Pháp luật về Khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia
tăng tại Việt Nam
Đào Thị Ngọc Ánh
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất của thuế Giá trị gia tăng (GTGT);
khấu trừ, hoàn thuế GTGT và các quy định pháp luật về thuế GTGT, khấu trừ, hoàn
thuế GTGT ở Việt Nam. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về khấu
trừ và hoàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay. Từ những nghiên cứu và thực trạng
pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở Việt Nam rút ra những nhận xét, đánh giá
những mặt tồn tại để có những kiến nghị góp phần khắc phục và hoàn thiện hơn nữa
pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT ở Việt Nam.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; Thuế giá trị gia tăng
Content
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN), là công cụ quan trọng
để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và là vấn đề đại cục
của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng
đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cải cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách
này là thay thế Luật Thuế Doanh thu bằng Luật thuế giá trị gia tăng 1997 được thông qua tại
kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Việt Nam bắt đầu
thi hành một luật thuế mới, đó là thuế giá trị gia tăng (GTGT). Sau hơn mười năm thực hiện
hoàn thuế GTGT tại Việt Nam hiện nay. Qua đó đưa ra một số đánh giá và kiến nghị hoàn
thiện các quy định của pháp luật hiện hành về khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam.
Xuất phát từ hai mục đích cơ bản nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất của Thuế GTGT khấu trừ, hoàn thuế GTGT
và các quy định pháp luật về thuế GTGT, khấu trừ, hoàn thuế GTGT ở Việt Nam;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về khấu trừ và hoàn Thuế
GTGT ở Việt Nam hiện nay;
- Từ những nghiên cứu và thực trạng pháp luật về khấu trừ và hoàn Thuế GTGT ở
Việt Nam rút ra những nhận xét, đánh giá những mặt tồn tại để có những kiến
nghị góp phần khắc phục và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế
GTGT ở Việt Nam.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật liên quan đến khấu trừ và hoàn
thuế GTGT, thực tiễn áp dụng pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT tại Việt Nam hiện nay.
Qua đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT.
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các vấn đề lý
luận về khấu trừ, hoàn thuế GTGT và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về
khấu trừ, hoàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện
pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam, đặc biệt nhằm khắc phục những tồn
tại trong quy định hiện hành về khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam hiện nay.
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu có tính chất bao trùm được quán triệt để thực hiện trong luận
văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin, kết hợp
với các phương pháp so sánh. Theo đó vấn đề điều chỉnh pháp luật phải được đặt trong bối
cảnh lịch sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển cơ chế thị trường ở nước ta trên cơ
sở vận dụng các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách khấu trừ, hoàn thuế
GTGT.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn để
Hiện nay khái niệm về thuế GTGT được hiểu dưới nhiều giác độ, khía cạnh và nhiều
quan điểm khác nhau.
Tại Việt Nam, Điều 2, Luật Thuế GTGT năm 2008 thuế GTGT được hiểu: “Thuế giá
trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Đa số các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Luật thuế
GTGT đều đưa ra khái niệm với nội hàm tương tự như vậy.
1.2. Căn cứ tính thuế và phƣơng pháp tính thuế GTGT
1.2.1. Giá tính thuế GTGT
Để xác định giá tính thuế cho hàng hóa dịch vụ thuộc diện chịu thuế, các quốc gia có
thể lựa chọn giá chưa có thuế hoặc giá đã có thuế. Phần lớn các quốc gia áp dụng thuế GTGT
đều quy định cơ sở tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT. Tại Việt Nam, do ưu điểm
của phương án xác định thuế trên cơ sở giá chưa có thuế, pháp luật thuế giá trị gia tăng Việt
Nam quy định “giá tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT” song song với việc quy định
chi tiết giá tính thuế đối với các hoạt động kinh doanh phổ biến và một số hoạt động kinh
doanh đặc thù.
1.2.2. Thuế suất thuế GTGT
Hiện nay các nước áp dụng thuế GTGT có sự khác nhau trong việc thiết kế mức thuế
suất và số lượng thuế suất trong đạo luật thuế giá trị gia tăng.
Tại Việt Nam, năm 1998, Luật thuế GTGT ban hành quy định 4 mức thuế suất khác
nhau (0%,5%,10%,20%). Từ năm 2004 trở lại đây, đặc biệt theo Luật thuế GTGT năm 2008
Việt Nam áp dụng 3 mức thuế suất khác nhau: 0%, 5%, 10% được áp dụng đối với từng loại
hàng hoá, dịch vụ sản xuất-kinh doanh trong nước hoặc nhập khẩu. Việc qui định các mức
thuế suất khác nhau nhằm thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối
với hàng hoá, dịch vụ khác nhau.
1.2.3. Phƣơng pháp tính thuế GTGT
a. Phƣơng pháp khấu trừ thuế
Việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ hoàn toàn loại trừ khả
năng thuế tính chồng lên thuế. Theo quy định của Luật thuế GTGT hiện hành nội dung cơ bản
của phương pháp khấu trừ thuế thể hiện: Số thuế GTGT phải nộp bằng số thuế GTGT đầu ra
trừ (-) số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Chủ thể nộp thuế theo phương pháp này cũng
GTGT là những đối tượng nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật. Thứ hai, hoàn thuế
GTGT là một thủ tục pháp lý đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm
hoàn trả lại cho tổ chức, cá nhân một khoản tiền thuế mà họ đã nộp thừa vào NSNN nhưng
không có căn cứ pháp lý. Ngoài ra, đặc điểm của hoàn thuế GTGT còn được thể hiện dưới hai
góc độ: Hoàn thuế GTGT với tư cách là một quyền của người nộp thuế và Hoàn thuế GTGT
với tư cách là một quan hệ pháp luật.
1.4. Sự cần thiết phải khấu trừ và hoàn thuế GTGT
1.4.1. Sự cần thiết phải khấu trừ thuế GTGT
Việc khấu trừ thuế GTGT là cần thiết, bởi: Nó giúp cho việc xác định đúng số thuế
phải nộp ở từng khâu, từng chủ thể nộp thuế, chống thất thu thuế; Đảm bảo thu đủ số thuế cần
thiết điều tiết thu nhập của người tiêu dùng; đảm bảo sự động viên kịp thời một phần thu nhập
quốc dân; Đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế; Khấu trừ thuế còn thúc đẩy các tổ chức
kinh tế tiến hành hạch toán theo chuẩn mực pháp luật.
1.4.2. Sự cần thiết phải hoàn thuế GTGT
Việc phải có các quy định về hoàn thuế GTGT là cần thiết, bởi các lý do sau: Hoàn thuế
GTGT giúp bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế, góp phần buộc các
đối tượng thuộc diện nộp thuế thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn chứng từ theo quy định
pháp luật. Và, xét một cách tổng quát thì hoàn thuế GTGT góp phần kích thích hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung, kích thích hoạt động
xuất khẩu; Giảm bớt khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp trong kinh doanh là đối
tượng nộp thuế; Việc hoàn thuế GTGT còn góp phần khuyến khích xuất khẩu; Trả lại số thuế
do thay đổi tính chất của việc sử dụng hàng hoá; Hoàn thuế GTGT thể hiện tính minh bạch
của chính sách thuế gián thu;…
6
1.5. Mối liên hệ giữa khấu trừ và hoàn thuế GTGT
Khấu trừ thuế GTGT là cơ sở cho việc áp dụng hoàn thuế GTGT bởi cơ sở kinh doanh
chỉ được áp dụng việc hoàn thuế GTGT khi nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. Mặt
khác, hoàn thuế sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp có thể được hoàn lại khoản tiền thuế của
mình do đã nộp thừa vào NSNN mà chưa được khấu trừ hết.
b. Đối tƣợng và trƣờng hợp đƣợc hoàn thuế GTGT đƣợc quy định nhƣ sau:
Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành đối tượng và trường hợp được
hoàn thuế GTGT được quy định như sau:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị
gia tăng nếu trong ba tháng liên tục trở lên có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu
trừ hết.
- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp
thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển
mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01
năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo
từng năm.
- Cơ sở kinh doanh đang hoạt động (trừ các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành) thuộc
đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cơ sở sản xuất
mới thành lập tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi
đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh
7
doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử
dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có số thuế giá trị gia
tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng
theo tháng.
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở
hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước có số thuế giá trị gia tăng đầu vào
chưa được khấu trừ hết hoặc có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa.
- Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo.
- Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh về
Ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn
thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng hoặc trên chứng từ thanh toán
Thứ năm, trường hợp hàng hoá xuất khẩu để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài:
Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu NSNN; Bảng kê hồ sơ xuất khẩu hàng hoá đầu tư ra nước
ngoài; Văn bản xác nhận của bên nhận uỷ thác xuất khẩu.
Hoàn thuế GTGT đối với dự án ODA: Thứ nhất, đối với Chủ dự án và Nhà thầu chính:
Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu NSNN; Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá dịch vụ mua
vào; Quyết định của cấp có thẩm quyền; Xác nhận của cơ quan chủ quản dự án ODA. Thứ
hai, đối với Văn phòng dự án ODA: Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu NSNN; Bảng kê hoá
8
đơn, chứng từ hàng hoá dịch vụ mua vào; Văn bản thoả thuận giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của Việt Nam với Nhà tài trợ.
Hoàn thuế đối với tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không
hoàn lại: Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu NSNN; Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá dịch
vụ mua vào; Quyết định phê duyệt các khoản viện trợ; Văn bản xác nhận của Bộ Tài.
Hoàn thuế GTGT đối với đối tượng hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao : Giấy đề nghị
hoàn trả khoản thu NSNN ; Bảng kê thuế GTGT ; Bản gốc kèm theo 2 bản chụp hoá đơn
GTGT.
Hoàn thuế GTGT đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng: Giấy đề
nghị hoàn trả khoản thu NSNN; Bảng kê hồ sơ xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.
*) Thủ tục gải quyết yêu cầu hoàn thuế GTGT hồ sơ hoàn thuế
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục giải quyết yêu cầu hoàn thuế gồm các
bước như sau:
- Nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT
- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế
- Phân loại hồ sơ hoàn thuế
- Giải quyết hồ sơ hoàn thuế
1.6.3. Quyền và nghĩa vụ của đối tƣợng đƣợc khấu trừ và hoàn thuế GTGT
Đối tượng thuộc trường hợp được khấu trừ, hoàn thuế có các quyền và nghĩa vụ sau
đây: Đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; Thực hiện đầy đủ chế độ kế toán,
hóa đơn, chứng từ làm căn cứ xét khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT; Lập hồ sơ đề nghị khấu
Thực hiện kiểm tra sau hoàn thuế 100% hồ sơ của người nộp thuế đang báo cáo kết
quả kinh doanh lỗ; lỗ nhiều năm liên tục; số lỗ vượt quá vốn điều lệ đã đăng ký nhưng vẫn
đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; Doanh nghiệp kinh doanh nhiều hoạt động, trong đó có
hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ có tỷ lệ doanh thu từ hoạt động kinh doanh
thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn so với tổng doanh thu của người nộp thuế; Doanh
nghiệp lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế nhiều lần, số tiền hoàn thuế lớn; Doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu thương mại thuần tuý; Người nộp thuế đã có hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn nhưng
chưa đến mức bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận về thuế trong thời gian một năm trước
khi đề nghị hoàn thuế.
Trình tự thực hiện kiểm tra sau hoàn thuế:
Đối với doanh nghiệp được hoàn thuế trước kiểm tra sau, cơ quan thuế phải tổ chức
kiểm tra sau hoàn thuế theo chế độ quy định. Hàng tháng, các Cục Thuế, Chi cục Thuế có
trách nhiệm tổng hợp Báo cáo chi tiết kết quả kiểm tra sau hoàn thuế và Báo cáo tổng hợp kết
quả kiểm tra sau hoàn thuế của toàn cơ quan thuế. Chi cục Thuế, Cục Thuế gửi các báo cáo
nêu trên bằng văn bản về cơ quan thuế cấp trên trực tiếp. 10
CHƢƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GTGT Ở VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
2.1. Thực tiễn áp dụng và những bất cập của pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế GTGT
ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Thực tiễn áp dụng và những bất cập của pháp luật về khấu trừ GTGT
Theo một thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tài chính, tính đến ngày 27.11.2010, trong
58/64 tỉnh thành phố có tới 1.878 đơn vị kinh doanh bỏ trốn, nghỉ, không thanh quyết toán
hoá đơn. Số lượng hoá đơn mà các đơn vị này "ẵm" theo lên tới 58.669 hoá đơn GTGT loại
được khấu trừ thuế (chiếm 76%), 21.225 hoá đơn GTGT trực tiếp và 6.268 hoá đơn GTGT
loại cũ. Hành vi của các đối tượng này nhằm mục đích sử dụng hóa đơn để được khấu trừ thuế
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì được khấu trừ toàn bộ. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra là việc cho phép khấu trừ toàn bộ thuế GTGT của tài sản cố định dùng chung thể hiện
sự thiếu công bằng so với các doanh nghiệp chỉ có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ không chịu thuế và cũng dẫn đến tình trạng để được tận dụng số thuế GTGT đầu vào
nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hàng hóa dịch vụ không
chịu thuế, doanh thu phần lớn cũng từ hoạt động này nhưng cố gắng sản xuất, kinh doanh một
ít sản phẩm chịu thuế bằng tài sản cố định dùng để sản xuất, kinh doanh dịch vụ không chịu
thuế.
11
Thứ hai: Pháp luật quy định hàng hóa thuộc diện không chịu thuế nhứng thuế GTGT
đầu vào vẫn được khấu trừ. Đơn cử như thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh
doanh mua vào để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước
ngoài, tổ chức quốc tế viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.
Về điều kiện khấu trừ thuế GTGT:
Pháp luật thuế GTGT hiện hành còn bỏ ngỏ, thiếu hoặc quy định nhưng không rõ ràng
về điều kiện khấu trừ thuế gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình kê khai, nộp
thuế, khấu trừ thuế GTGT.
Về điều kiện phải có "chứng từ thanh toán qua ngân hàng". Đây là quy định rất kịp
thời hạn chế việc mua bán hóa đơn khống và gian lận trong giao dịch nhưng pháp luật lại
chưa có quy định rõ ràng, cụ thể và thống nhất với các luật khác về “thế nào là thanh toán qua
ngân hàng” đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.
Về điều kiện "tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam". Do doanh nghiệp chế xuất không
phải là đối tượng nộp thuế GTGT nên không được khấu trừ GTGT đầu vào của hàng hóa,
dịch vụ này mà phải đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh làm tăng chi phí. Điều này thật bất
lợi cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Dù là tiêu dùng trong hay ngoài nội địa thì mục
đích cuối cùng vẫn là phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa xuất khẩu ra nước
ngoài nên về nguyên tắc phải được hưởng thuế suất 0%. Bên cạnh đó, vấn đề đặt ra là tại sao
chỉ ràng buộc điều kiện về dịch vụ tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam đối với dịch vụ cung
cấp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan mà không áp dụng đối với dịch vụ cung
12
phát sinh số thuế đầu vào nhưng lại không có thuế đầu ra (hàng hoá, dịch vụ bán ra không
thuộc diện chịu thuế GTGT) thì đối tượng nộp thuế cũng không được hoàn thuế.
Thứ ba: Việc hoàn thuế GTGT đối với dự án sử dụng nguồn vốn ODA, các tổ chức
sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài
để mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam là bất hợp lý.
Về quy trình hoàn thuế:
Việc quy định về quy trình hoàn thuế hiện nay theo quy định của pháp luật hiện hành
còn nhiều tồn tại, bất cập:
- Việc quy định “hoàn thuế trong trường hợp có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ
quan có Nhà nước có thầm quyền” là một quy định làm mất định tính thực thi của Luật Thuế
GTGT.
- Việc định lượng thời gian xác minh doanh nghiệp có dấu hiệu gian lận hay không là
không đủ, bởi vì việc xác minh các hóa đơn mất rất nhiều thời gian, thậm chí không được cơ
quan thuế các địa phương phản hồi.
- Việc hoàn thuế GTGT dựa trên những hóa đơn chứng từ đã có, còn tính trung
thực của các hoá đơn chứng từ này (đã phát sinh từ 3 tháng trước đó) thì không được xác
minh đầy đủ. Hơn nữa, hiện nay theo quy định của pháp luật thời gian hoàn thuế là trong
vòng 15 ngày, tối đa là 30 ngày là quá ngắn.
Về hồ sơ hoàn thuế:
Tương ứng với từng đối tượng được hoàn thuế, từng trường hợp hoàn thuế pháp luật
yêu cầu các hồ sơ chứng từ khác nhau. Song tính chính xác hợp pháp, hợp lý của các chứng từ
thì cơ quan thuế khó có thể kiểm tra ít ra là trong trường hợp hoàn thuế đối với hàng hoá là
nông sản thực phẩm xuất khẩu qua các cửa khẩu đường bộ, thanh toán không qua ngân hàng.
Về chế độ hoá đơn chứng từ:
Hệ quả của hai phương thức tính thuế GTGT là hai loại hoá đơn chứng từ trong thuế
GTGT: hoá đơn GTGT và hoá đơn bán hàng (hoá đơn thông thường). Hoá đơn bán hàng chỉ
được sử dụng khấu trừ khống với tỷ lệ 3% giá trị hàng hoá trên hoá đơn, hoá đơn GTGT thì
2.2.1. Một số kiến nghị đối với Luật Thuế GTGT và các văn bản hƣớng dẫn thi hành
Về phương pháp tính thuế GTGT:
Từ những bất cập nêu trên của việc áp dụng hai phương pháp tính thuế GTGT,
phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên thuế GTGT, chúng tôi kiến
nghị nên nghiên cứu áp dụng thống nhất một phương pháp trong tính thuế GTGT là phương
pháp khấu trừ thuế GTGT.
Về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT:
Kiến nghị về thuế suất 0% đối với dịch vụ cần phải có qui định cụ thể trong luật thuế
VAT. Luật VAT nên qui định: Dịch vụ xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% khi thỏa mãn
cùng 1 lúc các điều kiện sau: có hợp đồng cung cấp dịch vụ ký với đối tác nước ngoài; Có
chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng; Tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt
Nam. Trường hợp không xác định được địa điểm tiêu dùng thì áp dụng thuế suất như đối với
tiêu dùng nội địa.
Về tỷ lệ khấu trừ thuế GTGT đầu vào: kiến nghị pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể
hơn về tổng doanh số hàng hóa dịch vụ bán ra để tính tỷ lệ thuế giá trị gia tăng được khấu trừ,
và không tính doanh thu từ hoạt động tài chính, sử dụng vốn như tự doanh chứng khoán, lãi
tiền gửi ngân hàng, repo chứng khoán của các công ty chứng khoán vào tổng doanh số bán
hàng hóa dịch vụ khi thực hiện tính tỷ lệ thuế giá trị gia tăng được khấu trừ
Tiết b, khoản 2 Điều 12 Luật Thuế GTGT quy định một trong những điều kiện để
được khấu trừ thuế GTGT là: "b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa,
dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng". Đề
nghị bổ sung thêm trường các trường hợp được coi là thanh toán qua ngân hàng gồm:
- Người mua và người bán thanh toán bù trừ công nợ
- Người mua chuyển tiền vào tài khoản của người bán qua bưu điện;
Từ đó, sửa tiết b, khoản 2 Điều 12 như sau:"b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai
mươi triệu đồng. Trường hợp thanh toán bù trừ công nợ có biên bản thanh toán bù trừ và các
chứng từ hợp pháp chứng minh; người mua chuyển tiền vào tài khoản của người bán qua bưu
điện cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng".
Ngoài ra, Luật thuế GTGT nên thêm quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế
thuế.
- Qui trình hoàn thuế GTGT dựa trên quan điểm doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo cơ
chế tự khai báo thuế và tự nộp thuế; doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về tính trung thực về số
thuế đã nộp.
- Tiếp tục thay đổi việc hoàn thuế bởi hoàn thuế hợp lý vừa tạo điều kiện thuận lợi cho
DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh lại vừa tạo ra hiệu quả đối với ngành thuế trong quá
trình hành thu.
- Khấu trừ khống: nên bỏ khấu trừ khống.
Đối với các quy định về hóa đơn trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT:
Pháp luật nên bỏ qui định khấu trừ thuế VAT đối với các hóa đơn, chứng từ kê khai
quá thời hạn 6 tháng.
Kiến nghị khác đối với Luật thuế GTGT:
- Luật thuế GTGT nên có điều luật về giải thích từ ngữ để tránh tình trạng có các cách
hiểu và vận dụng khác nhau về cùng một vấn đề: Thanh toán qua ngân hàng, …
- Luật thuế GTGT sửa đổi nên quy định hoạt động chịu thuế GTGT là các hoạt động
chuyển giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ ở Việt Nam của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh
doanh, nhập khẩu hàng hoá thay vì đối tượng chịu thuế theo Luật hiện hành
- Có qui định phù hợp để xử lý các trường hợp chiếm đoạt tài sản của Nhà nước bằng
hình thức khấu trừ thuế, hoàn thuế, các trường hợp không thực hiện nhiệm vụ thu thuế hoặc
thực hiện không đầy đủ.
2.2.2. Kiến nghị đối với các văn bản pháp luật khác có liên quan
Đề xuất sửa đổi Pháp lệnh điều tra vụ án hình sự, bổ sung chức năng điều tra, khởi tố
các vụ án hình sự trong lĩnh vực thuế để cơ quan thuế chủ động trong công tác quản lý thuế,
đẩy mạnh kỷ cương, ý thức chấp hành pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế.
2.2.3. Các kiến nghị khác
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoàn thuế, phát hiện và xử lý kịp thời các
trường hợp vi phạm hoàn thuế GTGT: tổ chức lại bộ máy quản lý thuế, qui định rõ trách
nhiệm cán bộ thuế trong việc xử lý hoàn thuế, tăng cường cán bộ có trình độ nghiệp vụ, phẩm
chất đạo đức tốt làm công tác thanh tra, kiểm tra hoàn thuế, tổ chức tập huấn thanh tra sau
hoàn thuế.
các nguồn tài liệu tham khảo, Luận văn tập trung đi sâu vào khai thác những vấn đề lý luận và
pháp luật hiện hành về khấu trừ và hoàn thuế GTGT tại Việt Nam, qua đó Luận văn cũng đi
sâu vào đánh giá, chỉ ra những bất cập, hạn chế ở khía cạnh các quy định pháp luật và có
những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế
GTGT nói riêng, pháp luật về thuế GTGT nói chung.
Mặc dù luận văn đã cố gắnng đưa ra những cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật
và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khấu trừ, hoàn thuế GTGT tại Việt nam hiện nay.
Nhưng do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn và trong phạm vi một luận văn thạc sĩ
không thể giải quyết thấu đáo, đầy đủ mọi vấn đề, do vậy luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót, hạn chế . Rất mong nhận được sự quan tâm, đánh giá để luận văn này thực sự mang
tính khoa học.
References
Tài liệu Tiếng Việt:
1. Bộ Tài chính (1993), Mô hình áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ, Hà Nội.
2. Bộ Tài chính (1994), Thuế GTGT và vấn đề áp dụng tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
3. Bộ Tài chính (1999), Báo cáo việc triển khai thực hiện các luật thuế mới trong 9 tháng
đầu năm 1999, Hà Nội.
4. Bộ Tài chính (2008), Cải cách cơ cấu thu ngân sách, Hà Nội.
5. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14 tháng 6 năm 2007 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế 2006 và hướng dẫn thi
hành Nghị đinh số 85/2007/NĐ-CP.
6. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành
Nghị định số 123/2008/NĐ-CP.
7. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 04/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 13 tháng 01
năm 2009 hướng dẫn thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số
30/2008/NQ-CP 11/12/2008 của Chính phủ.
22. Khoa Kinh tế, Đại học Công nghiệp Đồng Nai (2009), Chuyên đề thuế và quản lý thuế
nâng cao.
23. Lê Thị Bích Liên (2001), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thuế GTGT ở
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, trường ĐH Luật Hà Nội.
24. Nguyễn Kim Thái Linh (2010), Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, trường ĐH Quốc gia Hà Nội.
25. Báo Lao động, (số 272), ngày 28 tháng 11 năm 2010, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội,
tr.4,5, 41-43.
26. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10, ngày 29
tháng 11 năm 2006.
27. Luật Thuế Giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, ngày
03 tháng 6 năm 2008.
28. Bùi Công Quang (2006), Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học.
29. Phan Anh Thông, “Một số ý kiến góp ý cho dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và
thuế giá trị gia tăng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử, cập nhật ngày 04/3/2008,
link:
vibonline.com.vn/viVN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=1886.
30. Tổng Cục thuế (1993), Báo cáo về thuế GTGT ở các nước Pháp, Thụy Điển, Trung
Quốc, Hà Nội.
31. Tổng cục thuế (2003), Thuế giá trị gia tăng, Hà Nội.
32. Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Tài chính ngân hàng, Nxb Công
an nhân dân.
33. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2008.
34. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
35. Trường Đại học Tài chính – kế toán Hà nội (2000), Giáo trình thuế, Nxb Tài chính.
18