair by
microwave digestion atomic fluorescence spectrometry”, Talanta, 52, pp.
833 - 843.
19. Margaret R. Karagas, Therese A. Stukel, Tor d. Tosteson. (2004), “Assessment
of cancer risk and enviromental levels of arsenic in New Hampshire”, Int. J.
Hyg. Environ. Health, 205, pp. 85 - 94.
20. Netherlands National Committee of the International Association of
Hydrogeologists (2006), Arsenic in groundwater – a world problem, Seminar
Utrecht 29 November 2006, The Netherlans.
21. Standard methods for the examination of water and wastewater (20
th


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status