Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội (qua khảo sát cứu hai làng nghề làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỖ VIỆT HÙNG
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
GẮN VỚI DU LỊCH Ở HÀ NỘI
(QUA KHẢO CỨU HAI LÀNG NGHỀ: LÀNG LỤA
VẠN PHÚC VÀ LÀNG GỐM BÁT TRÀNG)

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ VĂN YÊN

HÀ NỘI - 2012
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CNH, HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Đóng góp mới của luận văn 10
7. Kết cấu của luận văn: 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH 11
1.1. Cơ sở lí luận về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch 11
1.1.1. Một số khái niệm liên quan 11
1.1.2. Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch. 30
1.2. Thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch của một số
địa phương ở Việt Nam. 40
1.2.1. Thực tiễn việc phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
của một số địa phương ở Việt Nam 40
1.2.2. Kinh nghiệm rút ra đối với Hà Nội. 48
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG GẮN VỚI DU LỊCH Ở HÀ NỘI. 50
2.1. Điều kiện, chính sách, đặc điểm làng nghề của Hà Nội trong việc phát
triển làng nghề truyền thống gắn du lịch. 50
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính sách của Hà Nội trong
việc phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch. 50
2.1.2. Khái quát làng nghề truyền thống của Hà Nội. 61
2.2. Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội
hiện nay 67 2

Phát triển đa dạng và kết hợp các ngành nghề phù hợp với điều kiện
của từng địa phương là một trong những định hướng quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta. Điều này đã được xác định trong Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI:
"Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô thị và bố trí các điểm dân
cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề Triển khai chương
trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước
đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn". { 26, tr. 101}.
Trong những năm gần đây, phát triển làng nghề đang được nhiều địa
phương quan tâm, phát triển. Đây là một trong những giải pháp quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội,
bảo tồn các giá trị văn hóa của mỗi địa phương. Các làng nghề phát triển có
khả năng kết hợp với các ngành kinh tế, trong đó có du lịch nhằm thu hút
nhiều lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng GDP của nông nghiệp,
tăng tỷ trọng GDP của công nghiệp và dịch vụ. Mặt khác, đây là ngành dựa
vào lợi thế so sánh của từng địa phương, dựa vào tài nguyên thiên nhiên, bảo
tồn tự nhiên, bảo tồn văn hóa bản địa, đặc biệt có khả năng nhanh chóng cải
thiện cuộc sống của cộng đồng địa phương góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, làng nghề ở Việt Nam, trong
đó một bộ phận quan trọng là làng nghề truyền thống với các sản phẩm là các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, chế biến nông sản đang có nhiều điều
kiện thuận lợi để phát triển, tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế 4
giới. Làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong
đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Những làng
nghề như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không

lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng. Thế mạnh của phần lớn
các làng nghề ở Hà Nội là nằm trên trục giao thông thuận lợi cả đường bộ lẫn
đường sông nên rất có lợi thế trong việc kết hợp với phát triển du lịch.
Tuy nhiên, ở Hà Nội cùng với những thế mạnh vốn có về phát triển các
làng nghề truyền thống, về gắn kết với các loại hình dịch vụ du lịch và thực tế
đã thu hút được một số lượng khách đáng kể nhưng vẫn là những nỗ lực tự
phát, chưa có quy hoạch, việc khai thác vẫn còn nhỏ lẻ, chưa tương xứng với
tiềm năng, chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp, còn gặp nhiều khó
khăn, bất cập trong việc liên kết phát triển. Chưa phát huy tối đa vai trò, thế
mạnh trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, chưa phát huy
lợi thế so sánh trong phát triển bền vững, chưa phù hợp với tình hình thực tế,
với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và với xu hướng vận động, phát triển
của nền kinh tế. Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để việc phát triển làng
nghề truyền thống gắn với du lịch, phát huy được tiềm năng và hiệu quả, đóng
góp ngày một lớn, bền vững hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo
tồn các giá trị văn hóa của Hà Nội được coi là nhiệm vụ cấp thiết, nhất là
trong giai đoạn Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang từng bước hội
nhập toàn diện với châu lục và thế giới. Do đó, tác giả chọn đề tài "Phát triển
làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội" (Qua khảo sát thực tiễn
2hai làng nghề : làng Lụa Vạn Phúc và làng Gốm Bát Trang) làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ nhiều năm nay vấn đề phát triển làng nghề, phát triển du lịch đã
được nhiều học giả, các nhà khoa học và những nhà hoạch định chính sách 6
quan tâm nghiên cứu rộng rãi ở nhiều góc độ khác nhau. Căn cứ trên cơ sở
hướng nghiên cứu của đề tài có thể chia hệ thống các công trình nghiên cứu
liên quan thành các nhóm sau:

- Đề án chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, UBND Thành phố Hà Nội năm 2011.
- Đề án "Bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề Hà Nội giai đoạn từ năm
2010 đến năm 2020", UBND Thành phố Hà Nội năm 2011.
Nhóm các tác phẩm được in thành sách đã phát hành:
- “Nghề cổ truyền nước Việt”, Tác giả Vũ Từ Trang, NXB Văn hóa dân
tộc, Hà Nội 2001.
- “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH”, Tác giả
Dương Bá Phượng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2001.
- “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, Tác giả Bùi Văn
Vượng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
- “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH”, Đồng
tác giả Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, Vũ Văn Phúc, NXB Chính trị QG,
Hà Nội 2002.
- "Quy hoạch du lịch" Bùi Thị Hải Yến (2006), Nxb. Giáo dục.
- "Tài nguyên du lịch" Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long (2007),
Nxb. Giáo dục.
Nhóm các luận văn cao học, luận án Tiến sĩ:
- Mai Thế Hởn (2000), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá
trình CNH, HĐH ở vùng ven Thủ đô Hà Nội;
- Nguyễn Vĩnh Thanh (2006), Nghiên cứu vấn đề thương hiệu cho các
làng nghề truyền thống; 8
- Đinh Thị Hương (2007), Nghiên cứu chất lượng sản phẩm du lịch
phục vụ khách quốc tế đến Hà Nội;
- Hồng Thị Minh (2008), Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu
vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội);
- Bạch Thị Lan Anh (2010), Phát triển bền vững làng nghề truyền thống

truyền thống gắn với du lịch, đánh giá thực trạng (khảo cứu qua hai làng nghề
làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng) luận văn đề xuất phương hướng và
giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội một cách
có hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống
gắn với du lịch.
- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
ở Hà Nội hiện nay. (khảo cứu qua hai làng nghề làng lụa Vạn Phúc và làng
gốm Bát Tràng)
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề
truyền thống gắn với du lịch ở Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi: Đây là vấn đề rộng, luận văn tập trung nghiên cứu việc
phát triển làng nghề truyền thống có tính chất điển hình, có tiềm năng phát
triển gắn với du lịch ở Hà Nội.
- Về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay.
- Về không gian: Khảo cứu trong hai làng nghề tiêu biểu của Hà Nội là
làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng. 10
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp chung:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp
nghiên cứu lý thuyết.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

1.1. Cơ sở lí luận về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Phát triển, phát triển bền vững.
* Quan niệm phát triển:
Phát triển nói chung theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó diễn ra vừa dẫn dần, vừa nhảy
vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới, thay thế cái cũ. {8, tr. 99}
Phát triển kinh tế, dưới góc độ kinh tế chính trị là sự tăng trưởng kinh tế
gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và việc nâng cao chất lượng
cuộc sống. Phát triển kinh tế gắn với 3 nội dung cơ bản:
Một là, sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Phản ánh
mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
Hai là, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện tỷ trọng
công nghiệp, dịch vụ tăng trong GDP còn tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống.
Phản ánh chất lượng tăng trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất đảm bảo
cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ba là, mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự
tăng lên của thu nhập thực tế, của chất lượng y tế, giáo dục. Phản ánh mặt
công bằng của tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, phát triển kinh tế bao hàm tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản, đầu tiên để giải 12
quyết công bằng xã hội, là mục tiêu phấn đấu của nhân loại và là động lực
quan trọng của sự phát triển.
* Quan niệm về phát triển bền vững:
Thuật ngữ "phát triển bền vững" lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1890

Việt Nam giúp rút ra kết luận chung rằng: "phát triển bền vững là sụ phát triển
nhằm thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai".
Cũng như vậy, phát triển bền vững làng nghề là quá trình phát triển lâu
dài, có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa trong việc sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực, duy trì được năng suất lao động, đảm bảo liên tục tạo ra những
sản phẩm và dịch vụ mang tính văn hóa, truyền thống, đáp ứng nhu cầu hiện
tại mà không gây ra những nguy hại đến các thế hệ mai sau. Phát triển bền
vững làng nghề cũng phải dựa trên 3 trụ cột của phát triển bền vững:
+ Phát triển bền vững về kinh tế là: Bảo đảm hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế trong làng nghề phát triển lâu dài với năng suất
và hiệu quả cao.
+ Bền vững về mặt xã hội là: bảo đảm sản xuất, kinh doanh phải tuân
thủ các quy định của pháp luật, giữ gìn và phát triển bản sắc và giá trị văn hóa
của ngành nghề, đồng thời thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội,
đảm bảo quyền hạn và quyền lợi, nâng cao đời sống và năng lực cho những
đối tượng tham gia hoạt động sản xuất trong làng nghề và quan hệ với cộng
đồng địa phương.
+ Bền vững về môi trường là: bảo đảm sản xuất, kinh doanh phải đi đôi
với duy trì sự cần bằng sinh thái và môi trường tự nhiên không bị suy thoái,
đồng thời không gây tác hại đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu đối
với các hoạt động kinh tế khác trong làng nghề.
14
1.1.1.2. Ngh truyn thng, lng ngh truyn thng.
* Ngh truyn thng:
Nghề truyền thống là một hiện tợng kinh tế văn
hoá đặc sắc ở Việt Nam.

dao, kéo.
4) Mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống: nh
nề, mộc, sản xuất vật liệu xây dựng.
5) Mặt hàng đợc chế biến từ lơng thực phẩm: nh
bánh cuốn, rợu.
Khi nói tới nghề truyền thống phải nói tới phờng
nghề, hội nghề. Đó là những thợ thủ công cùng nghề
nhóm họp lại thành một tổ chức có luật lệ riêng. Ví
dụ: Thăng Long trớc kia có 36 phố phờng trong đó
có nhiều phờng nghề (Hàng Bạc, Hàng Khay).
Còn tổ nghề là những ngời có đức, có công dạy
nghề, hay phát minh ra nghề. Tổ nghề thì không nhất
thiết phải là ngời ở điạ phơng đó. Một số làng tổ
nghề đợc suy tôn là thành hoàng làng hoặc đợc lập
miếu thờ.
Nh vậy, nghề truyền thống là những nghề phi
nông nghiệp tồn tại trong một thời gian dài và
thờng gắn với một địa phơng nhất định.
* Lng ngh truyn thng.
Lng ngh:
Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn
vị hành chính ở nông thôn bao hàm là một tập hợp 16
cộng đồng dân c trên một lănh thổ xác định, có khả
năng độc lập về kinh tế. Trong điều kiện chống
ngoại xâm thiên tai thì họ là một cộng đồng thống
nhất. Họ còn là một cộng đồng văn hoá gắn liền biểu
tợng cây đa, giếng nớc, mái đình, nhà thờ.

đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề hiện
nay không còn nhiều. Ví dụ như nghề Gốm chỉ có Phù Lãng (Bắc Ninh), Bát
Tràng (Hà Nội), Đông Triều (Quảng Ninh) , Đó là những làng thuần nhất
không làm ruộng, còn đại đa số là vừa làm ruộng, vừa làm nghề. Ở đây thủ
công chỉ là nghề phụ để tăng thu nhập. Thậm chí ở Bát Tràng, chuyên nghề
gốm, nhưng không phải tất cả dân làng đều làm nghề này; số người làm nghề
gốm chỉ chiếm 50% dân số, còn 50% là nghề khác như buôn bán, làm nề,
mộc, may vá
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây
không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ
công nhiều khi cũng là người làm nông nghiệp. Nhưng do yêu cầu chuyên
môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên môn sản xuất thủ công truyền
thống ngay tại làng nghề hay phố nghề nơi khác. Với quan niệm như vậy chưa
đủ, vì không phải bất cứ làng nào có vài gia đình làm nghề nào đó đều là làng
nghề. Để xác định làng đó có phải là làng nghề hay không cần xem xét tỉ
trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỉ
trọng thu nhập từ ngành nghề so với thu nhập của làng.
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy
tục các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu
đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội,
kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ và có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa
phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất và tồn 18
tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công
nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội một cách
tích cực.
Từ các quan niệm trên có thể hiểu rằng: Làng nghề là một thiết chế
kinh tế - xã hội, là một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn,

văn hóa dân tộc.
Nhìn chung các quan niệm về làng nghề truyền thống nói trên chưa đầy
đủ. Các quan niệm mới thể hiện được yếu tố
* Đặc điểm làng nghề truyền thống:
- Điều kiện sản xuất, kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và
ngành nông nghiệp.
Nghề thủ công truyền thống bắt nguồn từ nông nghiệp mà ra và gắn
liền với sự phân công lao động ở nông thôn. Trước đây hàng loạt các nghề thủ
công truyền thống ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung, tự cấp của
người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Không những vậy, nghề
truyền thống còn dựa vào nông nghiệp để phát triển. Nông nghiệp là nguồn
cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường
tiêu thụ rộng lớn.
Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là những người
nông dân, địa điểm sản xuất của nghề thủ công truyền thống là tại gia đình họ.
Họ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với cả việc sản xuất
nông nghiệp những lúc mùa vụ và nghề thủ công những lúc nông nhàn.
- Đặc điểm về sản phẩm của làng nghề truyền thống.
Sản phẩm của làng nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống, sinh
hoạt và sản xuất cho chính người dân. Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể
vừa là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ hoặc 20
chỉ là vật để dùng trang trí ở nhà, công sở, nơi tôn nghiêm như đình, chùa.
Các sản phẩm nghề thủ công truyền thống đạt tới nét tinh xảo, điêu luyện, đạt
tới đỉnh cao nghệ thuật trang trí, nhìn vào sản phẩm có thể biết xuất xứ sản
phẩm; thậm chí trong làng nghề truyền thống người ta có thể đánh giá gia
đình nào đã làm ra sản phẩm này.
Truyền thống nghề với truyền thống văn hóa vùng miền, tập quán,

khi thời vụ hoặc khi chạy hàng thì có thể thuê thêm lao động. Mọi thành viên
trong gia đình đều có thể tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm
công việc phù hợp nhưng bao giào cũng có ít nhất 1 hoặc 2 người chịu trách
nhiệm chính về kỹ thuật, quản lý, điều hành, giao dịch do đó, mô hình sản
xuất hộ gia đình gắn với đặc trưng là quy mô nhỏ.
Tuy nhiên, xét về vai trò đây là mô hình sản xuất phù hợp nhất với cơ
sở vật chất của làng nghề, nên đã phát huy được nhiều ưu điểm trong sản xuất
kinh doanh: Tận dụng, tranh thủ được thời gian lao động; linh hoạt trong sản
xuất kinh doanh; hiệu quả kinh tế được hạch toán cụ thể, kịp thời, kích thích
sản xuất nhanh nhất và có sự phù hợp giữa quy mô, năng lực sản xuất với
trình độ quản lý.
Tổ sản xuất: Xuất hiện do các chủ thể kinh tế độc lập liên kết lại nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế, thỏa mãn lợi ích kinh tế chung. Các đơn vị kinh tế
độc lập mà chủ yếu là hộ gia đình được ký hợp đồng sản xuất lớn mà không
thể đảm nhiệm được do hạn chế về vốn, lao động, thời gian thanh lý hợp
đồng. Từ thực trạng này đã xuất hiện sự liên kết, hợp tác giữa các hộ gia đình
để cùng sản xuất, cùng chia sẻ những khó khăn và lợi ích giữa các bên.
Hợp tác xã cũng là mô hình sản xuất quan trọng trong các làng nghề.
Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là sự tự nguyện tham gia của các chủ thể
kinh tế độc lập tự chủ, đóng góp vốn theo điều lệ hợp tác xã và được chi lãi 22
theo cổ phần. Vốn đóng góp có thể là hiện vật hoặc tiền, nếu là hiện vật sẽ
được quy đổi theo giá cả thị trường lúc đó. Hình thức phân phối theo lao động
và vốn cổ phần theo các chủ thể kinh tế đóng góp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần: Đây là hình thức mới
xuất hiện ở làng nghề truyền thống và phát triển sau khi luật doanh nghiệp ra
đời. Được xuất hiện từ những chủ thể kinh tế có số vốn lớn và năng động
trong cơ chế thị trường. Mặc dù mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status