1
Vận dụng các giá trị trong tư tưởng về giáo dục
của Nho giáo vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở
nước ta hiện nay
Đặng Hồng Hà
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Chuyên ngành: Triết học; Mã số: 60.22.80
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Công Nhất
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Trình bày một cách có hệ thống những tư tưởng giáo dục của Nho giáo thông
qua một số triết gia tiêu biểu, từ đó đánh giá những mặt tích cực cũng như hạn chế trong tư
tưởng giáo dục của Nho giáo. Chỉ ra những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Đề xuất một số định hướng vận
dụng các giá trị tư tưởng giáo dục của Nho giáo đối với việc phát triển giáo dục ở Việt
Nam hiện nay.
Keywords. Triết học phương Đông; Nho giáo; Tư tưởng triết học; Giáo dục
Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trung Quốc là một trong những trung tâm văn hóa lớn, rực rỡ và phong phú nhất của
nền văn minh phương Đông. Tư tưởng triết học Trung Quốc từ lâu đã khẳng định được vị
trí của mình trong tiến trình phát triển chung của lịch sử tư tưởng nhân loại với những tên
tuổi của các nhà triết học nổi tiếng. Nho giáo là một trong những học thuyết triết học và
chính trị xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại. Mặc dù ra đời từ rất sớm
đầu tư phát triển”. Bởi vậy, giáo dục và đào tạo đang trở thành một trong những vấn đề
cấp thiết ở nước ta hiện nay. Trước thực trạng nền giáo dục Việt Nam trong những năm
gần đây đang gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc, cũng không tránh khỏi những thiếu
sót, bất hợp lý khiến nhiều người cho rằng nền giáo dục nước ta hiện nay đang gặp phải
“khủng hoảng trầm trọng”. Một trong những vấn đề cấp bách hiện nay là cần đưa ra những
giải pháp nhằm góp phần xây dựng và phát triển nền giáo dục nước ta. Để làm được điều
đó, một trong những việc không thể bỏ qua là cần phải nghiên cứu tư tưởng giáo dục của
các bậc tiền bối trong lịch sử để kế thừa những tinh hoa trong quan điểm giáo dục của họ.
Đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể, tư tưởng giáo dục của Nho giáo tuy có nhiều
điểm hợp lý, tích cực nhưng không tránh khỏi những yếu tố hạn chế, không còn phù hợp
với thực tiễn nước ta hiện nay. Với chặng đường khoảng 2000 năm du nhập vào nước ta,
tư tưởng giáo dục nói riêng và tư tưởng triết học của Nho giáo nói chung có nhiều bước
thăng trầm, thịnh suy. Có thời kỳ, Nho giáo được đề cao, độc tôn nhưng có những lúc,
Nho giáo đã bị bài xích, xóa bỏ. Thời gian gần đây có nhiều ý kiến trái ngược nhau khi
đánh giá về tư tưởng giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp phát
triển giáo dục ở nước ta hiện nay. Có ý kiến cho rằng cần khôi phục những tư tưởng giáo
dục của Nho giáo nhưng cũng có ý kiến cho rằng cần xoá bỏ nó trong thời đại ngày nay vì
nó đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp nữa. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá tư tưởng
giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta
3
hiện nay là một vấn đề cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn đáp ứng những yêu
cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển giáo dục của nước ta hiện nay. Với những ý nghĩa như
vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Tư tưởng giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành triết học.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài này, chúng tôi đã được tiếp xúc với một
nguồn tài liệu bằng tiếng Việt rất phong phú. Những tài liệu được chúng tôi đưa vào trong
danh mục tài liệu tham khảo dù ít dù nhiều đều liên quan đến nội dung của luận văn nên
ta quan tâm. Vì vậy, khi tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi cũng có điều kiện được tiếp xúc
với rất nhiều cuốn sách, nhiều bài báo, tạp chí như: Lê Ngọc Anh (1999), Về ảnh hưởng
của Nho giáo ở Việt Nam; Nguyễn Văn Bình (2001), Quan niệm Nho giáo về các mối
quan hệ xã hội và ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay; Phan Đại Doãn
(1999), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam; Vũ Khiêu (1997), Nho giáo và phát triển ở Việt
Nam; Nguyễn Thế Long (1995), Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử… Những công
trình nghiên cứu trên đã trình bày ở những góc độ khác nhau ảnh hưởng của Nho giáo đối
với văn hóa xã hội Việt Nam nói chung và nền giáo dục, thi cử trong thời kỳ phong kiến.
Ở mảng đề tài này, chúng tôi được tiếp xúc với ba công trình nghiên cứu một cách công
phu, kỹ lưỡng ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo đối với con người và việc đào tạo con
người Việt Nam như: Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009), Quan niệm nho giáo về con người,
về giáo dục và đào tạo con người; Nguyễn Thị Nga - Hồ Trọng Hoài (2003), Quan niệm
của Nho giáo về giáo dục con người; Nguyễn Xuân Tiệp (2009), Tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết
học… Những công trình này đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong việc nhìn nhận,
đánh giá ảnh hưởng của giáo dục Nho giáo đối với việc giáo dục và đào tạo con người ở
Việt Nam. Tuy nhiên, cả ba công tình trực tiếp nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục Nho
giáo như chúng tôi vừa kể trên chủ yếu mới chỉ chú ý đến hưởng của giáo dục Nho giáo
với việc giáo dục nhân cách cho con người hoặc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện
nay chứ chưa chỉ ra những ảnh hưởng rõ nét đến giáo dục nói chung ở Việt Nam trong bối
cảnh đất nước đổi mới, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Đó cũng là một cơ hội để chúng
tôi có thể có những đóng góp mới mẻ khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục
Nho giáo đối với giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Mảng thứ ba: Những tài liệu nghiên cứu về giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng
là mảng đề tài chúng tôi được tiếp xúc với với những công trình nghiên cứu của những nhà
khoa học hàng đầu, có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam hiện nay
như: Hoàng Chí Bảo (2001), Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cách mạng giáo
dục - đào tạo trong các nhà trường ở nước ta hiện nay; Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc
Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp; Phạm Văn
Đồng (1999), Vấn đề giáo dục - đào tạo; Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam
Ba là, bước đầu đề xuất một số định hướng vận dụng các giá trị tư tưởng giáo dục của
Nho giáo đối với việc phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là: tư tưởng giáo dục của Nho giáo
và thực tiễn vận dụng tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong quá trình xây dựng và phát
triển giáo dục Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Về lý luận: Luận văn không trình bày toàn bộ nội dung của học thuyết Nho giáo nói
chung mà chỉ tập trung làm rõ tư tưởng giáo dục của trường phái này. Tuy nhiên, trong
giới hạn của một đề tài luận văn thạc sĩ, tác giả không khảo sát tư tưởng giáo dục của Nho
giáo trong suốt tiến trình phát triển mà chỉ đi sâu phân tích những tư tường giáo dục của
Nho giáo sơ kỳ qua tư tưởng của một số nhà triết học tiêu biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử,
Tuân Tử.
Về thực tiễn, luận văn không trình bày ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo với
toàn bộ tiến trình giáo dục của Việt Nam trong lịch sử mà chỉ tập trung làm rõ ảnh hưởng
6
của tư tưởng giáo dục của Nho giáo đối với việc phát triển giáo dục ở Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống những quan điểm có tính chất phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu lịch sử triết học
nói chung và tư tưởng giáo dục của Nho giáo nói riêng. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng
những quan điểm, đường lối cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát
triển giáo dục trong thời kỳ đổi mới làm cơ sở lý luận để nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu, Luận văn chủ yếu dựa trên những phương pháp nghiên cứu
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời có sự kết hợp
với các phương pháp khác như phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp phân tích, tổng
hợp, khái quát… trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học của
học phái Nho giáo nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng cùng những công trình nghiên
1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội xuất hiện tư tưởng giáo dục của Nho giáo
Cũng như nhiều trường phái triết học khác trong lịch sử, tư tưởng triết học của Nho
giáo nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng được ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, gắn với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc thời cổ đại.
1.1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại khi Nho giáo xuất hiện
Tư tưởng triết học của Nho giáo ra đời chủ yếu trong thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc.
Đó là thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, bắt đầu thời kỳ đang lên của chế độ
phong kiến sơ kỳ.
Về lịch sử, chế độ chiếm hữu nô lệ của Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại
nhà Hạ, qua nhà Thương đến cuối nhà Tây Chu thì bắt đầu bước vào giai đoạn khủng
hoảng và ngày càng đi tới suy tàn. Những năm đầu của nhà Chu, xã hội vẫn còn có trật tự
trên dưới, thứ bậc từ thiên tử cho đến thứ dân. Theo sử sách ghi lại, đây là một thời kỳ yên
ổn, xã hội có trật tự và quy tắc.
Về kinh tế, ở thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng
sang thời đại đồ sắt. Việc dùng bò kéo cày đã bắt đầu trở nên phổ biến, góp phần từng
bước giải phóng sức lao động của con người. Thời kỳ này cũng có nhiều phát minh mới về
công cụ lao động, nhất là kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt, đã đem lại những tiến bộ
mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Đây là thời kỳ phát triển
của chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Cuối thời Xuân thu - đầu thời Chiến quốc,
thương nghiệp cũng phát triển. Điều đó được đánh dấu bằng sự ra đời của tiền tệ.
Về chính trị - xã hội, ở thời Xuân thu, chế độ tông pháp của nhà Chu không còn được
tôn trọng như ban đầu. Mối quan hệ về chính trị - xã hội giữa thiên tử và các nước chư hầu
ngày càng trở nên lỏng lẻo. Thời kỳ Xuân thu kéo dài khoảng 242 năm nhưng có đến hơn
480 cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Trong thời kỳ này, xã hội Trung Hoa không chỉ xảy ra chiến
tranh liên miên giữa các nước mà trong mỗi gia đình, cha con, anh em, vợ chồng cũng
thường xuyên xảy ra tranh cãi, chia lìa. Tình cảnh đó khiến Khổng Tử gọi là sự băng hoại
những giá trị đạo đức tốt đẹp.
Sự thay đổi lớn lao của lịch sử, sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho mâu thuẫn
giữa các tầng lớp trong xã hội ngày càng tăng, những giá trị đạo đức bị xáo trộn, những
cuộc chiến tranh xảy ra liên miên trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này đã đặt ra một vấn
Các nhà Nho đều quan niệm giáo dục là biện pháp để hướng con người tới những phẩm
chất cao quý như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đó là những giá trị chuẩn mực của con người
trong xã hội phong kiến.
Các nhà Nho mà tiêu biểu là Khổng Tử đã đưa ra những quan niệm rất cụ thể về giáo
dục. Giáo dục là cần thiết cho tất cả mọi người nên ai ai cũng có cơ hội được học tập. Giáo
dục là công cụ hữu hiệu nhất và là con đường ngắn nhất để đào tạo lớp người cai quản và
thống trị xã hội theo hệ tư tưởng phong kiến. Đó là lớp người quân tử. Thông qua giáo
dục, các nhà Nho còn muốn truyền bá hệ tư tưởng phong kiến của giai cấp thống trị thấm
sâu đến mọi tầng lớp trong xã hội (đặc biệt là đối với giai cấp bị trị) và chiếm địa vị độc
tôn để đảm bảo ổn định trật tự xã hội lúc bấy giờ.
9
1.2.2. Về mục tiêu giáo dục
Hầu hết các nhà Nho đều cho rằng mục đích bao trùm của việc giáo dục là nhằm tạo ra
những con người thích nghi với điều kiện xã hội và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức
trách, bổn phận của mình. Nho giáo đã đưa ra một số mục tiêu cụ thể của giáo dục như
sau: Thứ nhất, giáo dục là để hình thành nhân cách lý tưởng. Thứ hai, giáo dục là để đào
tạo ra đội ngũ quan lại nhằm giúp ích cho nước nhà. Thứ ba, giáo dục là để tỏ cái đức
sáng, đạt tới chỗ chí thiện. Như vậy, có thể nói mục đích chính của giáo dục theo quan
điểm của Nho giáo là nhằm đào tạo ra những con người lý tưởng, có sự hoàn thiện cả về
đạo đức, nhân cách cũng như tri thức, lối sống. Những con người đó chính là trụ cột lý
tưởng mà các nhà Nho vẫn kỳ vọng.
1.2.3. Về nội dung giáo dục
Tiền đề lịch sử - xã hội cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Nho giáo là bối cảnh lịch
sử, kinh tế - xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc. Đó là giai đoạn lịch sử mà xã hội Trung
Quốc cổ đại có nhiều biến động với nhiều sự đảo lộn lớn, nhất là về mặt đạo đức con
người. Trước thực trạng đó, các nhà Nho đã chủ trương giáo dục “đạo làm người” cho tất
cả mọi người, tức là thông qua giáo dục mà đào tạo ra những con người cần có và phù hợp
với yêu cầu của giai cấp thống trị, những con người luôn luôn suy nghĩ và hành động theo
cho học trò noi theo. Nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh mẽ với người
học, người học sẽ nhìn vào tấm gương là thầy mà tin rằng những điều thầy giảng dạy
chính là chân lý, là những điều đúng đắn, tốt đẹp. Như vậy, theo quan điểm của Nho giáo,
người thầy đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Người thầy không chỉ
có vai trò định hướng cho học trò mà còn giúp cho học trò có thể bỏ ác, tích thiện, hướng
đến những giá trị tốt đẹp của đạo đức, nhân cách. Do đó, có thể nói, để việc giáo dục thật
sự có hiệu quả không thể thiếu vai trò của người thầy.
1.3. Một số nhận xét, đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng giáo dục
của Nho giáo
Tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng giáo dục của Nho giáo nói riêng đã từng có
một ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà cả với
rất nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nó đã để lại dấu ấn đậm nét trong đường lối
giáo dục của nhiều quốc gia trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài. Sở dĩ có được những dấu ấn
đậm nét đó là vì tư tưởng giáo dục của Nho giáo đã chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý, đã trở
thành công cụ hữu hiệu của nhiều triều đại lịch sử trong việc giáo hóa dân chúng để giữ
gìn trật tự xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng giáo dục của Nho giáo ra đời trong điều kiện hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc nên cũng không tránh khỏi
những nhược điểm, hạn chế.
1.3.1. Những giá trị tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo
Tư tưởng giáo dục của Nho giáo từ quan niệm chung về giáo dục, mục đích giáo dục,
nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục đều chứa đựng nhiều yếu tố tích cực.
Thứ nhất, về quan niệm giáo dục. Các nhà Nho cho rằng giáo dục là một việc làm cần
thiết vì mỗi con người dù thiện hay ác đều cần phải được giáo dục. Vì thế, Nho giáo đã
chủ trương “hữu giáo vô loại”. Có thể nói đây là chủ trương bình dân hóa trong giáo dục.
Quan điểm đó đã vượt qua đẳng cấp, danh phận trong xã hội để góp phần đưa sự nghiệp
giáo dục con người đến với mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Cũng từ quan điểm này,
Nho giáo đã phá vỡ đặc quyền của tầng lớp quan lại, quý tộc, làm cho giáo dục mang tính
chất phổ cập bình dân.
11
đổ của nhà Chu là một tất yếu lịch sử nên các ông luôn muốn níu kéo, muốn khôi phục lại
chế độ tông pháp của nhà Chu, đề cao “pháp tiên vương”. Đây có thể coi là cách thức kéo
lùi lịch sử bằng ý muốn chủ quan. Chính điều đó đã bó buộc con người, đã tạo nên những
khuôn phép chật hẹp, hà khắc, không tránh khỏi sự giáo điều, cứng nhắc.
Thứ ba, về nội dung giáo dục. Mặc dù đề cao việc giáo dục đạo đức trong hoàn cảnh xã
hội lúc bấy giờ là rất quan trọng và cần thiết nhưng nội dung giáo dục đó chưa đủ, mang
tính lý tưởng nhiều hơn hiện thực. Khổng Tử đã từng khẳng định có ba thứ quan trọng đối
12
với một quốc gia như “thứ”, “phú”, “giáo” nhưng trong nội dung giáo dục, Khổng Tử lại
tách giáo dục ra khỏi hoạt động chính yếu, có tính chất quyết định sự tồn tại của xã hội là
hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Các nhà Nho đều đánh giá thấp hoạt động này.
Quan điểm đó đã cho thấy các nhà Nho định hướng con người theo một chiều, đề cao vai
trò của yếu tố tinh thần, xa rời các hoạt động vật chất, hoạt động cải tạo tự nhiên. Do đó,
nội dung của giáo dục Nho giáo chưa thật sự đầy đủ, chưa chú trọng đến việc giáo dục
những kiến thức về khoa học tự nhiên, kỹ thuật sản xuất, canh tác cho con người.
Thứ tư, về phương pháp giáo dục. Mặc dù các phương pháp giáo dục mà các Nho giáo
đưa ra chứa đựng nhiều điểm tích cực, mới mẻ, tiến bộ song cũng không tránh khỏi những
mâu thuẫn, hạn chế. Hạn chế rõ nét nhất là mặc dù đề ra chủ trương cần áp dụng phương
pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học nhưng các nhà Nho lại bó
hẹp sự sáng tạo trong khuôn khổ sẵn có của nhà Chu. Điều đó đã khiến cho những phương
pháp giáo dục của Nho giáo dù rất tiến bộ nhưng không thật sự triệt để.
Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIÁI PHÁP PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ
MẶT TIÊU CỰC TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
CỦA NHO GIÁO VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
là một nhu cầu thiết yếu, có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.
Việc đổi mới giáo dục gắn liền với tiến trình đổi mới đất nước và cần phải tiếp tục đổi mới
2.1.2. Sự cần thiết phải vận dụng các giá trị tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong
sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Sự cần thiết cần phải vận dụng các giá trị trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong
sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay theo chúng tôi cần phải
được xét cả trên bình diện lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, tư tưởng giáo dục của Nho giáo tuy ra đời từ rất lâu , không tránh khỏi
những hạn chế, mâu thuẫn do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội của Trung Hoa cổ đại chi
phối nhưng lại chứa đựng rất nhiều yếu tố hợp lý, tích cực, tiến bộ. Tư tưởng giáo dục của
Nho giáo chính vì thế đã trở thành đường lối chính trị - xã hội của Trung Quốc và Việt
Nam trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài.
Về mặt thực tiễn, nền giáo dục Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới và phát triển
tuy đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhưng đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thử
thách rất lớn. Những hạn chế đó có thể từng bước được khắc phục nếu biết kế thừa những
ưu điểm trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo về nội dung giáo dục, phương pháp giáo
dục; đồng thời rút kinh nghiệm từ những hạn chế trong tư tưởng giáo dục của trường phái
này. Do đó, sự cần thiết phải kế thừa những giá trị trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo
theo chúng tôi cần được hiểu từ hai góc độ: kế thừa những giá trị tích cực và rút kinh
nghiệm từ những tiêu cực, hạn chế.
2.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia ở Châu Á và những giải pháp
phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo
vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam là một nước đi sau trong việc phát triển
kinh tế - xã hội, khoa học và giáo dục. Do hoàn cảnh đất nước nhiều năm có chiến tranh,
14
lại xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu nên nền kinh tế - xã hội
của nước ta bị tụt hậu khá xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Điều đó đã
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục ở nước ta. Vì vậy, để thật sự có chiến lược
ngừng phát triển.
Thứ tư, cả ba nước Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore đều tiến hành chính sách mở cửa
trong chính sách phát triển giáo dục. Điều đó không chỉ gia tăng uy tín của các nước này
15
trong phát triển giáo dục mà còn góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế - xã hội
của Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore.
Thứ năm, mặc dù đều là các quốc gia phát triển nhưng nội dung giáo dục của các quốc
gia này không vì thế mà quên đi những giá trị truyền thống. Điều dễ nhận thấy là ảnh
hưởng của Nho giáo đối với việc phát triển nền giáo dục ở các nước này là khá rõ.
Những bài học kinh nghiệm từ việc phát triển giáo dục của ba nước Nhật Bản, Trung
Quốc, Singapore như đã kể trên xét ở một góc độ nhất định có nhiều điểm tương đồng với
những bài học mà chúng ta có thể kế thừa từ những tư trưởng giáo dục của Nho giáo về
mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục. Điều đó chứng tỏ những tinh hoa tinh thần của
nhân loại tuy trải qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được giá trị bền vững của
mình và cần được chúng ta kế thừa một cách biện chứng và khoa học.
2.2.2. Những giải pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tư tưởng
giáo dục của Nho giáo vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Từ việc nghiên cứu tư tưởng của Nho giáo về giáo dục, chúng tôi mạnh dạn đề xuất
những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong tư tưởng giáo dục
của Nho giáo vào sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục ở Việt Nam. Khi nghiên cứu
những tài liệu về giáo dục ở nước ta hiện nay, chúng tôi nhận thấy đã từng có rất nhiều
giải pháp được đưa ra ở những góc độ khác nhau nhưng trong giới hạn của đề tài luận văn
thạc sĩ, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp dưới đây. Có thể coi đây là ý nghĩa
phương pháp luận của việc nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Nho giáo.
Một là, cần phải kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục tri thức và giáo dục lý tưởng;
Hai là, phải coi trọng tự giáo dục, phát huy sự tu dưỡng, học tập và rèn luyện cá nhân;
Ba là, phải kết hợp giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội;
Bốn là, phải có sự kết hợp giữa học và hành
Có thể nói, những giải pháp trên được đưa ra trên cơ sở kế thừa những giá trị tích cực
sống hàng ngày và cũng cần phải tham gia tòng chính (làm chính sự). Muốn cho việc giáo
dục có hiệu quả, theo tư tưởng của Nho giáo là cần phải biết phân loại học trò, tùy từng
đối tượng học trò mà áp dụng những phương pháp dạy học khác nhau; cần có sự kết hợp
giữa học và tập, giữa thầy và trò; người thầy có vai trò quan trọng với việc dạy học nhưng
cũng phải biết tôn trọng học trò; người học cần chủ động, tích cực trong học tập, thường
xuyên “ôn cố tri tân”. Có thể nói, với những mặt tích cực trên, tư tưởng giáo dục của Nho
giáo có tính vượt trước thời đại. Nó cũng thể hiện tâm huyết của các nhà Nho trong việc
dạy người và mong muốn xã hội được thịnh trị, thái bình. Cũng vì lẽ đó mà các nhà Nho
luôn được học trò kính trọng, nể phục; luôn được hậu thế tôn vinh là “vạn thế sư biểu”
(người thầy của muôn đời).
Bên cạnh những mặt tích cực trên, tư tưởng giáo dục của Nho giáo cũng không tránh
khỏi nhưng hạn chế, tiêu cực kể cả về quan niệm giáo dục, nội dung và phương pháp giáo
dục. Mặc dù đưa ra tư tưởng “hữu giáo vô loại” nhưng Nho giáo lại tỏ rõ sự khinh miệt với
tầng lớp bình dân, nhất là phụ nữ và cho rằng những người này học chỉ để biết phục tùng
tầng lớp trên. Hơn nữa, trong nội dung giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều điểm phiến
diện, chưa hoàn chỉnh. Nho giáo mới chỉ chú trọng đến việc giáo dục đạo đức cho người
học, chưa chú ý đến việc giáo dục kiến thức về tự nhiên, về lao động sản xuất, mới chỉ chú
trọng đến hoạt động tinh thần mà chưa đánh giá đúng vai trò của những hoạt động sản xuất
vật chất - hoạt động đầu tiên và cơ bản tạo nên sự tồn tại của con người. Bên cạnh đó, các
phương pháp giáo dục lại chỉ bó hẹp trong khuôn khổ của nhà Chu - một khuôn khổ chật
hẹp, không còn phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội lúc bấy giờ. Có thể lý
17
giải những hạn chế trên là do ảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến vốn mang tính bảo thủ,
trì trệ; đồng thời cũng xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.
Điều này hoàn toàn hợp lý, thể hiện tính giai cấp của triết học nói riêng và của tư tưởng
nhân loại nói chung.
Tuy nhiên, không vì những hạn chế đó mà tư tưởng giáo dục của Nho giáo trở nên mờ
nhạt. Tư tưởng giáo dục của trường phái này đã từng có một ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống chính trị - xã hội của Trung Quốc cũng như của một số nước chịu ảnh hưởng của văn
18
References.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Ngọc Anh (1999), “Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học,
(3), tr.19-21.
2. Minh Anh (2004), “Về học thuyết luân lí và đạo đức của Nho giáo”, Tạp chí Triết
học, (8).
3. Hoàng Chí Bảo (2001), “Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cách mạng giáo
dục - đào tạo trong các nhà trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học Xã hội,
(5), tr.61-67.
4. Nguyễn Ngọc Bảo (1997), “Bước đầu suy nghĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh về học đi
đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tế”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (5), tr.7-9.
5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai
vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Nguyễn Thanh Bình (2000), “Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện
con người”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (5), tr.35-38.
7. Nguyễn Thanh Bình (2001), “Đôi điều suy nghĩ về đối tượng giáo dục giáo hoá của
Nho giáo”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (10), tr.50-54.
8. Nguyễn Văn Bình (1999), “Cách xem xét đánh giá con người thông qua các mối
quan hệ xã hội cơ bản của Nho giáo - một giá trị cần kế thừa và phát triển”, Tạp chí
Triết học, (3), tr.15-19.
9. Nguyễn Văn Bình (2001), “Quan niệm Nho giáo về các mối quan hệ xã hội. ảnh
hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta ngày nay”, Tạp chí Triết học, (3), tr.22-24.
10. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại cương triết học Trung Quốc, tập 1, Nxb.
Thanh niên, Tp. Hồ Chí Minh.
11. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại cương triết học Trung Quốc, tập 2, Nxb.
Thanh niên, Thành phố Hồ Chí Minh.
12. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (1994), Tuân Tử, Nxb. Văn hoá, Hà Nội.
Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Nguyễn Thị Thanh Hà (2007), Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng nhân
cách đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
29. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển
- kinh tế, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỉ XXI, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
32. Phạm Minh Hạc (2003) Về giáo dục, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Tử Hoàn (2004), “Nho giáo với gia đình Việt Nam truyền thống”, Tạp chí Đông
Nam Á, (12).
34. Dương Hồng, Vương Thành Trung, Nhiệm Đại Viện, Lưu Phong (chú dịch) (2006),
Tứ thư, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội.
35. Đỗ Thị Hoà Hới (1998), “Tìm hiểu một số đặc điểm nhân văn Hồ Chí Minh”, Tạp
chí Triết học, (4), tr.8-12.
20
36. Nguyễn Sinh Huy (1995), “Tiếp cận xu thế đổi mới phương pháp dạy học trong giai
đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (3), tr.4-9.
37. Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng triết học phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu, Nxb. Văn học, Hà Nội.
38. Đặng Hữu (2008), “Phát triển nguồn lực con người cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trên cơ sở tiếp tục đổi mới giáo dục - đào tạo”, Tạp chí Khoa học Xã hội, (1),
tr.8-16.
39. Trần Đình Hựu (1999), Văn học Việt Nam và Nho giáo Việt Nam trung cận đại,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
40. Chu Hi (1998), Tứ thư tập chú, Nguyễn Đức Lân dịch, Nxb. Văn hoá - Thông tin,
Hà Nội.
Nam, Hà Nội.
57. Mạnh Tử phần hạ (1996), Đoàn Trung Còn dịch, Nxb. Thuận Hoá, Huế.
58. Hà Thúc Minh (1996), Lịch sử triết học Trung Quốc, tập 1, Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh.
59. Hà Thúc Minh (2001), Đạo Nho và văn hoá phương Đông, Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh.
60. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
61. Nguyễn Thị Nga - Hồ Trọng Hoài (2003), Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con
người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
62. Phạm Công Nhất (2007), “Đổi mới tư duy giáo dục để phát triển nguồn nhân lực
trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế hiện nay”, Tạp chí khoa giáo, (11).
63. Phạm Công Nhất (2008), “Góp phần xây dựng triết lý mới cho giáo dục Việt Nam”,
Tạp chí Lý luận chính trị, (11), tr.67-73.
64. Lê Khả Phiêu (1995), “Một số vấn đề cần giải quyết trong giáo dục - đào tạo để thực
hiện thật tốt Nghị Quyết TW II”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (4), tr.1-20.
65. Lê Đức Phúc (1994), “Con người trước yêu cầu phát triển trong thế kỉ XXI”, Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục, (9), tr.3-4.
66. Bùi Thanh Quất (chủ biên, 2001), Lịch sử triết học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
67. Trần Trọng Sâm - Kiều Bách Vũ Thuận (biên dịch, 2006), Tứ Thư, Nxb. Hội nhà
văn, Hà Nội.
68. Trần Xuân Sầm (1990), “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”, Giáo dục Lí
luận, (6), tr.1-3.
69. Lê Thanh Sinh (2003), “Khổng giáo với vấn đề hiện đại hoá xã hội”, Tạp chí Khoa
học xã hội, (1), Thành phố Hồ Chí Minh, tr.41-46.
70. Đinh Ngọc Thạch (1995), Quan niệm của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người,
Luận văn thạc sĩ Triết học, Viện nghiên cứu Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
71. Trần Đình Thảo (1996), Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người qua các
mối quan hệ, Luận án Phó tiến sĩ Triết học, Hà Nội.
72. Lê Sỹ Thắng (chủ biên, 1994), Nho giáo tại Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà