Thực tiễn thi hành pháp luật về giải phóng mặt
bằng ở tỉnh Hà Tĩnh
Phan Ngọc Long
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Doãn Hồng Nhung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật đất đai. Phân
tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến thực trạng thu hồi đất, giải phóng
mặt bằng ở tỉnh Hà Tĩnh. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
thu hồi đất, giải phóng mặt bằng nói chung, ở Hà Tĩnh nói riêng trong thời gian tới.
Keywords: Giải phóng mặt bằng; Luật đất đai; Pháp luật Việt Nam; Hà Tĩnh; Thu hồi
đất
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BT, HT, TĐC, GPMB, Nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, nhất là Luật Đất đai năm 2003, tạo cơ sở pháp lý
cho việc triển khai thực hiện.
Ở tỉnh Hà Tĩnh, những năm gần đây, trong quá trình thực hiện GPMB, BT, HT, TĐC,
nhất là phục vụ cho các khu công nghiệp, chương trình, dự án đã đạt được những thành công
nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo điều kiện phát triển kinh tế, ổn định xã
hội
Tuy nhiên, việc giải phóng mặt bằng đang bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, đã ảnh
hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện các chương trình, dự án nói riêng, sự phát triển kinh
Tĩnh trong thời gian qua (gắn với các văn bản quy phạm pháp luật về GPMB mới ban hành và
văn bản quy phạm pháp luật đã áp dụng), tập trung vào Dự án đường nối Quốc lộ 1A đến mỏ
sắt Thạch Khê (từ năm 2007 đến 2009), Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương (từ
năm 2007 đến 2010), Dự án cải thiện môi trường đô thị miền Trung (từ năm 2007 đến 2009); và
để xuất giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động GPMB; đồng thời về
pháp luật GPMB.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-
Lênin, luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, điều tra- tổng hợp và phân tích dữ
liệu từ các nguồn văn bản pháp luật liên quan, tổng hợp thống kê, kết hợp nghiên cứu lý
thuyết với phân tích thực trạng GPMB ở tỉnh Hà Tĩnh (kế thừa những tài liệu, số liệu đã có;
tham khảo các báo cáo, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân) và đưa ra một số đề xuất giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động GPMB.
6. Kết quả mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,
giải phóng mặt bằng.
3
- Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các
quy định của pháp luật về GPMB nói chung, nâng cao chất lượng công tác GPMB ở tỉnh Hà
Tĩnh nói riêng trong thời gian tới.
- Đề xuất bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật về GPMB cần có quy định hỗ trợ cho
ngư dân khi Nhà nước thu hồi mặt biển, ngư trường, nuôi trồng thủy sản để thực hiện dự án
ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của họ.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lí luận chung về Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và pháp luật về
Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và nâng
dân sự: có sự khác nhau ở một số điểm cơ bản: về chủ thể BT; về chủ thể được BT; về
nguyên tắc và tính chất BT.
1.4. Chính sách hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Theo Khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất làm
việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới,
cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
TĐC là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chuẩn bị nơi ở mới, đáp ứng các điều
kiện thuận lợi cho người bị Nhà nước thu hồi đất, GPMB đến ở, giúp họ sớm ổn định cuộc sống,
khôi phục sản xuất, kinh doanh.
1.5. Vai trò của bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
1.5.1. Bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm bảo đảm lợi ích công cộng
5
1.5.2. Bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm giải quyết hài hoà giữa lợi ích của Nhà
nước với lợi ích của người bị thu hồi đất
1.5.3. Bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm ổn định cuộc sống lâu dài cho người bị
thu hồi đất
1.6. Lƣợc sử pháp luật về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
1.6.1. Giai đoạn trước khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời
1.6.2. Giai đoạn sau khi Luật Đất đai năm 1993 ban hành đến trước khi Luật Đất đai
năm 2003 ban hành
1.6.3. Giai đoạn từ khi ban hành Luật Đất đai năm 2003 đến nay
1.7. Pháp luật về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng của Trung Quốc và những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.7.1. Pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng của Trung Quốc
1.7.2. Những bài học kinh nghiệm có thể học tập vận dụng ở Việt Nam
1.8. Những quy định của pháp luật Việt Nam về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng
1.8.1. Thẩm quyền thu hồi đất
Theo Điều 44, Luật Đất đai năm 2003: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có thẩm quyền thu
hồi đất.
- Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân
cư, ngoài việc được BT theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được HT bằng
tiền; giá tính HT từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề; mức hỗ trợ cụ thể do UBND cấp tỉnh
quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
- Trường hợp BT bằng việc giao đất mới có giá trị thấp hơn giá đất bị thu hồi thì ngoài
việc được giao đất mới, người bị thu hồi đất còn được BT bằng tiền phần giá trị chênh lệch;
trường hợp BT bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi thì BT tương ứng
với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi.
- Người bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường
được thực hiện như sau: Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng cho,
nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường; Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp
không thuộc trường hợp trên thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí
đầu tư vào đất còn lại.
- Người đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các
nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được BT về đất, nhưng được
BT chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định.
- Người sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, mà không đủ
điều kiện được BT, nếu trường hợp họ trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính là
nông nghiệp thì UBND cấp có thẩm quyền xem xét để giao đất mới phù hợp điều kiện của địa
phương.
- Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị
trấn thì không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích này được bồi thường chi phí
đầu tư vào đất còn lại.
1.8.4.2. Nhà nước bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất đối với đất ở
7
Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường
bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu TĐC hoặc BT bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị
giao đất ở tại địa phương.
Bốn là, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp không thuộc trường hợp đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không
8
được công nhận là đất ở mà không có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng
tiền còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm.
Nếu người được hỗ trợ nói trên có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào
các cơ sở đào tạo nghề, được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng
trong độ tuổi lao động.
Năm là, một số hỗ trợ khác
Ngoài việc hỗ trợ như trên, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, chủ tịch UBND
cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất
cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT,
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở TỈNH HÀ TĨNH
2.1. Tình hình về quản lý, sử dụng đất đai và bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng ở
tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh
2.1.2. Tình hình áp dụng các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai ở tỉnh Hà
Tĩnh
2.1.2.1. Tình hình quản lý đất đai
2.1.2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai
2.1.3. Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tĩnh
Từ năm 2005 đến nay, đã thực hiện thu hồi 6.536,06 ha đất, phục vụ 243 dự án. Tổng kinh
phí BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB đã thực hiện chi trả trên 2.371,35 tỷ đồng.
Tổng diện tích đất thu hồi của ba dự án là 2.276,07ha, gồm đất nông nghiệp 1.513,34 ha
hồi.
Điều 1, Khoản 1, Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 bổ sung thêm: người bị
thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được BT đất, tài sản, được HT, bố trí
TĐC.
* Quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, như sau: ngoài theo nguyên tắc của luật, còn phải đảm bảo các yêu cầu:
việc BT, HT và TĐC được thực hiện công khai, dân chủ đúng pháp luật. Các cơ quan nhà nước,
tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện BT, HT và TĐC có trách nhiệm công bố công khai theo
quy định về quy hoạch dự án, về chính sách, trình tự, thủ tục thực hiện BT, HT và TĐC. Việc
thực hiện BT, HT và TĐC được thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt.
* Quy định về điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11, Điều 8,
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và các Điều 44, 45 và 46, Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007.
Đối với các dự án nói trên, khi thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tỉnh đã xác định đối
tượng được bồi thường theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004; các thông tư hướng
dẫn của các bộ, ngành và Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 18/7/2006 của UBND tỉnh.
* Quy định về mức giá đất để tính bồi thường áp dụng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh, như sau: Giá đất để tính BT và việc tính chi phí đầu tư vào đất còn lại được
thực hiện theo quy định tại Điều 5, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của
Bộ Tài nguyên- Môi trường. Trường hợp diện tích bị thu hồi có được do đấu giá quyền sử
dụng đất, thì giá để tính BT là giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất nhân
10
với hệ số chênh lệch giữa đất trúng đấu giá chia cho giá đất được UBND tỉnh quy định tại thời
điểm đấu giá, hệ số chênh lệch tối đa là 1,5; nếu lớn hơn 1,5 thì áp dụng mức 1,5.
* Quy định về bồi thường đối với đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh: được thực hiện theo quy định tại Điều 16, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP
ngày 13/8/2009 và Điều 6, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường.
Thời gian được hỗ trợ tính theo thực tế (tùy yêu cầu tiến độ dự án và yêu cầu về công tác bàn
giao mặt bằng), nhưng tối đa không quá 6 tháng; trường hợp khác không quá 12 tháng.
11
Hai là, về hỗ trợ tái định cư: đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà
không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở TĐC. Suất TĐC tối thiểu được quy
định cụ thể ở các địa bàn như sau: tại các phường là 70m
2
; tại các thị trấn và các xã thuộc thị
xã, thành phố là 100m
2
; tại các xã loại I và xã loại II là 150m
2
; tại các xã loại III là 200m
2
.
* Quy định về hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh: ngoài áp dụng theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009, còn
quy định hỗ trợ đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản; mức hỗ trợ tối đa bằng 50% giá đất bồi thường (đối với đất trồng cây lâm
nghiệp) bằng 70% giá đất bồi thường (đối với đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản) tính theo
diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất
nông nghiệp tại địa phương.
Hộ gia đình, cá nhân được BT bằng đất nông nghiệp thì được HT ổn định sản xuất, mức
HT tính theo diện tích đất nông nghiệp được BT 4.000đ/m
2
.
* Quy định vỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất ở
tỉnh Hà Tĩnh, ngoài BT theo quy định, còn được hỗ trợ như sau:
Đối với đất nông nghiệp: các xã thuộc thành phố Hà Tĩnh mức hỗ trợ bằng 3,5 lần giá trị
có cùng mục đích sử dụng (đất nông nghiệp) rất khó khăn, không có quỹ đất để thực hiện. Một
số dự án các cơ quan thực hiện BT, GPMB chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục, có trường hợp
thời gian GPMB thực hiện 3 - 4 năm chưa xong. Có nơi tính giá BT chưa tương xứng với giá
thực tế trên thị trường, các hộ bị ảnh hưởng không đồng tình, phải điều chỉnh làm chậm tiến độ
GPMB. Một bộ phận người dân ý thức chấp hành không tốt, chây lỳ, gây khó khăn, cản trở khi
Nhà nước tiến hành thu hồi đất, GPMB. Bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác BT, HT, TĐC,
GPMB hoạt động chưa hiệu quả, có vụ việc lợi dụng chức vụ để tham nhũng. Pháp luật về BT,
HT, TĐC, GPMB vẫn còn nhiều bất cập, sơ hở.
2.4. Những kết quả đạt đƣợc trong quá trình áp dụng pháp luật về thu hồi đất, giải
phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tĩnh
2.4.1. Kết quả trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng ở
tỉnh Hà Tĩnh
Các dự án triển khai thực hiện đã ảnh hưởng đến các hộ dân như sau: tổng diện tích đất
thu hồi: xem phụ lục 1; tổng số hộ bị ảnh hưởng theo loại đất, mức độ ảnh hưởng: xem phụ
lục 2.
Việc thực hiện BT, GPMB: khi tiến hành BT, HT, TĐC, GPMB thì các văn bản: Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009; Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 16/3/2010;
Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 của UBND tỉnh chưa được ban hành. Do đó,
khi triển khai tại các dự án được áp dụng thực hiện như sau:
Thứ nhất, việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường: Tổng hợp kết quả xác
định đối tượng được BT và không được BT về đất tại ba dự án như sau: xem phụ lục 3.
Việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường thực hiện theo quy định tại Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009; các thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành và Quyết
định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 18/7/2006, theo đó: Đối tượng được hưởng BT, HT, TĐC,
gồm: tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi
đất và có đủ điều kiện để được bồi thường đất, tài sản thì được bồi thường theo quy định; trường
hợp sau khi bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở thì được bố trí TĐC.
Về điều kiện để được bồi thường thiệt hại về đất: người bị Nhà nước thu hồi đất được
BT phải có một trong các điều kiện sau đây: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
Bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất: Tổng hợp đơn giá bồi thường về tài sản của 3 dự
án như sau: xem phụ lục 5. Giá bồi thường thiệt hại về tài sản, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu,
được thực hiện theo Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 31/2/2008 và Quyết định số
01/2009/QĐ-UB ngày 13/01/2009 của UBND tỉnh Hà Tĩnh, thể hiện như sau:
* Đánh giá việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng tại ba dự án nghiên cứu
- Dự án đường nối Quốc lộ 1A đến mỏ sắt Thạch Khê
Những thành công trong triển khai dự án
Đây là Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông (mục đích phục vụ lợi ích công cộng)
nên 100% nhân dân trong vùng đồng tình về chủ trương, ít gặp trở ngại từ phía người có đất
14
bị thu hồi.
Trong quá trình tổ chức thực hiện BT GPMB, Hội đồng bồi thường đã cùng với chủ đầu
tư và cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương kiên trì, chủ động thực hiện việc BT, HT, làm
tốt công tác tuyên truyền vận động cũng như phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với các hộ bị ảnh
hưởng nên đã xác định rõ phạm vi, đối tượng bị ảnh hưởng, chi tiết cụ thể hoá các trường hợp
được bồi thường thiệt hại về đất, được hỗ trợ, các tài sản trên đất phù hợp với tình hình thực
tế tại địa phương, thực hiện xong việc BT, HT đối với toàn bộ phần diện tích được giao.
Quá trình thực hiện đảm bảo đúng quy trình, dân chủ, công khai, minh bạch, rõ ràng,
đúng, đầy đủ các chế độ, chính sách Nhà nước quy định. Không có trường hợp khiếu kiện
đông người, vượt cấp, không trường hợp nào phải cưỡng chế thu hồi đất.
Những hạn chế phát sinh khi triển khai dự án
Hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất của các hộ không đầy đủ, nên việc xác định đối
tượng, điều kiện được BT mất nhiều thời gian. Có địa phương chưa thực hiện xong việc giao
đất ổn định lâu dài cho các hộ dân nên cũng làm ảnh hưởng đến công tác BT, HT, GPMB.
Khu tái định cư không được chuẩn bị trước, lập phương án bồi thường, hỗ trợ xong đến
bước chi trả vẫn chưa có đất TĐC để bố trí cho các hộ phải di chuyển, phải chờ xây dựng
xong khu tái định cư, gây mất thời gian, uy tín, làm giảm lòng tin của người dân.
Một số ít hộ dân không đồng tình với chế độ chính sách BT, HT được áp dụng cho Dự
án, vì trong khu vực đó có Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê mức hỗ trợ cao hơn.
nơi ở mới hầu như không đáng kể. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề mới cho những đối
tượng phải chuyển đổi nghề vẫn chưa được thực hiện đồng bộ với việc BT, GPMB.
Hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất của các hộ bị ảnh hưởng không đầy đủ, thiếu chính
xác, nên việc xác định đối tượng, điều kiện được BT gặp nhiều khó khăn.
Chính quyền một số nơi chưa có những giải pháp hữu hiệu hơn, nên cũng phải cưỡng
chế thu hồi đất đối với một số hộ không chấp hành.
- Dự án cải thiện môi trường đô thị miền Trung - Tiểu dự án Thành phố Hà Tĩnh
Những thành công trong triển khai dự án
Đây là Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng thoát nước bẩn, điều hoà môi trường (mục đích
phục vụ lợi ích công cộng) nên 100% nhân dân trong vùng đều đồng tình ủng hộ. Cấp ủy
đảng, chính quyền các địa phương có sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện triển khai thực hiện.
Dự án này có khung chính sách BT, HT riêng, quy định về điều kiện, đối tượng được
BT mang tính thông thoáng hơn các quy định trong nước, mức HT cũng cao hơn so với hai dự
án trên.
Kế hoạch thực hiện BT, GPMB được được tổ chức cho vay vốn kiểm soát khá chặt chẽ,
nên việc tổ chức thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc. Việc tổ chức thi công chỉ được thực hiện
sau khi được bàn giao toàn bộ mặt bằng. Khu TĐC được xây dựng trước, đảm bảo đủ điều
kiện cho các hộ đến nơi ở mới. Thời gian thực hiện BT, GPMB thực hiện đúng theo kế hoạch
đề ra.
Hội đồng BT GPMB đã thực hiện việc xác định đối tượng và điều kiện BT, HT theo
đúng quy định pháp luật; BT, HT theo đúng bảng giá BT do UBND tỉnh quy định.
Những hạn chế phát sinh khi triển khai dự án
Dự án này chủ yếu là công trình theo tuyến, phạm vi ảnh hưởng về diện tích không
nhiều, nhưng đối tượng bị ảnh hưởng lại rất nhiều, liên quan đến nhiều địa phương nên việc
xác định đối tượng, điều kiện BT, HT khó khăn, phức tạp.
Khi GPMB, dự án này được áp dụng khung chính sách BT, HT riêng, nên các hộ bị ảnh
hưởng thuộc các dự án khác có sự so sánh, gây thắc mắc, giao động tư tưởng trong một số bộ
16
phận nhân dân. Hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất của các hộ không đầy đủ, nên việc xác
cập, chưa tương xứng với giá thực tế. Giá BT không thống nhất đối với các dự án trong tỉnh
đã gây bất công bằng, nhân dân có cơ sở để thắc mắc. Vì vậy, quá trình BT, GPMB cũng gặp
rất nhiều khó khăn.
Thứ tư, các chính sách HT, TĐC còn hạn chế ở chỗ: mới tập trung BT về đất, tài sản
trên đất mà chưa quan tâm đến việc ổn định đời sống và tái định cư của người dân bị thu hồi
đất. Đặc biệt là chưa có quy định BT, HT về mặt biển, ngư trường cho ngư dân, nên khó thực
17
hiện.
Thứ năm, một số dự án kéo dài, không có nguồn để chi trả. Có dự án khi đã tiến hành kiểm
kê, tính toán giá BT, HT (theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004) nhưng chưa ra
quyết định thu hồi đất, đến khi Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 được ban hành có
hiệu lực, thì phải thực hiện kiểm đếm, tính toán lại, gây khó khăn, tốn kém.
Thứ sáu, một số khó khăn về giải quyết việc làm đối với các hộ bị thu hồi đất nông
nghiệp ở địa phương.
2.4.3. Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tại
tỉnh Hà Tĩnh
Thứ nhất, chính sách pháp luật về đất đai chưa đồng bộ, còn nhiều sơ hở, bất cập,
thường xuyên thay đổi, nhất là trong lĩnh vực BT, HT, TĐC, GPMB.
Thứ hai, ý thức chấp hành của một bộ phận nhân dân còn chưa cao; một số tổ chức chưa
làm tròn trách nhiệm, cán bộ trong lĩnh vực này còn có nơi năng lực chưa đáp ứng; tình trạng vi
phạm về BT, GPMB vẫn diễn ra.
Thứ ba, một số dự án có quy mô lớn, ảnh hưởng đến nhiều đất đai, dân cư, kéo theo
nhiều vấn đề phải giải quyết trong việc BT, HT, TĐC, BPMB (nguồn kinh phí, quỹ đất, đào
tạo nghề, giải quyết việc làm ) đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT, GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG Ở TỈNH HÀ TĨNH
3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất, giải phóng mặt
Hai là, việc BT, GPMB phải tính đến các chính chính sách về giá BT đất đai, tài sản, cụ
thể: cần xem xét và phân vị trí, khả năng sinh lợi cụ thể tại thời điểm thu hồi, không nên dựa
vào hạng đất khi họ được giao; cần xây dựng giá đất nông nghiệp theo vị trí và khả năng sinh
lợi. Vì vậy, phải hoàn thiện hơn công tác định giá tài sản trên đất và giá trị quyền sử dụng đất.
Việc BT thiệt hại về tài sản nhất thiết phải tính theo mức thiệt hại thực tế, được xem xét bằng
giá trị xây dựng mới. Nhà nước cần thường xuyên xác định lại đơn giá BT tài sản trên đất bị
thu hồi sát với giá thị trường.
3.1.3. Hoàn thiện quy định về hỗ trợ, tái định cư
Cần quan tâm đến vấn đề khôi phục cuộc sống, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất có
nguồn thu nhập mới. Điều này không chỉ là trách nhiệm của chủ đầu tư dự án mà còn là trách
nhiệm của cả chính quyền địa phương và của toàn xã hội.
Đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có một cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng bằng
trước lúc di chuyển, mặt khác như là một biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa những hậu quả
xấu về kinh tế, xã hội, môi trường mà quá trình tái định cư có thể đem lại. Vì vậy, cần có những
chính sách hỗ trợ cuộc sống cho họ. Do đó, nhà nước cần phải có sự ràng buộc điểm này với
nhà đầu tư và có phương án chỉ đạo các ngành tham mưu phối hợp thực hiện.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thu hồi đất, giải phóng mặt
bằng
3.2.1. Đẩy mạnh cải cách hành chính
Cải cách hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính được xác định là trọng tâm.
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng pháp luật đất đai, BT, HT, TĐC, GPMB
cần phải thực hiện các yêu cầu sau đây: quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật phải đầy đủ tính khoa học, tính công khai, minh bạch; đảm bảo cho Quốc hội, Chính phủ
19
kiểm soát được hoạt động xây dựng và ban hành văn quy phạm pháp luật; đảm bảo tính hợp
pháp, thống nhất, khả thi của hệ thống văn quy phạm pháp luật này với hệ thống văn quy
phạm pháp luật khác. Cải cách quy trình soạn thảo, thẩm định xem xét thông qua, công bố các
văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, BT, HT, TĐC, GPMB.
3.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực về giải phóng mặt bằng
những vùng thu hồi đất, GPMB chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nói chung, pháp luật đất
đai, BT, GPMB nói riêng.
20
Thứ hai, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần tập trung cao độ trong lãnh đạo, chỉ đạo;
huy động các tổ chức chính trị vào cuộc và xác định nhiệm vụ GPMB là nhiệm vụ trọng tâm,
cấp bách hiện nay. Tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành có sự phối hợp chặt chẽ, giải quyết
nhanh gọn thủ tục hành chính, đẩy nhanh tiến độ BT, HT, GPMB.
Thứ ba, thường xuyên nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới hoặc kiến
nghị Trung ương sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách về BT, HT, GPMB phù hợp với tình hình
thực tế (như quy định bổ sung thêm hỗ trợ cho ngư dân khi thu hồi mặt biển để thực hiện dự
án).
Thứ tư, củng cố, kiện toàn các tổ chức thực hiện công tác GPMB đảm bảo số lượng, chất
lượng; thường xuyên tổ chức tập huấn để nâng cao trình độ cho đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
Thứ năm, thực hiện BT, GPMB theo đúng quy định pháp luật; đảm bảo công bằng, dân
chủ, công khai; nâng cao chất lượng công trình TĐC.
Thứ sáu, có một kế hoạch dài hạn với nguồn tài chính đảm bảo trong nhiều năm để thực
hiện BT, HT, TĐC. Thực hiện các biện pháp hành chính đối với những trường hợp gây cản
trở việc GPMB. Giải quyết dứt điểm, kịp thời các khiếu nại, tố cáo về BT, HT, GPMB nhằm
làm ổn định tình hình.
KẾT LUẬN
Để phát huy vai trò của đất đai, đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước bằng
pháp luật đối với đất đai. Trong đó, chính sách BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB
là một bộ phận quan trọng của pháp luật đất đai Việt Nam, là nhân tố góp phần vào quá trình
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập, mở cửa; thúc đẩy phát triển kinh tế-
xã hội; đảm bảo sự ổn định, công bằng xã hội.
Trong thời gian qua, pháp luật về BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB có
nhiều chuyển biến tiến bộ, mang tính hệ thống, điều chỉnh nhiều quan hệ trong lĩnh vực này.
Tuy vậy, pháp luật về BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB vẫn còn nhiều bất
15/6/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thu hối đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
3
Bộ Tài nguyên - Môi trường (2009), Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày
01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
4
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2006), Nghị quyết số 01/NQ-TU, ngày 13/4/2006
về tăng cường lãnh đạo công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến năm 2010 và
những năm tiếp theo.
5
Chính phủ (1959), Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 quy định thể lệ tạm thời
về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết cơ bản.
6
Chính phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật
Đất đai năm 2003.
7
Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
8
Chính phủ (2004), Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử
dụng đất.
9
Chính phủ (2006), Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ
22
sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003.
10
19
Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần
thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015.
20
TS. Trần Quang Huy, Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học
số 10/2010. 21
TS. Nguyễn Thị Nga, Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng
các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học số 5/2011.
22
Hoàng Thị Nga (2010), Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở
Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
23
23
PGS, TS. Phạm Hữu Nghị, Về những điểm mới của Luật Đất đai năm 2003 qua hai lần sửa
đổi, bổ sung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2004.
24
Nguyễn Minh, Những điều cần biết về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, NXB
Tư pháp năm 2005.
25
Luật gia Nguyễn Thị Mai, Luật gia Trần Minh Sơn, Hỏi đáp pháp luật đất đai về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, NXB Tư pháp, Hà Nội
2005.
26
Quốc hội (1996), Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
Nông nghiệp Hà Nội.
37
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất đai; Giáo trình Luật Dân
sự, NXB Tư pháp.
38
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2006), Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày
24
18/7/2006 ban hành một số quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
39
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2007), Quyết định 3377/2007/QĐ-UBND ngày
26/12/2007 về việc ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2008.
40
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2007), Quyết định số 1951/QĐ-UBND ngày
18/07/2007 về việc phê duyệt khung tái định cư Dự án Cải thiện môi trường đô thị
Miền Trung - Tiểu dự án Thành phố Hà Tĩnh.
41
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2008), Quyết định số 3737/2008/QĐ-UBND ngày
25/12/2008 về việc ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2009.
42
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2008), Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND ngày
09/9/2008 về việc ban hành quy định chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trọng điểm trong Khu kinh
tế Vũng áng, tỉnh Hà Tĩnh.
43
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2008), Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày
12/9/2008 về việc điều chỉnh loại xã, hạng đất, giá đất và bồi thường hoa màu phục
vụ giải phóng mặt bằng Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương.
44
Http://www.monre.gov.vn.
53
Http://www.hatinh.gov.com.
54
Http://www.cafeland.vn.
55
Http://www.isponre.gov.vn.