1
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
ở Hà Nội" (Khảo cứu qua hai làng nghề:
Làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng)
NXB H. : TTĐTBDGV, 2012 Số trang 139 tr. +
Đỗ Việt Hùng Trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Vũ Văn Yên
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống gắn với
du lịch. Phân tích thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội
hiện nay; khảo cứu qua hai làng nghề làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng. Đề xuất
phƣơng hƣớng và một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
ở Hà Nội.
Keywords: Kinh tế chính trị; Làng nghề truyền thống; Phát triển Du lịch; Làng lụa Vạn
Phúc; Làng gốm Bát Tràng; Hà Nội
Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, phát triển làng nghề đang đƣợc nhiều địa phƣơng quan tâm.
Đây là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế, ổn định
tình hình chính trị - xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa của mỗi địa phƣơng. Các làng nghề phát
triển có khả năng kết hợp với các ngành kinh tế, trong đó có du lịch nhằm thu hút nhiều lao động,
tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tích
Tuy nhiên, ở Hà Nội cùng với những thế mạnh vốn có về phát triển các làng nghề truyền
thống, về gắn kết với các loại hình dịch vụ du lịch và thực tế đã thu hút đƣợc một số lƣợng khách
đáng kể nhƣng vẫn là những nỗ lực tự phát, chƣa có quy hoạch, việc khai thác vẫn còn nhỏ lẻ,
chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, chƣa hình thành đƣợc cách làm chuyên nghiệp, còn gặp nhiều
khó khăn, bất cập trong việc liên kết phát triển. Chƣa phát huy tối đa vai trò, thế mạnh trong phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phƣơng, chƣa phát huy lợi thế so sánh trong phát triển bền
vững, chƣa phù hợp với tình hình thực tế, với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và với xu hƣớng
vận động, phát triển của nền kinh tế. Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để việc phát triển làng
nghề truyền thống gắn với du lịch, phát huy đƣợc tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn,
bền vững hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa của Hà Nội
đƣợc coi là nhiệm vụ cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
đang từng bƣớc hội nhập toàn diện với châu lục và thế giới. Do đó, tác giả chọn đề tài "Phát triển
làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nhóm các đề tài khoa học công nghệ liên quan đến đề tài:
- Tác giả Trần Minh Yến (2004), có công trình "Làng nghề truyền thống trong quá trình
CNH, HĐH".
- “Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hƣớng CNH nông thôn Việt
Nam” của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) – Bộ NN và PTNT Việt Nam, năm 2003.
3
- “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng”, Đề tài KH
cấp Bộ của chủ nhiệm GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam năm 2005.
- “Xây dựng và phát triển mô hình làng nghề du lịch sinh thái tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ”,
Đề tài KH cấp Bộ của chủ nhiệm GS.TS Hoàng Văn Châu, Bộ GD và ĐT năm 2006.
- “Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thƣơng mại
thế giới”, Đề tài KH cấp Viện của chủ nhiệm TS Vũ Thị Thoa, Viện Kinh tế, Học viện CTQG
HCM năm 2009.
- “Nghiên cứu khả thi phát triển du lịch gắn với sản xuất tiểu thủ công nghiệp dọc hành lang Đông
- Tây”, Dự án của Tổng cục Du lịch.
- Lƣu Quốc Thắng, (2009) Xu hƣớng phát triển làng nghề ở đồng bằng Sông Hồng
- Xu hƣớng phát triển làng nghề ở khu vực đồng bằng Sông Hồng, Tập chí Nông thôn mới số
249/2009
Các công trình nghiên cứu, các bài viêt trên đã trình bày ở trên đề cập các góc độ và những
nội dung của làng nghề, du lịch với các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu trên
đây chỉ đề cập một hoặc một vài vấn đề của làng nghề, của du lịch ở các cấp độ vùng hoặc ở góc
độ của cả tỉnh mà chƣa có một nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu phát triển làng nghề truyền
thống gắn với du lịch ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du
lịch, đánh giá thực trạng (khảo cứu qua hai làng nghề làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng)
luận văn đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở
Hà Nội một cách có hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội hiện nay.
(khảo cứu qua hai làng nghề làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng)
- Đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề truyền thống gắn
với du lịch ở Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội. (khảo cứu qua hai làng nghề
làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi: Đây là vấn đề rộng, luận văn tập trung nghiên cứu việc phát triển làng nghề
truyền thống có tính chất điển hình, có tiềm năng phát triển gắn với du lịch ở Hà Nội.
- Về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay.
- Về không gian: Khảo cứu trong hai làng nghề tiêu biểu của Hà Nội là làng lụa Vạn Phúc
và làng gốm Bát Tràng.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU
LỊCH
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Phát triển, phát triển bền vững.
* Quan niệm phát triển:
Phát triển nói chung theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một quá trình tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó diễn ra
vừa dẫn dần, vừa nhảy vọt, đƣa tới sự ra đời của cái mới, thay thế cái cũ. {8, Tr. 99}
Phát triển kinh tế, dƣới góc độ kinh tế chính trị là sự tăng trƣởng kinh tế gắn liền với sự
hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Phát triển kinh tế gắn
với 3 nội dung cơ bản:
Một là, sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và
tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngƣời.
Hai là, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng tiến bộ, thể hiện tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ tăng trong GDP còn tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống.
6
Ba là, mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu
nhập thực tế, của chất lƣợng y tế, giáo dục.
Nhƣ vậy, phát triển kinh tế bao hàm tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trƣởng
và phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản, đầu tiên để giải quyết công bằng xã hội, là mục tiêu phấn
đấu của nhân loại và là động lực quan trọng của sự phát triển.
* Quan niệm về phát triển bền vững:
Kết quả nghiên cứu về phát triển bền vững trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam giúp rút ra
kết luận chung rằng: "phát triển bền vững là sụ phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu hiện tại
mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai".
Phát triển bền vững làng nghề là quá trình phát triển lâu dài, có sự kết hợp chặt chẽ, hợp
lý, hài hòa trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, duy trì đƣợc năng suất lao động, đảm
bảo liên tục tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mang tính văn hóa, truyền thống, đáp ứng nhu cầu
hiện tại mà không gây ra những nguy hại đến các thế hệ mai sau.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu rằng: Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội, là một
cụm hoặc nhiều cụm dân cƣ sinh sống trong một thôn, làng, có một hay một số nghề đƣợc tách ra
khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất
định. Thu nhập từ các nghề chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng.
Làng nghề truyền thống:
Các làng nghề truyền thống là những thôn, làng làm nghề thủ công có truyền thống lâu
năm, thƣờng nhiều thế hệ, ít nhất hàng chục năm và nhiều làng nổi tiếng hàng thế kỷ tạo ra những
sản phẩm độc đáo, độ tinh xảo cao.
Làng nghề truyền thống là làng nghề đƣợc tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử; trong
đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống; là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ
lành nghề; là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên
kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành
viên luôn ý thức tuân thủ những ƣớc chế xã hội và gia tộc.
Làng nghề truyền thống cũng đƣợc xem xét dƣới một số quan niệm nhƣ sau:
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một công đồng dân cƣ trong một phạm vi,
một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều
nghề thủ công truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trƣờng
để thu lợi.
Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề thủ công có truyền thống
lâu năm, thƣờng là qua nhiều thế hệ.
Quan niệm thứ ba: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm
nghề cổ truyền, nó đƣợc hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, đƣợc tiếp nối từ thế
hệ này sang thế hệ khác theo kiểu cha truyền, con nối hoặc ít nhất cùng tồn tại hàng chục năm.
Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa; đồng thời sản xuất ra những
sản phẩm mang tính tiêu biểu, độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng, đậm nét văn hóa dân tộc.
* Đặc điểm làng nghề truyền thống:
- Điều kiện sản xuất, kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp.
- Đặc điểm về sản phẩm của làng nghề truyền thống.
- Về kỹ thuật, công nghệ
- Về tổ chức sản xuất kinh doanh
Thứ ba, căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi.
* Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của du lịch.
- Điều kiện tự nhiên
- Các nhân tố nhân văn
- Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
1.1.2. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
1.1.2.1. Khả năng, lợi ích phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch không chỉ là phát triển thị trƣờng trong
nƣớc, đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ, đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho làng nghề mà thực chất phát
triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch là một cách du lịch văn hóa, là giới thiệu để khách du
9
lịch trong nƣớc và nƣớc ngoài hiểu thêm những đặc trƣng văn hóa, truyền thống của nƣớc ta cũng
nhƣ của mỗi làng nghề truyền thống.
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch là phát triển loại hình du lịch văn hóa
chất lƣợng cao, là loại hình khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ truyền thống, nhƣ là một đối tƣợng tài nguyên du lịch phục vụ cho việc tìm hiểu
văn hóa, tham quan, vui chơi, giải trí.
Xác định việc khôi phục, phát triển các nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn
của tỉnh nhằm thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm tăng thu nhập cho nông
dân; giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động trong nông thôn theo hƣớng công nghiệp hóa. Đồng thời, nhằm duy trì bảo tồn, phát
triển các giá trị văn hóa của địa phƣơng.
Các làng nghề truyền thống không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế chung mà
còn có giá trị lớn về văn hóa – xã hội. Mỗi làng nghề chính là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét
văn hóa độc đáo của địa phƣơng. Làng nghề truyền thống đƣợc xem là tài nguyên du lịch nhân
văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Làng nghề phát triển đã thực sự tạo nên bộ mặt mới phong phú của nhiều vùng nông thôn
trong cả nƣớc, tạo nên nguồn tài nguyên du lịch mang đặc trƣng mỗi làng nghề, mỗi vùng kinh tế.
Tìm hiểu, thƣởng thức những nét văn hóa đậm đà bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền trong
bản địa đặc sắc. Hàng thủ công truyền thống có thể đƣợc ví nhƣ biểu tƣợng văn hóa và nghệ thuật của
một quốc gia, là nhân tố quan trọng để hấp dẫn du khách. Xuất khẩu tại chỗ hàng thủ công truyền thống
thông qua việc bán cho khách du lịch đã mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ.
Làng nghề truyền thống Việt Nam ra đời từ rất lâu với vai trò, vị trí quan trọng trong đời
sống kinh tế xã hội của nhân dân các địa phƣơng. Sự tồn tại của các làng nghề truyền thống không
chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế: giải quyết một số lƣợng lớn công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
ngƣời dân địa phƣơng mà còn có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, bảo vệ những giá trị đạo
đức, văn hoá truyền thống của các làng, xã, phƣờng, hội.
Các làng nghề không chỉ sản xuất, kinh doanh, mà còn là nơi tổ chức sinh hoạt cộng đồng,
mang sắc thái văn hóa riêng biệt, có đặc trƣng của từng làng theo ngành nghề truyền thống lâu
đời, là nét độc đáo góp phần mở rộng phát triển các loại hình du lịch ở nƣớc ta. Cho nên, đánh
thức và phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch là hƣớng đi hữu hiệu nhằm đƣa sản
phẩm làng nghề vào thị trƣờng, nâng cao đời sống cho cƣ dân làng nghề.
1.1.2.2. Những nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
Quá trình phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch chịu tác động của nhiều nhân
tố và các nhân tố này tác động, ảnh hƣởng lẫn nhau. Nhìn chung, các yếu tố tác động đến sự phát
triển của làng nghề đƣợc theo các nhóm sau đây:
* Các nhân tố về kinh tế:
- Sự biến đổi của thị trƣờng,
- Trình độ phát triển của kỹ thuật và công nghệ
- Kết cấu hạ tầng
- Vốn cho sản xuất kinh doanh
- Nguồn nhân lực
* Nhân tố về môi trường, chính sách:
* Các nhân tố về điều kiện tự nhiên:
* Yếu tố truyền thống:
11
1.2. THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH CỦA
GẮN VỚI DU LỊCH Ở HÀ NỘI.
(Khảo cứu qua hai làng nghề: Làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng)
2.1. ĐIỀU KIỆN, CHÍNH SÁCH, ĐẶC ĐIỂM LÀNG NGHỀ CỦA HÀ NỘI TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH.
12
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính sách của Hà Nội trong việc phát triển làng
nghề truyền thống gắn với du lịch.
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên.
* Về địa hình Hà Nội
* Về thổ nhưỡng, sinh vật
* Khí hậu Hà Nội
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, du lịch
2.1.1.3. Chính sách phát triển làng nghề truyền thống với phát triển du lịch.
2.1.2. Khái quát làng nghề truyền thống của Hà Nội.
2.1.2.1. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Hà Nội.
Đƣợc mệnh danh là “đất trăm nghề”, kể từ khi mở rộng về phía Tây, Hà Nội hiện có 1.350
làng có nghề, trong đó có 244 làng nghề truyền thống và 272 làng đƣợc công nhận với 116 nghệ
nhân và hàng ngàn thợ giỏi; với gần 1/4 là những làng nghề lâu đời trên 100 năm tuổi với đậm đặc
các giá trị văn hóa - lịch sử. Với số lƣợng làng nghề hiện có, Hà Nội đã chiếm tới 59% tổng số
làng với 47 nghề trên tổng số 52 nghề trên toàn quốc với hàng chục nhóm nghề đang có xu hƣớng
phát triển nhƣ gốm sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai Trong đó, có không ít làng nghề
nổi tiếng gắn với quá trình 1000 năm hình thành và phát triển Thăng Long - Hà Nội, với nhiều đặc
tính riêng của truyền thống lịch sử và văn hóa. Đó là một nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, hơn
nữa lại có thể khai thác sử dụng ở hai hình thức: du lịch thƣơng mại và du lịch nhân văn.
2.1.2.2. Tình hình sản xuất, kinh doanh của làng nghề ở Hà Nội
Từ tháng 8 năm 2008, Hà Nội sát nhập thêm Hà Tây, do đó Hà Nội có số làng nghề nhiều
nhất cả nƣớc hiện nay. Theo số liệu thống kê chƣa đầy đủ, năm 2008 kim ngạch xuất khẩu của
làng nghề trên địa bàn thành phố (tính cả Hà Tây cũ) là 159 triệu USD, chiếm 4% tổng kim ngạch
2.2.1.1. Đặc điểm, tình hình sản xuất kinh doanh của làng lụa Vạn Phúc.
* Lịch sử và đặc điểm
* Tình hình sản xuất, kinh doanh
2.2.1.2. Thực trạng việc phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng lụa Vạn Phúc.
* Tiềm năng
* Những khó khăn trong phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng lụa Vạn Phúc.
- Về cơ sở hạ tầng và công tác quy hoạch.
- Về phát triển sản xuất
- Vấn đề thƣơng hiệu và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm
- Vấn đề về môi trƣờng
- Về nguồn nhân lực
- Về hoạt động quảng bá để hút khách du lịch
2.2.2. Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng gốm Bát Tràng.
2.2.2.1. Tình hình sản xuất, kinh doanh của làng gốm Bát Tràng.
* Lịch sử và đặc điểm
* Tình hình sản xuất, kinh doanh
2.2.2.2. Thực trạng của phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng gốm Bát Tràng.
* Tiềm năng
* Những khó khăn trong phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở làng gốm Bát Tràng
- Về cơ sở hạ tầng và công tác quy hoạch
- Vấn đề thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm
- Vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh
14
- Môi trƣờng
- Về nguồn nhân lực
- Hoạt động quảng bá để hút khách du lịch
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH Ở HÀ NỘI.
Hiện nay mô hình phát triển làng nghề kết hợp với du lịch đang trở thành một hƣớng đi
15
Thứ tư, về công tác thông tin, liên kết quảng bá làng nghề
Các làng nghề chƣa biết tổ chức tốt các hoạt động để trƣng bày, mở ra cơ hội cho các làng
nghề quảng bá thƣơng hiệu, sản phẩm cũng nhƣ chƣa tạo đƣợc không gian, từng khu biệt lập nhƣ
khu trƣng bày các tác phẩm sắp đặt từ chất liệu làng nghề, khu trƣng bày và bán sản phẩm theo
nhóm ngành nghề, khu thao diễn tay nghề và giới thiệu không gian văn hóa làng nghề
Một số làng nghề truyền thống cũng đã có những sự kết hợp với các đơn vị lữ hành, đã có
những Tour du lịch làng nghề, tuy nhiên, việc khai thác chƣa đồng bộ, chƣa có sự phối hợp đa
ngành, đặc biệt với chính quyền địa phƣơng, việc khai thác vẫn còn manh mún.
Thứ năm, Hạ tầng văn hoá truyền thống làng nghề bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hoá, môi
trƣờng ô nhiễm do sản xuất phát triển, khách du lịch không có nhiều điểm để tham quan. Chƣa kết
hợp làm tốt công tác bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống gắn với việc tôn tạo, trùng tu
các công trình văn hóa lễ hội, di tích lịch sử làng nghề để thu hút khách du lịch đến với làng nghề
gắn việc xây dựng phòng trƣng bày, bảo tàng làng nghề, gặp gỡ nghệ nhân
Thứ sáu, vấn đề lao động trong làng nghề truyền thống
Tại các làng nghề ở Hà Nội hiện nay đang thừa lao động phổ thông nhƣng lại thiếu trầm
trọng lao động có tay nghề cao. Một bộ phận lớp trẻ tại nhiều làng nghề đã không còn mặn mà với
nghề cha truyền con nối. Nguồn nhân lực tay nghề cao thiếu hụt đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến
chất lƣợng các sản phẩm dẫn đến mất dần thị trƣờng truyền thống.
Thứ bảy, vấn đề môi trường trong làng nghề truyền thống
Hà Nội là nơi tập trung mật độ làng nghề cao và có sự phát triển mạnh mẽ về sản xuất. Vì
cuộc sống và lợi nhuận, làng nghề buộc phải chấp nhận mọi loại hình đầu tƣ, kể cả đầu tƣ vào
những ngành nghề có thể làm ô niễm môi trƣờng và làm tổn hại đến sức khỏe con ngƣời, ảnh
hƣởng đến phát triển sản xuất.
Môi trƣờng sinh thái bị phá vỡ, việc sử dụng nguyên, nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất
không hiệu quả, không dựa trên luận cứ khoa học và quy hoạch chung của địa phƣơng dẫn đến tình
trạng ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trở nên trầm trọng hơn, đặc biệt khi nhận thức của ngƣời dân về
bảo vệ môi trƣờng còn hạn chế và công tác quản lý môi trƣờng tại địa phƣơng chƣa đƣợc chú trọng.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU
LỊCH Ở HÀ NỘI.
3.2.1. Nhóm các giải pháp ở tầm vĩ mô
3.2.1.1. Về chính sách bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với du lịch.
3.2.1.2. Về chính sách ƣu đãi đầu tƣ, tín dụng, xúc tiến thƣơng mại.
* Về chính sách ƣu đãi đầu tƣ
* Về chính sách tín dụng cho làng nghề
* Về chính sách thƣơng mại, xúc tiến thƣơng mại và tiêu thụ sản phẩm làng nghề.
3.2.1.3. Về đào tạo nguồn nhân lực, khoa học công nghệ.
* Về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
* Về khoa học công nghệ.
3.2.1.4. Về cơ chế quản lý.
3.2.1.5. Về xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trƣờng sinh thái làng nghề.
* Về cơ sở hạ tầng
* Về bảo vệ môi trƣờng sinh thái
3.2.2. Nhóm các giải pháp về kết hợp phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
3.2.2.1. Giải pháp về quy hoạch, hình thành khu vực tập trung các làng nghề, xã nghề, vùng
nghề gắn với du lịch.
17
3.2.2.2. Giải pháp về xây dựng các tuyến, điểm du lịch gắn với các làng nghề;
3.2.2.3. Giải pháp về khai thác dịch vụ làng nghề, đa dạng hóa sản phẩm làng nghề, dịch vụ
du lịch làng nghề, tiêu thụ sản phẩm làng nghề.
3.2.2.4. Giải pháp về công tác thông tin thị trƣờng, liên kết, quảng bá làng nghề gắn với du lịch.
3.2.2.5. Giải pháp về tôn tạo, trung tu các công trình, các hoạt động văn hóa, lễ hội, di tích
lịch sử làng nghề.
3.2.2.6. Giải pháp về xây dựng phòng trƣng bày, bảo tàng nghề và làng nghề, gặp gỡ nghệ nhân.
KẾT LUẬN
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở nƣớc ta có nhiều lợi thế, tiềm năng để
5. Qua điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng của Hà Nội (cụ thể ở làng lụa Vạn Phúc và
làng gốm Bát Tràng) để cũng thấy rõ những thuận lợi, những khó khăn trong quá trình gắn kết để
phát triển làng nghề cũng nhƣ phát triển du lịch. Đặc biệt, qua khảo cứu qua hai làng nghề lụa Vạn
Phúc và gốm Bát Tràng luận văn đã làm rõ, nêu lên đƣợc những vấn đề cần giải quyết trong việc
phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội nhƣ: vấn đề chính sách, công tác quy
hoạch làng nghề, công tác xây dựng các tuyến, điểm du lịch, khai thác dịch vụ làng nghề, đa dạng
hóa sản phẩm làng nghề, tôn tạo, trùng tu các di tích lịch sử, văn hóa lễ hội làng nghề
6. Trên cơ sở nêu lên đƣợc những vấn đề cần giải quyết và những quan điểm, định hƣớng
trong việc phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội luận văn đã xây dựng đƣợc
nhóm các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch nhƣ: Nhóm các giải pháp ở
tầm vĩ mô, nhóm các giải pháp cụ thể về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
7. Trong luận văn cũng đã chỉ rõ những quan điểm định hƣớng và nhóm các giải pháp để
phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch có mối quan hệ biện chứng, cần đƣợc thực hiện
đồng bộ và đặt trong tổng thể giải pháp phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội nói riêng và cả nƣớc
nói chung.
References
1. Hà Anh (2007), “Lối ra cho phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ”, Báo
Nhân dân, ngày 17-6-2007.
2. Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thu Hòa (2005), Tác động xã hội và môi trường
của việc phát triển làng nghề, Đề tài Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Kinh tế Việt
Nam.
3. Lê Thị Vân Anh (2005), “Phát triển vùng kinh tế động lực, những tồn tại và giải pháp khắc
phục”, Tạp chí Tài chính (1, 2), tr.40.
4. Bạch Thị Lan Anh (2004), Phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Tây trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội.
5. Bạch Thị Lan Anh (2010), Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, Luận án TSKT, Hà Nội
6. Báo cáo trung tâm tạo mẫu hỗ trợ làng nghề Việt Nam, Hội thảo 12-2008 tại Hà Nội.
7. Phan Gia Bền (1957), Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, Nxb Văn sử địa,
19. Trần Hữu Bƣu (2007), Tác động của cam kết trong WTO và kết quả của vòng đàm phán
DOHA đến ngành công nghiệp Việt Nam, tại hội thảo Tác động của vòng đàm phán DOHA
đối với Việt Nam.
20. Đặng Kim Chi (chủ biên) (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật.
21. Nguyễn Xuân Chính (2007), “Làng nghề Hà Tây thực trạng và giải pháp phát triển bền
vững”, Tạp chí Công nghiệp, (6), tr. 12-13.
22. Thủy Công (2006), “Để các làng nghề truyền thống phát triển đúng hƣớng”, Tạp chí Xây
dựng Đảng, (7), tr. 31-34.
23. Cục Thống kê Thành phố Hà Nội (2010, 2011), Niên giám thống kê Hà Nội.
24. Cục Thống kê tỉnh Hà Tây, Niên giám thống kê 2007
25. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Minh Phong, Hồ Vân Nga (2000), “Thủ đô HN với vùng
KTTTBB”, Tạp chí TT-GC, (10), tr. 18.
28. Nguyễn Điền (1997), Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Nguyễn Trí Dĩnh (2005), Những giải pháp nhằm phát triển Làng nghề ở một số tỉnh Đồng
bằng Sông Hồng, Đề tài cấp Bộ, Viện Đào tạo công nghệ và quản lý quốc tế, Liên hiệp các
hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
30. Duy Đông (20-6-2007), “Phát triển xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn nhiều rào cản
lớn”, Báo Đầu tư.
31. Nguyễn Mạnh Dũng, “Nghề thủ công truyền thống con gà đẻ trứng vàng”, Báo Khoa học
đời sống, 18-3-05 NTCTT.
32. Phạm Văn Dũng (2002), “Làng nghề Hà Nội với giải quyết việc làm”, Tạp chí Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, (4).
48. Nguyễn Thăng Long (2008), Vấn đề phát triển cụm – Điểm công nghiệp và cụm Công
nghiệp làng nghề. Báo cáo hội thảo phát triển làng nghề miền trung và Tây nguyên,UBND
tỉnh Bình Định.
49. Hoàng Ngân (12-2006), Phát triển bền vững các LN đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và
giải pháp, http://www.saga.vn.
50. Khắc Nguyên (2007), “Quy hoạch sử dụng đất vùng KTTĐBB”, Tạp chí Tài nguyên môi
trường, tr.28.
51. Nguyễn Đình Phan, Trần Minh Đạo, Nguyễn Minh Phúc (2002), Những biện pháp chủ yếu
thúc đẩy CNH, HĐHNNNT vùng đồng bằng Sông Hồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
52. Nguyễn Đình Phan (2000), “Phát triển công nghiệp nông thôn trong quá trình CNH - HĐH”,
Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
59. Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Thúy Chinh (2008), “Kinh tế thủ đô Hà Nội 1 năm sau ngày
gia nhập WTO và triển vọng”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay.
60. Phòng quản lý khuyến công và LN Sở Công nghiệp (2007), “Hà Nội - Đa dạng hóa ngành
nghề và sản phẩm công nghiệp địa phƣơng”, Tạp chí Công nghiệp. (1).
61. Phòng Giới và phát triển (2008), Tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tới
việc làm của người nông dân tỉnh Vĩnh Phúc, Đề tài, Viện Kinh tế Việt Nam, tr. 8-9.
62. Dƣơng Bá Phƣợng (2001), Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
63. Phạm Thái Quốc (2006), “Phát triển kinh tế trong xu thế tự do hóa và vấn đề ô nhiễm môi
trƣờng ở Bắc Ninh”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (8), tr. 76-80.
64. Trần Công Sách (chủ nhiệm), Tiếp tục đổi mới chính sách và các giải pháp đẩy mạnh tiêu
thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010. Đề tài cấp
viện nghiên cứu thƣơng mại, Bộ Thƣơng mại.
65. Đỗ Tấn (2007), “Bắc Ninh, 10 năm một chặng đƣờng”, Báo Nhân dân.
66. Xuân Thái (2007), Cơ hội cho hàng thủ công mỹ nghệ, thời báo kinh tế Việt Nam.
67. Chu Hồng Thắng (6-2002), “Mỗi làng một sản phẩm”, Báo Nhân dân.
68. Hà Huy Thành, Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp bộ, Viện
Nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững. Đề tài, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
22
Tạp chí Công nghiệp, (6), tr. 9-11.
86. Trần Văn Túy, Nguyễn Duy Hà (2007), “Phát triển sản xuất và môi trƣờng ở làng nghề truyền
thống huyện Từ Sơn – Bắc Ninh”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (125), tr.35-37.
87. Trần Nguyễn Tuyên (2006), “Phát triển bền vững – kinh nghiệm quốc tế và định hƣớng của
Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, 2-2006, tr.43.
88. Ủy ban nhân dân phƣờng Vạn Phúc (2008), Báo cáo năm 2008.
89. Ủy ban nhân dân TP Hà Nội (14-6-2007), Báo Kinh tế đô thị, tr.10.
90. Ủy ban nhân dân TP Hà Nội (30-11-2005), Báo Kinh tế đô thị, tr.10.
23
91. Tƣ Văn (8-2006), “Ô nhiễm môi trƣờng ở Phùng Xá”, Báo Hà Tây.
92. Hoàng Quốc Vƣợng (2007), Báo cáo tại Hội thảo hỗ trợ phát triển nghề thủ công mỹ nghệ,
Hà Nội.
93. Bùi Văn Vƣợng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
94. Đinh Quý Xuân (Chủ biên) (2007), Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2010, Nxb
Thống kê.
95. Trần Minh Yến (2008), Tác động quá trình CNH, đô thị hóa tới việc làm của người nông dân
tỉnh Vĩnh Phúc, Đề tài cấp viện.
96. Trần Minh Yến (2009), “Làng nghề Bắc Ninh: Xƣa và nay”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, tr. 44.