Trị giá hải quan của WTO, thực trạng và áp
dụng tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam Đào Ngọc Thành Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Trần Minh Ngọc
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tiếp cận cơ sở lý luận về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất,
nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO. Tiếp cận làm rõ những mặt được
trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực tế hoạt động của Trung Quốc
trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, so sánh với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam để
rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan.
Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác định trị giá tính thuế
cho hàng hoá xuất, nhập khẩu. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của cơ
quan Hải quan trong lĩnh vực xác định trị giá cho hàng hoá XNK ở Việt Nam.
Keywords. Luật Quốc tế; WTO; Hải quan; Luật hàng hải; Trung Quốc; Việt Nam
Content
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Để hòa vào “dòng
chảy” của quá trình phát triển thương mại quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng các “luật
Ở Việt Nam trước đây đã có một số công trình có đề cập đến công tác QLNN về hải
quan, một số đề tài về nghiên cứu hiện đại hóa hải quan, công tác kiểm tra sau thông quan
như: “ Nghiên cứu ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại nhằm tạo thuận lợi cho
thương mại quốc tế của Việt Nam” của TS nguyễn Công Bình, Viện nghiên cứu thượng mại -
Bộ Công thương, 2009; “ Cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế” của TS Nguyễn Ngọc Túc, Tổng cục Hải quan, 2007; “Các giải pháp
nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của kế hoạch
cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004- 2006” của ThS Nguyễn Viết
Hồng, Tổng cục Hải quan, 2005; Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, những công trình này
chỉ đề cập đến công tác QLNN về Hải quan ở một góc độ, khía cạnh nhất định, chưa đi vào
các vấn đề nghiệp vụ chuyên biệt có tính chuyên môn sâu như công tác xác định trị giá. Qua
thời gian nghiên cứu tìm hiểu, tác giả không tìm thấy công trình nghiên cứu tương tự nào
trong lĩnh vực này.
3. Về mục đích, ý nghĩa của luận văn
Mục đích đề tài là làm rõ một số vấn đề về nguyên tắc xác định trị giá tính thuế theo
Hiệp định thực hiện điều VII Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 của WTO.
Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng của Trung Quốc để từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam, góp phần hoàn thiện những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả
công tác quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động XNK, đảm bảo nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Tiếp cận cơ sở lý luận về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập
khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO
- Tiếp cận làm rõ những mặt được trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực
tế hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, so sánh với thực tiễn áp
dụng ở Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực trị giá hải quan.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác định trị giá tính thuế
cho hàng hoá xuất, nhập khẩu. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của cơ quan Hải
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu
gồm 03 chương:
Chương 1: Khái niệm về trị giá hải quan và quá trình hình thành, phát triển các
phương pháp xác định trị giá hải quan.
Chương 2: Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO tại Trung Quốc và Việt
Nam.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ Trung quốc và những kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả công tác xác định trị giá hải quan ở Việt Nam.
Chƣơng 1
KHÁI NIỆM VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI
QUAN
1.1. Khái niệm giá trị Hải quan
Khái niệm trị giá Hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thành khi người
ta bắt đầu chuyển dần việc đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sang đánh thuế theo giá trị
hàng hóa. Đến nay khi nói đến trị giá Hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác
nhau, chẳng hạn:
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theo giá trị.
- Trị giá Hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Trị giá Hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng
hóa đó.
- Trị giá Hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải
quan.
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá Hải quan như sau:
Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích
quản lý Nhà nước về Hải quan.
- Yếu tố địa điểm: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến yếu tố địa điểm
tức là giá được xác định là giá giao hàng hóa từ người bán sang người mua tại cảng hay tại
một địa điểm của nước NK.
- Yếu tố về số lượng: Định nghĩa không nêu một số lượng chuẩn nào cả
- Yếu tố về cấp độ thương mại: không được Định nghĩa Brusels chỉ ra một cách rõ
ràng mặc dù đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trị giá.
- Các yếu tố điều chỉnh: Định nghĩa đưa ra "Giá sẽ phải điều chỉnh khi có những nhân
tố bất bình thường, có nghĩa giá này không phù hợp với các điều kiện cạnh tranh lành mạnh".
- Về chiết khấu và giảm giá: Định nghĩa Brusels mở ra cho tất cả các việc mua bán
hàng hóa thực hiện trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh là được chấp nhận.
1.2.2. Xác định trị giá hải quan theo hiệp định trị giá GATT/WTO
1.2.2.1. Khái quát về Hiệp định trị giá GATT/WTO
Để khắc phục những nhược điểm của hệ thống xác định trị giá theo định nghĩa
Brussels,. Từ năm 1973 đến 1979, các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán
mới nhằm đạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do hóa thương mại quốc tế. Vấn đề
xác định giá trị giá hải quan được đặt ra như một trở ngại quan trọng của tiến trình này. Vòng
đàm phán này được gọi là vòng đàm phán Tokyo, mà kết quả của nó là một hiệp định mới về
xác định trị giá hải quan ra đời vào năm 1981.
Hiệp định về giá trị Hải quan của hàng hóa có tên đầy đủ là hiệp định thực thi điều II
của Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại GATT/WTO 1994, hay còn gọi là Hiệp
định trị giá hải quan. Nội dung của hiệp định trị giá hoàn toàn thống nhất với hiệp định năm
1981, có bổ sung thêm một số Chú giải, Phụ lục và hướng dẫn cụ thể hơn.
1.2.2.2. Mục đích, nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO
1) Mục đích của Hiệp định:
- Tạo ra hệ thống xác định trị giá Hải quan ổn định, công bằng phù hợp với thực tế
thương mại.
- Tạo ra chuẩn mực đơn giản, khách quan, đồng nhất cho tất cả các nước thành viên.
- Loại trừ việc sử dụng trị giá Hải quan tùy tiện áp đặt.
- Xúc tiến các mục tiêu của Hiệp định chung về thuế và thương mại.
- Xóa bỏ việc coi trị giá Hải quan là công cụ để điều tiết xuất nhập khẩu.
toán với điều kiện là có thể phân định được các khoản chi phí dưới đây với giá thực tế đã
thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán như các khoản: Chi phí về xây dựng, kiến trúc, lắp ráp,
bảo trì hoặc trợ giúp kỹ thuật được thực hiện sau khi nhập khẩu hàng hóa. Các chi phí vận
chuyển, các loại thuế và lệ phí sau khi nhập khẩu hàng hóa.
2) Phương pháp 2: Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt nhập khẩu (Identical
Goods);
Trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu
sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được
định giá.
3) Phương pháp 3: Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự nhập khẩu (Sinmilar
Goods);
Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của
Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán
để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng
hóa đó đang được định giá.
4) Phương pháp 4: Trị giá khấu trừ (Deductive Method);
Trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ phải
dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu
giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng
thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ
với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây: tiền hoa hồng thường
thanh toán, chi phí thông thường để vận chuyển và bảo hiểm hàng hóa ,thuế quan và thuế
nội địa… phải trả tại nước nhập khẩu khi NK.
5) Phương pháp 5: Trị giá tính toán (Computer Method);
Trị giá thuế quan của hàng NK theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính
toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
+ Các chi phí hoặc giá trị của nguyên vật liệu và quá trình sản xuất hoặc chế biến
được sử dụng trong việc sản xuất ra hàng nhập khẩu đó;
+ Khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với lợi nhuận thường có trong
việc bán hàng hóa có cùng phẩm cấp và chủng loại như hàng hóa đang được định giá, do các
nguồn thu thuế và những vi phạm gian lận trong quá trình làm thủ tục hải quan. Theo kinh
nghiệm của Hải quan các nước đi trước thì hầu hết các nước thời kỳ đầu thực hiện Hiệp định
GATT/WTO, số thu ngân sách từ thuế hải quan giảm xuống so với trước.
2.1.2. Tác động của hiệp định trị giá GATT đối với kinh tế
2.1.2.1. Tác động tích cực
- Thực hiện hiệp định GATT Là điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế, tăng nguồn thu
cho ngân sách từ thuế nhập khẩu, bảo hộ thị trường nội địa
- Tạo thế chủ động trong kế hoạch kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng,
xoá bỏ được tính áp đặt, cứng nhắc khi áp dụng bảng giá tối thiểu
- Minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công khai trong xác định trị giá.
- Thực hiện trị giá GATT đòi hỏi các DN phải khai báo hàng hoá cụ thể, rõ ràng, chi
tiết hơn phục vụ tốt cho công tác quản lý XNK cũng như quản lý NN về Hải quan
2.1.2.2. Tác động tiêu cực
Do việc thực thi hiệp định trị giá GATT thời gian đầu còn thiếu đồng bộ, kém hiệu
quả, chưa xây dựng được hệ thống quản lý hữu hiệu. các nước hầu hết phải đối mặt với việc
gian lận thương mại qua giá gia tăng, gian lận về trị giá hàng hóa thường gặp dưới các hình
thức:
- Khai báo trị giá hải quan thấp hơn thực tế để trốn thuế
- Khai báo trị giá cao hơn thực tế thường xảy ra ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nâng
cao trị giá nhập khẩu để đẩy cao giá thành giảm thu nhập chụi thuế.
2.1.2.3. Hậu quả của gian lận thương mại
- Làm mất tính công bằng cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại nhập, de
doạ nền sản xuất trong nước.
- Tạo tâm lý ưa dùng hàng ngoại, làm đảo lộn thị trường Nhà nước khó quản lý .
- Tạo nên một nền kinh tế với sức tiêu thụ giả tạo trên một nền kinh tế sản xuất chưa
cân xứng, thậm chí còn dẫn đến trì trệ vì đa số tầng lớp gian thương và tham nhũng qua hoạt
động gian lận thương mại .
- Thất thu thuế, không cân đối được thu chi ngân sách, quỹ phúc lợi bảo hiểm xã hội bị
giảm sút, làm cho nhân dân hoang mang, mất lòng tin đối với Nhà nước…
2.2. Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá hải quan của Trung Quốc
tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu do Hải quan kiểm tra, xác định trên cơ sở giá hợp
đồng của hàng hóa đó. Khi có nghi ngờ về giá khai báo cơ quan Hải quan tiến hành tham vấn
giá. quá trình thẩm vấn đảm bảo nguyên tắc “minh bạch và công bằng” giữa cơ quan Hải
quan và DN.
2.2.4. Tình hình gian lận thương mại qua giá tại Trung Quốc
Sau khi thực hiện hiệp định trị giá GATT/ WTO thuế nhập khẩu của Trung Quốc đã
hạ xuống. Có đến 30% trong tổng số các công ty xuyên quốc gia tại Trung Quốc chưa từng
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, 80% trong số đó trốn thuế, 40% các DN làm ăn thua lỗ báo
cáo không đúng tình hình kinh doanh thực tế. Tổng cục thuế quốc gia cho biết việc trốn thuế
của các công ty xuyên quốc gia gây thất thoát 300 tỷ NDT tiền thuế mỗi năm. Thực tế việc
định giá của các giao dịch liên kết cũng mang đến những tổn thất tương tự cho ngành Hải
quan.
Một số hình thức gian lận qua giá hàng nhập khẩu chủ yếu ở Trung Quốc
- Doanh nghiệp lợi dụng những công ty ma hoặc mối quan hệ đặc biệt tiến hành chế
hoá đơn nhằm che dấu giá trị thực của hàng hoá,
- Khai báo giá hàng hóa miễn phí, đi kèm, ký gửi thấp hơn giá trị thực nhằm trốn thuế.
- Tạo hai bản hợp đồng và hoá đơn, bản gốc làm căn cứ của giao dịch, bản giá
khai báo giá thấp hơn để xuất trình và nộp cho cơ quan Hải quan.
- Chia thành nhiều loại hoá đơn khác nhau để khai báo giá thấp hơn.
- Làm giả chứng từ, che dấu chi phí thực cần khai báo.
- Khai báo sai tên hàng, xuất xứ nhằm giảm thuế suất và giá.
- Khai báo giá thấp liên tiếp trong cùng một lĩnh vực, một ngành
2.2.5. Các biện pháp quản lý của Hải quan Trung quốc trong phòng, chống gian
lận thương mại qua giá
Hải quan trung quốc đã triển khai đồng bộ các biện pháp từ xây dựng hoàn thiện hệ
thống pháp luật, củng cố xây dựng và đào tạo lực lượng hải quan là nòng cốt, bên cạnh đó
hoàn thiện qui trình nghiệp vụ từ khâu thông quan đến sau thông quan, từ công tác quản lý vĩ
mô đến các khâu nghiệp vụ cụ thể của ngành. Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành chức năng
trong công tác đấu tranh chống gian lận thương mại, với các biện pháp chủ yếu cụ thể là:
2.2.5.1. Xây dựng hệ thống văn bản qui phạm pháp luật
̣
ngcủa ngành dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
2.2.5.3. Công tác quản lý rủi ro chung của Hải quan Trung Quốc
Hải quan Trung Quốc thực hiện cải cách, hiện đại hóa từ năm 1998, HQTQ đã sử
dụng công cụ quản lý rủi ro làm cốt lõi trong công tác quản lý với sự hỗ trợ tích cực của các
chương trình quản lý tự động hóa trên nguyên tắc: quản lý theo đối tượng doanh nghiệp, theo
loại hình thủ tục hải quan và theo ngành hàng.
- Công tác quản lý rủi ro được quy định trong Luật Hải quan và các văn bản
hướng dẫn dưới luật do Chính phủ và Tổng cục Hải quan ban hành.
- Có bộ phận chuyên trách quản lý rủi ro là từ Tổng cục thuộc Cục Kiểm tra sau thông
quan và tại hải quan vùng, Hải quan Trung Quốc đã thành lập bộ phận quản lý rủi ro hoạt
động độc lập với các bộ phận nghiệp vụ khác.
- Công tác quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc được thực hiện theo hệ thống khép
kín gồm các bước: thu thập thông tin rủi ro - phân tích rủi ro - kiểm soát rủi ro - đánh giá rủi
ro - quyết định xử lý nghiệp vụ.
2.2.5.4. Hệ thống kiểm tra sau thông quan của Hải quan Trung Quốc
Hệ thống kiểm tra sau thông quan ((KTSTQ) của Hải quan Trung Quốc mà bản chất
là hoạt động kiểm toán Hải quan được thiết lập vào năm 1994. Hiện nay, Cục Điều tra của
Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm chính về công tác kiểm toán, bao gồm bộ phận kiểm
toán và bộ phận điều tra thương mại.
+ Phạm vi KTSTQ: KTSTQ đối với những doanh nghiệp, tổ chức liên quan trực tiếp
đến hoạt động XNK, các doanh nghiệp, tổ chức tham gia vào các hoạt động ngoại thương;
+ Nội dung công tác KTSTQ: Kiểm tra sau thông quan về chính sách thương
mại; thu thuế và lệ phí khác; hàng đang chịu sự quản lý hải quan gồm hàng nhập khẩu,
hàng hư hỏng trong kho ngoại quan, hàng gia công…
+ Thời hạn kiểm tra: trong vòng 3 năm kể từ ngày hàng hóa được thông quan.
+ Quyền của cơ quan Hải quan: Kiểm tra và sao chụp các hợp đồng, tài liệu kế toán
và các chứng từ khác có liên quan (ví dụ như hóa đơn thương mại, vận đơn, bản ghi, tài liệu,
thư tín thương mại, các thiết bị video và audio và các thiết bị khác có liên quan); kiểm tra tại
trụ sở đối tượng, nhà máy, kho tàng nhằm kiểm tra hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng
mại qua giá
2.3. Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO của Việt Nam
2.3.1. Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực Hải quan và quá trình tham gia thực
hiện hiệp định trị giá GATT/WTO
2.3.1.1. Những cam kết cơ bản của Việt Nam trong lĩnh vực Hải quan khi gia nhập
WTO
Cũng như Trung Quốc , Hải quan là một trong những lĩnh vực được Việt Nam cam
kết nhiều khi gia nhập WTO. Các cam kết thể hiện trên 10 vấn đề trong đó có: Thực hiện
xác định trị giá hải quan theo WTO; đơn giản hóa thủ tục HQ để tạo thuận lợi cho thương
mại; thực hiện các quy định về phí và lệ phí trong WTO; tăng cường chống buôn lậu, gian
lận thương mại; nâng cao năng lực, trình độ quản lý; hiện đại hóa quản lý ha
̉
i quan …
2.3.1.2. Tình hình thực hiện các cam kết chung về hải quan theo tinh thần của WTO
Trong suốt quá trình cải cách của ngành HQ từ năm 1998 đến nay, các nội dung cam
kết đã được từng bước thực hiện, đặc biệt từ khi có Luật Hải quan (2001) và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Hải quan (2005) thì các nội dung trên đã được tăng cường triển
khai thực hiện theo những định hướng rõ hơn, tập trung hơn vào các yêu cầu của WTO.
2.3.2. Chính sách thuế quan và tình hình thực hiện cam kết về trị giá Hải quan
theo Hiệp định Trị giá GATT
2.3.2.1. Chính sách thuế quan khi tham gia WTO.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với 160 nước và vùng lãnh
thổ, tham gia 86 hiệp định thương mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tư và 40 hiệp định chống
đánh thuế 2 lần, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước, chính thức là thành
viên thứ 150 của WTO. Thương mại quốc tế phát triển, kim ngạch XNK không ngừng gia
tăng đã đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu cho NSNN.
Mức thuế bình quân toàn biểu được cắt giảm từng bước theo cam kết, từ mức hiện
hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong vòng 5 - 7 năm.
2.3.2.2. Tình hình thực hiện cam kết về trị giá Hải quan theo Hiệp định Trị giá GATT
Hải quan VN thực hiện xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
- Một là: Xây dựng pháp luật sát với thực tiễn của hoạt động XNK, phù hợp với cam
kết quốc tế. Các qui định chi tiết được được cụ thể hóa trong luật như: giao quyền và trách
nhiệm cụ thể cho cơ quan Hải quan. Cơ quan Hải quan là đầu mối quản lý và xử lý trong lĩnh
vực hải quan từ xử phạt VPHC đến xử lý hình sự. Luật còn qui định cụ thể về chế độ tuyển
dụng, đào tạo, hiện đại hóa, tiêu chuẩn, chính sách đãi ngộ cho công chức Hải quan…
- Hai là: Xây dựng lực lượng Hải quan bán vũ trang, đặc biệt có lực lượng Cảnh sát
Hải quan, Tỉnh báo Hải quan là những lực lượng vũ trang nòng cốt trong đấu tranh chống
buôn lậu và gian lận thương mại, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của TCHQ và Bộ Công an.
- Ba là: Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành.
Tổng hợp sức mạnh các khâu nghiệp vụ đặc biệt là khâu thu thập và sử lý thông tin.
Với mạng lưới thông tin rộng khắp trong và ngoài nước từ các nguồn thông quan và sau
thông quan.
- Bốn là: Kiểm tra sau thông quan thực chất là hoạt động kiểm toán hải quan. Lực
lượng này rất lớn gồm những kiểm toán viên chuyên nghiệp, được biên chế tại cơ quan Tổng
cục và các Cục Hải quan vùng.
- Năm là: Công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Là lực lượng vũ trang, có quyền tiến hành các hoạt động thu thập thông tin, điều tra
trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Là cơ quan duy nhất của Trung Quốc có quyền điều
tra xử lý tội buôn lậu và gian lận thương mại do đó không có sự chồng chéo giữa các ngành.
Tỉnh báo hải quan được biên chế có hệ thống từ Tổng cục đến các Cục Hải quan vùng và hải
quan cửa khẩu, ngoài ra lực lượng này còn có đại diện ở nhiều quốc gia khác với nhiệm vụ
thu thập thông tin tỉnh báo liên quan đến hoạt động Hải quan.
- Sáu là: Công tác quản lý rủi ro được Hải quan Trung Quốc hết sức quan tâm với xu
hướng chuyển đổi hình thức quản lý hải quan từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” của hầu hết các
nước tiên tiến nên hệ thống quản lý rủi ro của Hải quan Trung Quốc triển khai sớm, đến nay
hệ hống được xây dựng khá toàn diện với trang thiết bị và phương pháp quản lý hiện đại.
3.2. Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá hải quan
Việt Nam
3.2.1. Trong xây dựng pháp luật
- Xây dựng hoàn thiện từng bước hệ thống pháp luật để tạo hành lang pháp lý ổn định,
việc ứng dụng các phần mềm máy tính.
+ Thường xuyên hợp tác với Hải quan các nước trong công tác kiểm tra sau thông
quan, cập nhật các kiến thức kiểm toán, kế toán của Hải quan các nước.
+ Kiểm tra sau thông quan theo hình thức "ngẫu nhiên" trên cơ sở tính xác xuất rủi ro
của sự kiện.
+ Xây dựng các tiêu chí quy trình QLRR riêng cho kiểm tra sau thông quan.
+ Thực hiện việc phân công, phân cấp giữa các Cục Hải quan địa phương với Cục
kiểm tra sau thông quan.
3.2.7. Hoạt động của Tỉnh báo Hải quan ở trong và ngoài nước
- Nhận thức được tầm quan trọng của công tác Tỉnh báo trong hoạt động nghiệp vụ
hải quan từ đó xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật qui định cụ thể, phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của lực lượng tình báo hải quan.
- Xây dựng lực lượng tỉnh báo hải quan với bộ máy và biên chế hợp lý, hoạt động
thống nhất
- Đào tạo chuyên môn sâu, nghiệp vụ tỉnh báo cho lực lượng tỉnh báo hải quan.
- Mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng Tỉnh báo hải quan trên toàn phạm vi lãnh
thổ, và đặt đại diện tại các tổ chức quốc tế, các nước hoặc vùng lãnh
- Xây dựng qui chế phối hợp và cung cấp thông tin với Tỉnh báo hải quan các nước
- Trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cho hoạt động tình
báo hải quan
3.2.8. Cần có chế tài đủ mạnh trong công tác xử lý các hành vi vi phạm
- Tăng mức xử phạt đảm bảo tính răn đe.
- Bổ sung qui đinh chế tài xử phạt trong một số trường hợp còn thiếu đặc biệt trong
công tác giá.
3.2.9. Gắn cải cách hành chính với hiện đại hoá công tác hải quan
+ Hiện đại hoá phương pháp quản lý, áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp
vụ hải quan
+ Thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát thích hợp nhằm vừa đảm bảo quản lý được,
vừa không gây cản trở cho thương mại
+ Hiện đại hoá hệ thống hạ tầng cơ sở kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ công nghệ trong
tạp, đòi hỏi các nước phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị kỹ càng, đặc biệt là các nước trong giai
đoạn đầu thực hiện trong đó có Việt Nam. Việc nghiên cứu để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực XNK nói chung, công tác xác định trị giá hải quan
nói riêng trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Với mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận
văn đã hoàn thành và giải quyết được những vấn đề trọng tâm.
Một là, làm rõ được một số nội dung có liên quan đến khái niệm trị giá hải quan, các
phương pháp xác định trị giá hải quan, xác định được tầm quan trọng và tính tất yếu phải tăng
cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực trị giá hải quan.
Hai là, nghiên cứu, xem xét một số kinh nghiệm triển khai áp dụng hiệp định trị giá
GATT tại Trung Quốc, một nước có hoạt động ngoại thương phát triển cao trong những năm
gần đây. Đánh giá thực trạng công tác xác định trị giá hải quan ở Việt Nam để tìm ra những
tồn tại và nguyên nhân của nó.
Ba là, trên cơ sở các quy định, chuẩn mực của GATT/WTO, thực trạng việc xác
định trị giá hải quan của Trung Quốc để tìm đưa ra những điểm mới phù hợp với điều kiện
Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác xác định trị giá
hải quan ở Việt Nam, trong đó có một số giải pháp quan trọng là: Hoàn thiện hệ thống pháp
luật về hải quan theo hướng tăng cường quyền lực cho cơ quan Hải quan; Xây dựng lực
lượng hải quan bán vũ trang từng bước hiện đại, đảm bảo mục tiêu “chuyên nghiệp - minh
bạch - hiệu quả”; Xây dựng và đào tạo đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực đặc biệt trong
lĩnh vực trị giá, chống buôn lậu; Tăng cường hoạt động của lực lượng Tình báo, lực lượng
kiểm toán hải quan; Xây dựng cơ chế phối hợp trong và ngoài ngành đặc biệt với các hiệp hội
doanh nghiệp trong nước.
Với chủ trương hội nhập ngày một sâu rộng vào kinh tế thế giới và tuân thủ nguyên
tắc cơ bản “tận tâm, thiện chí” thực hiện cam kết quốc tế, Chúng ta cần triển khai đồng bộ
các giải pháp cơ bản nêu trên, là cơ sở để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác xác định
trị giá hải quan, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển ngoại
thương ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. References
15. Quốc hội (2001), Luật Hải quan, Hà Nội.
16. Quốc hội (2005), Luật Hải quan (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
17. Quốc hội (1991), Luật Thuế xuất nhập khẩu, Hà Nội.
18. Quốc hội (1998), Luật Thuế xuất nhập khẩu( sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
19. Quốc vụ viện Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (2000), Luật Hải quan, Bắc Kinh.
20. Quốc vụ viện Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (2003), Luật Thuế xuất nhập khẩu, Bắc
Kinh.
21. Nguyễn Đình Thiêm (2006), Bộ các văn kiện “Các cam kết của Việt Nam gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới - WTO”, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội.
22. Nguyễn Văn Tuấn (2008), Giáo trình thương mại quốc tế, Nxb Đại học kinh tế quốc
dân, Hà Nội.
23. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Cẩm nang giới thiệu pháp luật của Tổ chức Thương mại Thế
giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Tổ chức Hải quan thế giới (1997), Văn bản công ước Kyoto sửa đổi, Brussels.
25. Tổ chức Hải quan thế giới (1977), Công ước quốc tế về Trợ giúp lẫn nhau về mặt hành
chính trong việc ngăn ngừa, điều tra và ngăn chặn các hành vi vi phạm qui định về Hải
quan, Ký kết tại Nairobi ngày 9/6/1977.
26. Tổ chức Hải quan thế giới (1996), Hướng dẫn chung về Hiệp định xác định trị giá hải
quan WCO, Brusels.
27. Tổ chức Thương mại Thế giới (1994), Hiệp định về thực hiện Điều VII Hiệp định chung
về thuế quan và thương mại, Geneva.
28. Tổ chức Thương mại Thế giới (2002), Tuyển tập các tài liệu thảo luận tại các Cơ
quan của WTO về việc thực hiện các vấn đề liên quan đến xác định trị giá hải quan
- Tóm tắt của Ban thư ký, ngày 26/3/2002. WTO, Geneva.
29. Tổng cục Hải quan (2004), Hội nghị hợp tác hải quan Việt - Trung tổ chức từ ngày
17/10/2004 đến ngày 24/10/2004 tại Trung Quốc, Hà Nội.
30. Tổng cục Hải quan (2008), Báo cáo đoàn khảo sát qui trình thông quan của Hải quan
trung Quốc.