Việc làm ở khu vực nông thôn Thành phố Hà
Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa
Nguyễn Đức Quỳnh
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Giảng viên lý luận chính trị
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS, TS. Phí Mạnh Hồng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm rõ tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc làm của người
lao động ở nông thôn; sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động ở nông
thôn, những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm ở nông thôn. Phân tích kinh nghiệm của
một số địa phương trong việc giải quyết vấn đề việc làm trong điều kiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở Nông thôn
Hà Nội từ năm 2001 đến nay. Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho
lao động nông thôn ở Hà Nội.
Keywords: Việc làm; Thất nghiệp; Giải quyết việc làm; Khu vực nông thôn; Hà Nội
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề việc làm luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các quyết
sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia để hướng tới sự phát triển bền vững. Có việc
làm vừa giúp bản thân người lao động có thu nhập, cải thiện điều kiện sống, là cơ sở lành
mạnh hoá các quan hệ xã hội. Trên bình diện quốc gia, tạo ra việc làm đầy đủ là cơ sở để đất
nước khai thác hiệu quả các nguồn lực của mình và nền kinh tế đạt đến sản lượng tiềm năng.
Ở nước ta, theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số nông thôn Việt Nam là
bị cần thiết cho một cuộc sống "phi nông nghiệp, phi đất đai". Đây đang và sẽ là vấn đề nhức
nhối tác động lên vấn đề giải quyết việc làm của Hà Nội. Ngoài ra, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa cũng đang đặt ra những đòi hỏi rất lớn từ phía người lao động như: chỉ có nâng cao trình
độ nhận thức, kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, có thể tiếp thu và vận dụng những thành
tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất, người lao động mới có
cơ hội tìm được việc làm. Quá trình này chỉ có thể thực hiện thành công khi một mặt, người
lao động ý thức được đầy đủ những đòi hỏi đang đặt ra trước mắt cần phải vượt qua; mặt
khác, họ nhận được sự trợ giúp thích đáng của Nhà nước dưới các hình thức thích hợp trong
quá trình chuyển đổi.
Ngoài ra, giải quyết việc làm đối với lao động nông thôn Hà Nội không chỉ là vấn đề kinh
tế - xã hội nóng bỏng của bản thân khu vực nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn
đã đẩy một bộ phận không nhỏ lao động nông thôn di cư ra Thành phố kiếm sống. Điều này
dẫn đến sự mất cân đối cung - cầu lao động trong một số ngành nghề ở nông thôn, cùng với
đó nó cũng làm nảy sinh một loạt vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp khác ở Thủ đô.
Những khía cạnh trên cho thấy giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Hà Nội rõ ràng
đang nổi lên như một vấn đề kinh tế - xã hội bức thiết. Vì vậy: “Việc làm ở khu vực nông
thôn Thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa” được học viên lựa
chọn để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề việc làm và
thu nhập của người lao động được công bố ở trong và ngoài nước.
- Thị trường lao động: Thực trạng và giải pháp của PGS Nguyễn Quang Hiền, Nxb.
Thống kê, Hà Nội, 1995;
3
- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS Nguyễn Hữu Dũng, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1997;
- Thị trường lao động ở Việt Nam: Định hướng và phát triển của Thạc sỹ Nguyễn Thị Lan
Hương, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2002;
- Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình
nhằm đưa ra những giải pháp cần thiết là một công việc có ý nghĩa.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn nhằm làm rõ thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Thành phố Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích
hợp nhằm tạo nhiều việc làm cho lực lượng lao động này.
4
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hóa đến việc làm của người lao động ở
nông thôn; sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. những nhân
tố ảnh hưởng đến việc làm ở nông thôn.
- Phân tích kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết vấn đề việc làm
trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Nội từ năm 2001
đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông thôn ở Hà
Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề việc làm của người lao động ở nông thôn Hà
Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề việc làm ở các huyện ngoại thành của Hà Nội trong thời gian
từ năm 2001 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn còn chú trọng sử dụng các phương pháp
cụ thể như: trừu tượng hóa khoa học, hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để
làm sáng tỏ vấn đề.
trình phát triển lâu dài. Trong nền kinh tế thị trường tất yếu tồn tại vấn đề thất nghiệp. Tỷ lệ
thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu để đánh giá tình trạng của một nền kinh tế.
Người thất nghiệp là người thuộc lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế có khả năng
làm việc, song hiện đang chưa có việc làm, đồng thời đang mong muốn và đi tìm việc làm.
* Phân loại thất nghiệp.
* Khái niệm thiếu việc làm: Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì:
Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu
và họ có nhu cầu làm thêm.
Từ khái niệm người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: Người thiếu việc làm là người
lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định
hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ
muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập.
1.2. Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến vấn đề việc làm ở khu
vực nông thôn
1.2.1. Đặc điểm về lao động, việc làm ở nông thôn
* Đặc điểm của việc làm ở nông thôn
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp.
Việc làm của người lao động ở nông thôn gắn liền với môi trường, điều kiện sinh sống và
làm việc của người lao động.
Như vậy, có thể nói lao động trồng trọt và chăn nuôi là việc làm chính của người lao động
ở nông thôn.
Thứ nhất, sản xuất bị chi phối trực tiếp bởi các quy luật của tự nhiên như: gió mưa năng,
nhiệt độ, thổ nhưỡng dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc thấp.
Thứ hai, sản xuất theo mùa vụ, năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại nên người lao động
chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít cải tiến sáng tạo. Quá trình đó cứ diễn ra thường xuyên qua
nhiều năm làm cho tiến trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn diễn ra một cách chậm
chạp.
Thứ ba, loại công việc này có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn sẽ thiếu việc làm
trong những lúc nông nhàn. Mặt khác, cùng với quá trình đô thị hóa đất nông nghiệp bị
Đó là nơi đến của lực lượng lao động rút ra từ lĩnh vực thuần nông.
1.2.3. Giải quyết việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.3.1. Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được
thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
1.2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái:
- Nhân tố về dân số:
- Nhân tố về chính sách vĩ mô:
- Nhân tố liên quan đến giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ:
- Nhân tố toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế:
1.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn một số tỉnh
1.3.1. Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
1.3.2. Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai
7
Chương 2
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY
MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới việc làm và giải quyết việc làm
cho người lao động ở nông thôn thành phố Hà Nội
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân số lao động
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên 3344,7 km
2
(diện tích Hà Nội cũ là 920,97 km
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
* Về thuận lợi:
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, có điều kiện về cơ sở hạ tầng
và giao thông vận tải tương đối thuận lợi. Từ Hà Nội có nhiều tuyến đường thông suốt huyết
mạch chạy đi các thành phố khác. Đặc biệt Hà Nội là cầu nối của tam giác phát triển kinh tế
trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
* Về khó khăn:
Quá trình mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội và sáp nhập với Hà Tây làm tăng
quy mô về dân số và diện tích đã ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở hạ tầng và khả năng nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người lao động. Cùng với quá trình đô thị hóa, số lượng người sống
trong khu vực nội thành Hà Nội tăng đáng kể gây sức ép cho cơ sở hạ tầng, giao thông. Đô thị
8
hóa nhanh đã làm cho các vấn đề xã hội như nhà ở, tội phạm, nghèo đói, bất bình đẳng, thất
nghiệp trở nên trầm trọng hơn.
2.2. Thực trạng việc làm của người lao động ở khu vực nông thôn Thành phố Hà Nội
2.2.1. Một số chính sách giải quyết việc làm cho người lao động của Hà Nội
Công tác giải quyết việc làm đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành quan
tâm, coi đây là một trong những vấn đề xã hội bức xúc của Thành phố:
Ngày 14/11/2006, UBND Thành phố có Quyết định số 5117/QĐ - UBND phê duyệt
chương trình giải quyết việc làm Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010, trong đó đã giao
cho Sở Lao động Thương binh - Xã hội triển khai:
- Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề đến năm 2010;
- Quy hoạch, củng cố, nâng cao chất lượng các trung tâm giới thiệu việc làm; rà soát các
doanh nghiệp có chức năng giới thiệu việc làm;
- Quy hoạch, xây dựng phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp và làng nghề.
- Kế hoạch xã hội hóa trong lĩnh vực dạy nghề…
- Xây dựng và thực hiện đề án thí điểm “Chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao
động nông thôn”, nâng cao chất lượng lao động nông thôn;
- Thành phố đã thực hiện lồng ghép chương trình giải quyết việc làm với các chương trình
khu vực nông thôn (Bảng 2.2).
Số lao động có độ tuổi từ 35 đến 44 tuổi chiếm chiếm tỷ lệ cao nhất 24,4%. Đây phần lớn
là lao động chính, trụ cột trong gia đình. Số lao động này chiếm tỷ lệ lớn là một thuận lợi cho
công tác giải quyết việc làm.
+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Qua bảng số liệu 2.4 ta thấy tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở Hà Nội tuy chưa cao nhưng đã
tăng đáng kể. Năm 2006, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở trình độ sơ cấp, trung học nghề
chiếm 8,36%, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên là 8,77% (tăng 0,41%) so với năm 2006).
Điều đó cho thấy xu hướng chuyên môn hóa trong lao động ở nông thôn Hà Nội, từ đó tạo cơ
sở cho việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, nông thôn.
2.2.3. Tình hình việc làm giai đoạn 2006 - 2010
* Tình hình việc làm: Số lao động có việc làm ở thành thị và nông thôn Hà Nội trong
những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.5
Qua bảng 2.5 ta thấy: Lao động có việc làm thường xuyên ở Hà Nội năm 2010 là
3.315.333 người chiếm tỷ lệ 73,5% trong đó ở nông thôn 1.960.976 người, chiếm 59,15%.
Qua khảo sát 3 năm gần đây cho thấy: Trong tổng số việc làm chung của cả Thành phố, tỷ
trọng việc làm ở khu vực thành thị có xu hướng tăng, tỷ trọng việc làm ở nông thôn có xu
hướng giảm. Điều này phản ánh xu thế gia tăng của quá trình đô thị hóa. Năm 2006 lao động
ở khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 76,51%, đến năm 2010, tỷ lệ này giảm xuống còn
73,53%. Lao động công nghiệp xây dựng ở khu vực nông thôn 15,28% năm 2006 lên 16,95%
năm 2010; Lao động dịch vụ tăng từ 8.2% năm 2006 lên 9,52% năm 2010.
2.2.4. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm
Qua bảng 2.6, ta thấy tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn thành phố Hà Nội từ năm 2004 đến
năm 2010 là 11,82%, tăng lên 12,25% năm 2006, nhưng lại có xu hướng giảm xuống vào năm
2008 là 10,12% và lại tăng trở lại vào năm 2010 với 11,25%.
Qua thực tế ở Hà Nội lực lượng lao động ở nông thôn có nguy cơ thất nghiệp cao hơn so
với lực lượng lao động ở thành thị. Thực tế tình trạng thiếu việc làm còn gọi là bán thất
nghiệp của lực lượng lao động ở nông thôn cũng ảnh hưởng tới thu nhập và đời sống của
người lao động, lãng phí nguồn lực lao động xã hội ở khu vực này.
Bảng số liệu 2.7 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị có xu hướng giảm từ
265861 người, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn còn thấp so với nhiều
tỉnh khác trong vùng (khi tính toán số liệu gồm tỉnh Hà Tây cũ) với tỷ lệ 76,7%. Sở dĩ còn tồn
tại tình trạng đó là do những nguyên nhân sau đây:
Một là, lực lượng lao động ở nông thôn Hà Nội hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là
chủ yếu nên đời sống của người lao động còn gặp rất nhiều khó khăn và chưa ổn định. Tình
trạng lao động dôi dư còn tồn tại ở nhiều địa phương do có tình trạng chuyển đổi mục đích sử
dụng đất phát triển các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ thương mại, chế biến lương
thực, thực phẩm. Đối tượng lao động này do chưa được đào tạo nghề, chưa biết việc một cách
thuần thục; do trình độ học vấn còn hạn chế nên không có điều kiện nâng cao trình độ chuyên
môn kỹ thuật nên gặp nhiều khó khăn trong khâu tìm kiếm việc làm.
Hai là, quỹ đất ở một số vùng nông thôn đã bị thu hep do nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp, đất ở các khu vực nông thôn phục vụ cho nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất là tất yếu, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù
hợp với lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng việc thu hẹp đất ở khu
vực nông thôn đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp đã làm nảy sính nhiều vấn đề kinh tế xã
hội bức bách ở nhiều địa phương, trong đó nổi cộm là vấn đề việc làm của người lao động sau
khi bị thu hồi đất.
Ba là, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, dẫn đến phân công lao động chưa
hợp lý, phần lớn lao động ở nông thôn gắn với lĩnh vực nông nghiệp là chính.
11
Bốn là, công tác đào tạo nghề của Hà Nội hiện nay còn nhiều bất cập, cơ cấu ngành chưa
hợp lý, chưa thực sự gắn công tác dạy nghề với giải quyết việc làm.
Năm là, kỹ năng và kiến thức làm ăn của người lao động nhất là người lao động ở khu vực
nông thôn chưa theo kịp những đòi hỏi khắt khe của cơ chế thị trường.
2.3. Đánh giá chung về hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn
thành phố Hà Nội
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trên cơ sở vừa phát triển nông nghiệp, vừa phát
THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Bối cảnh phát triển mới và tác động của nó đến vấn đề giải quyết việc làm ở
nông thôn Thành phố Hà Nội
3.1.1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tạo ra những
cơ hội và thách thức mới với vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
Công nghiệp hóa được xem là con đường đi tất yếu khách quan của mọi quốc gia chậm
phát triển. Thế giới đã trải qua chặng đường CNH mấy trăm năm và thể nghiệm đến mấy thế
hệ, mô hình CNH. Có thể tạm sắp xếp như sau: CNH thế hệ thứ nhất gồm các nước Âu Mỹ
vào thế kỷ XVII - XVIII được gọi là mô hình CNH cổ điển, CNH thế hệ thứ hai mà tiêu biểu
là Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX (gọi là mô hình CNH tuần tự). CNH thế
hệ thứ ba gồm các nước NIC
S
trong những thập kỷ 60 - 80 của thế kỷ XX.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập không thể phủ nhận bên cạnh những cơ hội lớn
mà thời đại tạo ra cũng có nhiều thách đố gay gắt về phát triển. Trong đó thách thức lớn nhất
là đòi hỏi các nước đi sau như Việt Nam là phải phát triển được nội lực và nhân tố năng động
của chủ thể để khai thác tối đa ngoại lực và lợi thế của người đi sau, nhằm thu hẹp khoảng
cách và đạt được sự phát triển hiện đại.
3.1.2. Phát triển của Hà Nội có ý nghĩa với sự phát triển của cả nước
Thủ đô Hà Nội, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi thu hút và lan toả các nguồn lực vật
chất và tinh thần vô giá của cả nước và vì cả nước. Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính,
khoa học và công nghệ, thể thao, y tế, tài chính ngân hàng và thương mại, nơi hội tụ các tinh
hoa các giá trị văn hoa là một trong các đầu tàu về kinh tế lớn nhất cả nước, ngày càng tràn
sức sống ngàn năm.
3.2. Quan điểm giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Thành phố Hà
Nội
3.2.1. Mở rộng cơ hội tạo việc làm cho người lao động
- Phát triển ngành nghề ở nông thôn Hà Nội phải trên cơ sở khai thác được những lợi thế,
3.3.1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vị trí trung tâm của "Tam nông" chính là người nông dân, mục tiêu của “Tam nông" cũng
chính là lợi ích của người nông dân, bảo đảm việc làm cho nông dân chính là điểm mấu chốt
trong chính sách an sinh xã hội đối với nông dân. Do vậy, phát triển CNH, HĐH đi đôi với
bảo đảm việc làm và an sinh xã hội đối với nông dân là con đường đi thích hợp nhất.
3.3.2. Nâng cao chất lượng nguồn lao động, phát triển giáo dục, tăng cường công tác
đào tạo nghề
So với các địa phương khác, Hà Nội có lợi thế về con người, nguồn nhân lực. Tỷ lệ lực
lượng qua đào tạo đạt trên 45% so với tổng số lực lượng lao động năm (2008). Hà Nội chiếm
65% số giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ so với tổng số nhà khoa học trong cả nước. Trên địa bàn
Hà Nội hiện đang tập trung 50 trường đại học, 29 trường cao đẳng, 45 trường trung cấp
chuyên nghiệp, 113 cơ quan nghiên cứu khoa học.
3.3.3. Phát triển đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, tạo việc làm
cho người lao động nông thôn trên cơ sở nâng cao thu nhập
Phát triển và đa dạng hóa các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh với nhiều trình độ kỹ
thuật và quy mô tổ chức khác nhau, thu hút nhiều lao động là hướng đi quan trọng tạo việc
làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn.
* Phát triển kinh tế hộ gia đình:
* Phát triển kinh tế trang trại
* Phát triển kinh tế tập thể nòng cốt là hợp tác xã.
3.3.4. Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn qua xuất khẩu lao động
Đẩy mạnh việc xuất khẩu lao động, đưa lao động đi làm việc ở trong và ngoài nước.
Công tác xuất khẩu lao động được coi là công tác mũi nhọn trong giải quyết việc làm, xóa
đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
3.3.5. Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm
Để nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm Thành phố cần: Quy
hoạch, sắp xếp lại mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm để tránh sự cạnh tranh không cần thiết
14
cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công
nghiệp và dịch vụ; đô thị hóa làm cho năng suất, thu nhập từ việc làm nông nghiệp tăng lên
thông qua việc đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Về tác động tiêu
cực, đô thị hóa làm giảm việc làm của lao động nông thôn (do thu hẹp diện tích đất canh tác),
gây nguy cơ thất nghiệp cho lao động nông thôn và làm tăng sức ép tìm việc làm của họ.
Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Hà Nội cần phải làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề việc làm của người lao
động. Có thể khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trong quá trình đô thị hóa thành 3 nhóm: 1- Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tạo ra
tư liệu sản xuất như vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ; 2 - Nhóm các nhân tố
ảnh hưởng đến quá trình tạo ra số lượng và chất lượng lao động sức lao động như dân số, giáo
dục đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe; 3 - Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kết hợp
tư liệu sản xuất và sức lao động như các chính sách của Nhà nước, sự phát triển của thị trường
sức lao động, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hà Nội nằm trong vùng trọng điểm kinh tế đồng bằng sông Hồng, trong tam giác phát
triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh trong thời gian qua có tốc độ đô thị hóa cao. Đi liền
với đó là tình trạng thiếu việc làm, không tìm được việc làm của lực lượng lao động, đặc biệt
là lao động nông thôn, chuyển đổi mục đích sử dụng rất lớn. Trước thực trạng đó, Hà Nội đã
sử dụng nhiều biện pháp để tạo việc làm như thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã
hội, thực hiện các đề án cho vay vốn hỗ trợ giải quyết việc làm: đẩy mạnh xuất khẩu lao động,
nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, dịch vụ việc làm, thông tin thị trường sức lao động
kết quả là từ năm 2001 đến nay, Hà Nội đã tạo được việc làm cho hơn 342143 việc làm mới
cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động thành thị, tăng tỷ lệ thời
gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn Hà Nội từ 75,18 giờ năm 2006 lên 76,7 giờ
năm 2010 và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động thành phố theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Mặc dù đạt được những kết quả nêu trên, song vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn ở Hà Nội vẫn còn nhiều bất cập như: chất lượng việc làm mới chưa cao, cơ cấu lao
động lạc hậu, tình trạng không tìm được việc làm, thiếu việc làm của lao động nông nghiệp
nhất là lao động nông nghiệp bị thu hồi đất còn cao; việc thực hiện các chính sách giải quyết
10. Cục Thống kê Hà Nội (2007), Niên giám thống kê 2007, Hà Nội.
11. Cục Thống kê Hà Nội (2008), Niên giám thống kê 2008, Hà Nội.
12. Cục Thống kê Hà Nội (2009), Niên giám thống kê 2009, Hà Nội.
13. Cục Thống kê Hà Nội (2009), Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu thành phố Hà Nội
thời kỳ 2006 - 2010, Hà Nội.
14. Cục Thống kê Hà Nội (2010), Niên giám thống kê 2010, Hà Nội.
15. Đỗ Minh Cương (2007), "Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay", Nông thôn mới Hà
Nội.
17
16. Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung (1997), Chính sách giải quyết việc làm ở Việt
Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Nguyễn Hữu Dũng (2004), "Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị
hoá, công nghiệp hoá nông thôn”, Lao động - Xã hội, (247).
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2006), Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành
phố lần thứ XIV, Hà Nội.
23. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2011), Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành
phố lần thứ XV, Hà Nội.
24. Đinh Đăng Định (chủ biên, 2004), Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người
lao động ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lao động, Hà Nội.
25. Đặng Đình Hải - Nguyễn Ngọc Thụy (3/2005), “Làm thế nào để đẩy mạnh công tác dạy
nghề cho lao động nông thôn”, Tạp chí Lao động Xã hội, (259).
phố Hà Nội, giai đoạn 2006, 2010, 2012.
42. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội (2010), Báo cáo thực hiện chương trình
xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, dạy nghề, Hà Nội.
43. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội (2010), Báo cáo kết quả thực hiện
chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010 và phương hướng giải pháp
giai đoạn 2010 - 2015, Hà Nội.
44. Vũ Đình Thắng (2002), "Vấn đề việc làm cho lao động nông thôn” Kinh tế và phát
triển, (3).
45. Nguyễn Thị Thơm (2004), Thị trường lao động Việt Nam. Thực trạng và giải pháp, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2003 - 2004, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh.
46. Trần Thị Thu (2003), Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
47. Tổng Cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2009, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
48. Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2009), Công văn số 4503 UBND - NN ngày
21/5/2009 về kiện toàn Ban chỉ đạo phát triển nghề và làng nghề ở Hà Nội.
49. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2010), Chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc
làm đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.